Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình
Giải phẫu vạt bẹn chi tiết ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình, kỹ thuật tiên tiến tái tạo mô hiệu quả.
Phẫu thuật tạo hình
Luan An
Số trang
143
Thời gian đọc
22 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan lịch sử phát triển vạt bẹn trong tạo hình
- Số trang:
- 143 trang
- Chuyên ngành:
- Phẫu thuật tạo hình
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan lịch sử phát triển vạt bẹn trong tạo hình
Vạt bẹn (Groin flap) là vạt tổ chức da cuống mạch trục nằm ở nếp bẹn. Vạt ra đời đánh dấu bước ngoặt lớn của ngành vi phẫu tái tạo thế giới. McGregor và Jackson mô tả vạt này lần đầu tiên vào năm 1972 dựa trên bó mạch mũ chậu nông. Kỹ thuật này thường được gọi là vạt McGregor trong y văn quốc tế. Năm 1973, Daniel và Taylor chuyển thành công vạt da bẹn tự do đầu tiên để che phủ khuyết hổng cẳng chân. Vùng bẹn cung cấp nguồn chất liệu dồi dào, da mềm mại, mỏng và đồng màu với nhiều vị trí. Nơi cho vạt được khâu đóng trực tiếp, để lại vết sẹo kín đáo ở nếp lằn bẹn tự nhiên. Tỷ lệ biến chứng và tổn thương nơi lấy vạt ở mức thấp nhất. Các nghiên cứu kinh điển của Taylor và Harii năm 1975 chứng minh vùng bẹn nhận máu nuôi từ động mạch mũ chậu nông (SCIA) và động mạch thượng vị nông (SIEA). Tại Việt Nam, nhiều chuyên gia như Nguyễn Huy Phan, Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Tài Sơn, Trần Thiết Sơn và Trần Văn Dương đã nghiên cứu, ứng dụng thành công kỹ thuật tạo hình này.
1.1. Nguồn gốc lịch sử và sự ra đời của vạt McGregor
Vạt McGregor ra đời năm 1972 mở ra kỷ nguyên mới cho phẫu thuật che phủ khuyết hổng phần mềm. Ban đầu, các phẫu thuật viên sử dụng vạt bẹn có cuống liền để phục hồi tổn thương phức tạp ở chi trên. Vạt bẹn có độ tin cậy cao nhờ nguồn cấp máu ổn định từ mạch mũ chậu nông. Năm 1973, kỹ thuật nối vi phẫu phát triển mạnh mẽ. Vạt bẹn nhanh chóng trở thành lựa chọn hàng đầu trong các phẫu thuật chuyển vạt tự do. Vùng cho vạt sở hữu ưu điểm vượt trội về mặt thẩm mỹ. Sẹo phẫu thuật được giấu kín hoàn hảo dưới nếp lằn quần áo. Vạt có thể thiết kế với kích thước rộng nhưng vẫn đảm bảo khâu đóng trực tiếp hai mép da mà không cần ghép da bổ sung.
1.2. Quá trình nghiên cứu và ứng dụng vạt bẹn tại Việt Nam
Nghiên cứu vạt bẹn tại Việt Nam ghi nhận nhiều đóng góp quan trọng của các thế hệ chuyên gia đầu ngành. Năm 1979, giáo sư Nguyễn Huy Phan tiên phong nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt da bẹn trên lâm sàng. Các tác giả Nguyễn Văn Huy và Nguyễn Tài Sơn tiếp tục làm rõ thêm đặc điểm mạch máu cuống vạt. Gần đây, tác giả Trần Văn Dương đẩy mạnh ứng dụng vạt bẹn tự do trong điều trị các khuyết hổng mô mềm phức tạp ở chi thể. Đa số công trình nghiên cứu trước đây tập trung vào động mạch mũ chậu nông (SCIA). Việc nghiên cứu chuyên sâu về động mạch thượng vị nông (SIEA) giúp mở rộng diện tích vạt an toàn và tối ưu hóa kết quả phẫu thuật tái tạo.
II. Đặc điểm giải phẫu động mạch mũ chậu nông vạt bẹn
Động mạch mũ chậu nông (SCIA) là nguồn cấp máu chính cho vạt bẹn kinh điển. Động mạch thường tách ra từ mặt trước động mạch đùi chung, dưới dây chằng bẹn khoảng 1 đến 3 cm. Tỷ lệ xuất phát độc lập chiếm đa số, một số ít trường hợp xuất phát chung thân với động mạch thượng vị nông (SIEA). Động mạch chạy hướng ra ngoài về phía gai chậu trước trên (ASIS). SCIA phân chia thành hai nhánh chính gồm nhánh nông và nhánh sâu trong phạm vi 1,5 cm cách nguyên ủy. Nhánh sâu đi dưới mạc đùi, bắt chéo thần kinh bì đùi ngoài, cấp máu cho cơ may (Sartorius) trước khi xuyên mạc ra nông. SCIA tạo mạng lưới thông nối phong phú với động mạch mũ chậu sâu, động mạch mông trên và động mạch thượng vị nông. Đường kính mạch dao động từ 1,0 đến 2,0 mm, rất thuận lợi cho miệng nối vi phẫu.
2.1. Đường đi và mối liên quan giải phẫu của SCIA
Động mạch mũ chậu nông (SCIA) nằm sâu dưới mạc đùi ở đoạn đầu nguyên ủy. Nhánh nông nhanh chóng đi vào lớp mỡ dưới da, chạy song song phía dưới dây chằng bẹn khoảng 2 cm. Nhánh sâu lớn hơn và luôn hiện diện trong 100% các trường hợp giải phẫu. Nhánh sâu tiếp tục chạy dưới mạc đùi hướng về gai chậu trước trên (ASIS). Nhánh này bắt chéo thần kinh bì đùi ngoài và tách các nhánh nuôi dưỡng cơ may (Sartorius). Sau đó, mạch xuyên qua mạc đùi ở bờ ngoài cơ may để cấp máu cho tổ chức da. Việc nắm vững mốc giải phẫu bờ ngoài cơ may giúp phẫu thuật viên tìm cuống mạch nhanh chóng, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương bó mạch chính.
2.2. Kích thước mạch và diện tích cấp máu của vạt bẹn
Đường kính trung bình của động mạch mũ chậu nông (SCIA) đạt từ 1,0 đến 2,0 mm tại gốc nguyên ủy. Kích thước này rất thích hợp cho kỹ thuật khâu nối mạch vi phẫu mạch máu nhỏ. Tĩnh mạch mũ chậu nông (SCIV) đi kèm động mạch hoặc nằm ở lớp nông hơn, dẫn lưu máu đổ về tĩnh mạch hiển lớn hoặc tĩnh mạch đùi. Vùng cấp máu của SCIA bao phủ toàn bộ vùng da và mô mỡ dưới da bẹn chậu. Trên lâm sàng, vạt da bẹn lớn nhất có thể bóc tách lên tới kích thước 22 x 31 cm mà vẫn sống hoàn toàn. Mạng lưới vi tuần hoàn phong phú giúp vạt da sống tốt ngay cả khi diện tích vạt vượt qua mốc gai chậu trước trên (ASIS).
III. Khảo sát giải phẫu hệ mạch thượng vị nông vạt bẹn
Động mạch thượng vị nông (SIEA) là nguồn cấp máu quan trọng thứ hai cho vùng bẹn và hạ vị. SIEA thường tách ra từ mặt trước động mạch đùi, dưới dây chằng bẹn khoảng 1 cm. Mạch có thể xuất phát riêng biệt hoặc có thân chung với động mạch mũ chậu nông (SCIA). Sau khi xuất phát, SIEA xuyên qua mạc sàng, chạy thẳng lên trên hướng về rốn trong tổ chức mô dưới da. Vạt da dựa trên trục động mạch thượng vị nông cung cấp vạt da mềm mại, thích hợp che phủ nhiều tổn thương. Tuy nhiên, tính biến thiên giải phẫu của SIEA tương đối cao. Động mạch đôi khi có kích thước nhỏ hoặc thiểu sản một bên. Khảo sát kỹ lưỡng giải phẫu hệ mạch thượng vị nông giúp phẫu thuật viên chủ động phối hợp cuống mạch, tăng cường lưu lượng máu và mở rộng vạt bẹn an toàn.
3.1. Đặc điểm nguyên ủy và đường đi của mạch SIEA
Động mạch thượng vị nông (SIEA) xuất phát từ động mạch đùi chung tại tam giác bẹn. Vị trí nguyên ủy thường nằm dưới dây chằng bẹn khoảng 0,5 đến 1,5 cm. Động mạch chạy hướng lên trên, vượt qua dây chằng bẹn tiến vào vùng hạ vị. SIEA đi trong lớp mỡ nông nằm giữa mạc Scarpa và da bụng trước. Các nhánh bên cấp máu cho da bụng và thông nối rộng rãi với hệ thống động mạch thượng vị sâu. Tĩnh mạch thượng vị nông đi kèm dẫn lưu tuần hoàn về tĩnh mạch hiển lớn. Nắm vững đường đi giải phẫu giúp phẫu tích vạt chuẩn xác, tránh làm tổn thương các nhánh xuyên nông quý giá trong quá trình bóc tách vạt.
3.2. Vai trò của SIEA trong mở rộng diện tích vạt bẹn
Động mạch thượng vị nông (SIEA) đóng vai trò phối hợp cấp máu quan trọng với động mạch mũ chậu nông (SCIA). Khi thiết kế vạt bẹn kích thước lớn vượt giới hạn, việc kết hợp cả hai hệ mạch giúp đảm bảo cấp máu toàn vẹn. Lưu lượng máu bổ sung từ SIEA giúp hạn chế hoại tử vùng ngoại vi của vạt. Trong trường hợp nhánh SCIA nhỏ hoặc bị tổn thương do phẫu thuật cũ, SIEA trở thành cuống mạch thay thế tin cậy. Phẫu thuật viên có thể chuyển vạt tự do dựa hoàn toàn vào cuống mạch SIEA để tái tạo vú hoặc che phủ các khuyết hổng mô mềm diện rộng trên cơ thể.
IV. Ứng dụng vạt bẹn có cuống và vạt bẹn tự do lâm sàng
Vạt bẹn mang lại giải pháp tái tạo phong phú trong phẫu thuật tạo hình mô mềm. Phẫu thuật viên có thể lựa chọn vạt bẹn có cuống liền hoặc vạt bẹn tự do vi phẫu tùy theo tổn thương. Vạt bẹn có cuống liền là phương pháp kinh điển, an toàn cao để che phủ khuyết hổng bàn tay, cổ tay và cẳng tay. Vùng tổn thương ở chi trên được cố định vào vùng bẹn trong 3 tuần trước khi cắt cuống vạt. Trong khi đó, vạt bẹn tự do kết hợp nối vi phẫu động mạch mũ chậu nông (SCIA) và tĩnh mạch mũ chậu nông (SCIV) với mạch máu nơi nhận. Kỹ thuật này giải phóng người bệnh khỏi tư thế bất động, đồng thời xử lý triệt để khuyết hổng mô mềm phức tạp ở chi dưới, đầu mặt cổ hoặc tái tạo sau cắt bỏ khối u.
4.1. Kỹ thuật chuyển vạt bẹn có cuống điều trị chi trên
Vạt bẹn có cuống liền đảm bảo độ an toàn vượt trội khi điều trị khuyết hổng phần mềm chi trên. Phẫu thuật viên thiết kế vạt hình elip dọc theo trục từ động mạch đùi đến gai chậu trước trên (ASIS). Quá trình bóc tách vạt tiến hành từ ngoài vào trong, tôn trọng lớp mạc cơ may (Sartorius). Cuống mạch chứa động mạch mũ chậu nông (SCIA) được giữ lại nguyên vẹn. Sau khi chuyển vạt khâu che phủ tổn thương ở bàn tay, phần cuống vạt được cuốn ống nhằm bảo vệ mạch máu nuôi. Sau 3 tuần, mạng lưới mạch tại nơi nhận phát triển đầy đủ, phẫu thuật viên thực hiện cắt cuống vạt an toàn.
4.2. Chuyển vạt bẹn tự do tái tạo khuyết hổng phức tạp
Vạt bẹn tự do vi phẫu cho phép phục hồi các tổn thương ở xa trong một thì phẫu thuật duy nhất. Cuống mạch SCIA và tĩnh mạch mũ chậu nông (SCIV) được phẫu tích tỉ mỉ để đạt chiều dài tối đa. Phẫu thuật viên tiến hành nối mạch vi phẫu cuống vạt với động mạch và tĩnh mạch tại nơi nhận dưới kính hiển vi phẫu thuật. Vạt bẹn tự do đặc biệt hiệu quả trong che phủ lộ xương, lộ gân tại cẳng chân, bàn chân và vùng đầu cổ. Kỹ thuật này rút ngắn thời gian nằm viện, ngăn ngừa biến chứng co rút khớp và giúp người bệnh sớm phục hồi chức năng vận động.
V. Xu hướng phát triển vạt SCIP trong phẫu thuật tái tạo
Vạt SCIP (Superficial Circumflex Iliac Perforator) là bước tiến hiện đại của kỹ thuật vạt bẹn truyền thống. Phương pháp này dựa trên các nhánh xuyên siêu vi của động mạch mũ chậu nông (SCIA) đi qua mạc đùi. Kyoichi Matsuzaki và Isao Koshima phát triển vạt SCIP nhằm tối ưu hóa độ dày vạt và độ dài cuống mạch. Vạt SCIP có độ mỏng lý tưởng, có thể lấy theo dạng vạt da siêu mỏng hoặc vạt chỉ gồm biểu bì và trung bì. Quá trình bóc tách hạn chế tối đa xâm lấn cơ may (Sartorius), bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc thành bẹn. Vạt SCIP hiện được ứng dụng rộng rãi trong tái tạo ngón tay, mu bàn chân, vùng mí mắt và sàn miệng.
5.1. Ưu điểm vượt trội của vạt nhánh xuyên SCIP
Vạt SCIP (Superficial Circumflex Iliac Perforator) sở hữu nhiều ưu điểm đột phá so với vạt bẹn kinh điển. Vạt có độ mỏng tự nhiên do phẫu thuật viên chỉ lấy lớp mô mỡ nông, tránh tình trạng phồng cộm tại nơi nhận. Cuống mạch nhánh xuyên dài, tạo độ linh hoạt cao khi xoay chuyển và nối vi phẫu. Đường mổ tại vùng cho vạt ngắn, không làm tổn hại dây chằng bẹn và lớp cơ sâu. Người bệnh phục hồi thể lực nhanh chóng và ít đau sau mổ. Sẹo mổ nơi lấy vạt phẳng đẹp, được giấu kín hoàn toàn trong nếp gấp bẹn tự nhiên, đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ tối đa.
5.2. Các lưu ý giải phẫu khi phẫu tích vạt nhánh xuyên SCIP
Phẫu tích vạt SCIP đòi hỏi kỹ thuật vi phẫu chuẩn xác và sự am hiểu tường tận về các mốc giải phẫu. Nhánh xuyên thường xuất phát ở bờ ngoài cơ may (Sartorius) hoặc lân cận gai chậu trước trên (ASIS). Phẫu thuật viên cần sử dụng siêu âm Doppler mạch máu trước mổ nhằm định vị chính xác vị trí nhánh xuyên. Trong lúc phẫu tích, cần thao tác cẩn trọng quanh nhánh xuyên và tĩnh mạch mũ chậu nông (SCIV) đi kèm, ngăn ngừa co thắt mạch. Ngoài ra, việc bảo tồn thần kinh bì đùi ngoài giúp phòng tránh triệt để biến chứng tê bì hoặc rối loạn cảm giác vùng đùi trước ngoài.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (143 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Vạt bẹn (Groin flap) là một vạt tổ chức nằm ở vùng bẹn. Vạt có nguồn cấp máu từ động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông là hai mạch máu tiêu biểu cho vùng này. Vạt bẹn dựa trên hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông được Mc Gregor và Jackson mô tả năm 1972 [1],[2]. Daniel và Taylor năm 1973 đã thực hiện thành công chuyển một vạt da bẹn tự do che phủ khuyết hổng ở cẳng chân và vạt bẹn đã trở thành một trong những vạt tự do đầu tiên [3].
Đến năm 1975, qua rất nhiều các công trình nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng các tác giả Taylor và Harii đều khẳng định quan điểm cho rằng vạt bẹn có 2 động mạch: động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông cấp máu và cần phải lựa chọn động mạch nào lớn hơn để nối mạch vi phẫu [4],[5]. Vạt động mạch thượng vị nông là vạt da vùng bụng dưới có cuống mạch là bó mạch thượng vị nông. Vạt đã được sử dụng từ năm 1862 cùng với các vạt da bụng khác theo kiểu vạt ngẫu nhiên. Đến năm 1976, vạt động mạch thượng vị nông chính thức ra đời với công bố nghiên cứu của tác giả Boeck là loại vạt mẫu trục.
Năm 1991, tác giả Grotting người Mỹ đã lần đầu tiên sử dụng vạt động mạch thượng vị nông tự do để tái tạo vú [6]. Nhưng sau đó vạt ít được quan tâm sử dụng do sự lo ngại về tính không hằng định giải phẫu của cuống mạch. Vùng bẹn là nơi cung cấp chất liệu vạt có nhiều ưu thế do nguồn chất liệu dồi dào và phù hợp với nhiều nơi nhận trên cơ thể, lại gây tổn thương rất ít tại nơi lấy vạt. Vạt có ưu điểm về chất liệu phong phú, nơi cho vạt được giấu kín, vùng lấy vạt được khâu da trực tiếp, kỹ thuật đơn giản và đặc biệt là ưu thế của nó về kết quả thẩm mỹ tại cả nơi nhận vạt và nơi cho vạt với tổn thương nơi lấy vạt ở mức thấp nhất [7].
Theo các y văn trên thế giới và trong nước, động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông đã được mô tả khá kỹ song chủ yếu tập trung vào mô tả nguyên ủy, định hướng, liệt kê nhánh bên, nhánh tận và chi phối. Hơn nữa, vấn 2 đề mối tương quan giữa hệ mạch mũ chậu nông và thượng vị nông cấp máu cho vạt bẹn vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược chưa được giải thích thỏa đáng. Ở Việt Nam, có rất nhiều tác giả nghiên cứu đặc điểm giải phẫu vạt vùng bẹn: như Nguyễn Huy Phan nghiên cứu vạt da bẹn năm 1979 [8], nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy năm 1999 [9], Nguyễn Tài Sơn năm 2005 [10], Trần Thiết Sơn năm 2009 [11], và gần đây nhất là nghiên cứu của Trần Văn Dương về ứng dụng vạt bẹn tự do trong điều trị khuyết hổng mô mềm [12],[13] … Những kết quả nghiên cứu trên đã giải thích về giải phẫu và ứng dụng vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình. Tuy nhiên các nghiên cứu đều chỉ tập trung vào các mạch mũ chậu nông, các khía cạnh liên quan đến các mạch thượng vị nông chưa được làm rõ.
Hiện nay ở Việt Nam chưa thấy có báo cáo nào về vai trò của động mạch thượng vị nông trong việc tăng khả năng cấp máu để mở rộng vạt bẹn cũng như về sự lựa chọn động mạch thượng vị nông làm cuống mạch của vạt bẹn. Trước thực tế trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và ứng dụng mạch thượng vị nông nhằm mở rộng áp dụng vạt bẹn một cách có hiệu quả để phẫu thuật tạo hình điều trị những khuyết phần mềm là một nhu cầu thực tiễn, mang tính thời sự và có ý nghĩa khoa học. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Khảo sát giải phẫu mạch máu vạt bẹn trên người Việt trưởng thành.
Đối chiếu giải phẫu vạt bẹn với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông 1. Động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN) [14],[15],[16] Nguyên uỷ và các dạng thân chung Giải phẫu kinh điển mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước động mạch đùi tại vị trí khoảng 1-3 cm dưới dây chằng bẹn (DCB), nhưng lại không đề cập đến tình trạng xuất phát riêng hay có thân chung với động mạch thượng vị nông (ĐMTVN) như thế nào.
Đường đi - Liên quan - ĐM chạy về phía gai chậu trước trên ở dưới mạc đùi và thường chia thành hai nhánh nông và sâu trong phạm vi 1,5 cm cách nguyên ủy. Nhánh nông chạy ngay vào mô dưới da và đi song song phía dưới DCB khoảng 2 cm. Nhánh sâu tiếp tục đi dưới mạc đùi theo hướng song song với DCB và dưới DCB 1,5 cm. Nó bắt chéo thần kinh bì đùi ngoài, tách các nhánh vào cơ may rồi xuyên qua mạc đùi ở bờ ngoài cơ may.
Từ đây, nó tiếp tục đi ra ngoài trong mô dưới da và tách các nhánh nhỏ đi vào mào chậu. Nhánh sâu to hơn và có mặt ở 100% trường hợp [17]. Nhánh sâu có thể chỉ còn là một nhánh nhỏ sau khi đi qua mạc đùi hoặc có thể hoàn toàn đi dưới mạc đùi. Kích thước Y văn kinh điển ghi nhận ĐMMCN có đường kính trung bình khoảng 1-2 mm.
Thông nối ĐMMCN thông nối với các nhánh của ĐM mũ chậu sâu, ĐM cơ căng mạc đùi, ĐMTVN, ĐM mông trên. 4 Diện tích cấp máu ĐMMCN cấp máu cho da và tổ chức dưới da vùng bẹn. Các kích thước vạt da bẹn dựa trên ĐMMCN lớn nhất được lấy trên lâm sàng là 22 x 31cm theo Strauch [18] và 18 x 28 cm theo Webster [19], lớn hơn rất nhiều so với vùng nhuộm màu lớn nhất trên xác tươi (13 x 20 cm) [20]. Theo các công trình nghiên cứu Thông tin về các đặc điểm giải phẫu của ĐMMCN vẫn còn nhiều khác biệt giữa các thời kỳ.
Trước đây, ĐMMCN vẫn được coi là kém hằng định về giải phẫu và thường được cho là nhỏ, nhưng các nghiên cứu trong những năm gần đây lại cho thấy nó có tỷ lệ sự hiện diện cao và kích thước ĐM được cho là đủ lớn cho nối vi phẫu, đủ điều kiện để làm cuống vạt cho vạt bẹn tự do, kể cả vạt tự do mạch xuyên ĐMMCN. Năm 1979, Nguyễn Huy Thọ đã phẫu tích 25 vạt da bẹn đã ghi nhận ĐMMCN trực tiếp tách riêng ra từ ĐM đùi trong 16 tiêu bản, từ ĐM đùi nông 4 tiêu bản và có thân chung với ĐMTVN 5 tiêu bản. Kích thước trung bình ĐMMCN ở đoạn gốc là 1,35 ± 0,32 mm [8]. Nghiên cứu của Strauch B.
và Yu HL [18] mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước ĐM đùi ở khoảng 3cm dưới DCB, 48% trường hợp ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung; 52% có thân riêng, ĐMMCN có đường kính trung bình 1,4 mm (0,8 – 3,0 mm). Theo Katai và cộng sự (cs) [21] nghiên cứu trên 50 tiêu bản, ĐMMCN hiện diện trong 50/50 trường hợp, 63,6% ĐMMCN có thể tách ra có thân riêng và 36,4% có thân chung với ĐMTVN. Nếu có thân riêng thì ĐMMCN thường ở xa hơn ĐMTVN 1 - 2 cm tính từ DCB, đường kính ĐMMCN trung bình là 1,6 ± 0,4 mm. Trong nghiên cứu giải phẫu của Cassio V Penteado [22] trên 61 tiêu bản (43 xác cố định formol) từ 2 bên bẹn (29 bên phải và 32 bên trái) của cả hai giới người trưởng thành (48 nam và 13 nữ), da trắng, da đen, lứa tuổi khác 5 nhau 30-70 tuổi.
Kết quả cho thấy các mẫu đều có sự hiện diện ĐMMCN, tỷ lệ tách trực tiếp từ ĐM đùi là 83,3% số trường hợp. Số còn lại 16,7%, có thể tách từ ĐMMCS (6,6%), từ ĐM mũ đùi ngoài (ĐMMĐN) (6,6%) và từ ĐM đùi sâu (ĐMĐS) (3,3%). ĐMMCN phát sinh từ một thân chung với ĐMTVN chiếm 41,7% điểm xuất phát của ĐMMCN từ ĐM đùi nằm ở mức 1,4 cm dưới DCB, đường đi của ĐMMCN là gần như song song với DCB. Chuang và cs [23] nghiên cứu trên mẫu 73 vạt bẹn tự do thấy tỷ lệ hiện diện ĐMMCN là 100%, ĐMMCN tách trực tiếp từ ĐM đùi ở khoảng 2 – 3cm phía dưới DCB trong 58% trường hợp, hoặc tách từ thân chung với ĐMTVN trong 32% trường hợp.
Đường kính ĐM trung bình 1 mm, chiều dài cuống mạch trung bình 4 – 7 cm. Dong Hoon Choi và cs [24] vi phẫu tích làm mỏng vạt bẹn che phủ khuyết hổng vùng hàm mặt cho 6 bệnh nhân, thấy tỉ lệ hiện diện của ĐMMCN là 100%, đường kính trung bình 0,7 mm, cuống mạch dài trung bình là 4,6 cm. Raphael Sinna và cs [25] nghiên cứu với mẫu 20 tiêu bản thấy tỉ lệ ĐMMCN hiện diện 20/20 (100%), đường kính ĐM trung bình 1,9 0,6 mm, khoảng cách từ gốc đến DCB khoảng 3,2 cm; 5 trường hợp gốc cách điểm giữa DCB trong vòng 1cm, trong vòng 2 cm có 7 trường hợp và 18 trường hợp có thân chung với ĐMTVN. Sol và CS (2013) [26] nghiên cứu trên 68 tiêu bản của 34 xác ướp formol, kết quả cho thấy ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi là 69,12%, còn lại 30,88% tách ra từ ĐMMĐN, ĐM mũ chậu sâu, ĐMĐS.
ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung là 20,59%. Khi ĐMMCN và ĐMTVN có nguyên ủy riêng biệt từ ĐM đùi, đường kính trung bình của ĐMMCN là 1,42 mm. Trong trường hợp chỉ có ĐMMCN mà không có ĐMTVN, với những trường hợp tách từ ĐM đùi thì đường kính trung bình của ĐMMCN tại nguyên ủy là 1,35 mm (0,9 – 2 mm). 6 Nguyễn Văn Huy [9] khảo sát trên 56 tiêu bản phẫu tích vùng bẹn thấy ĐMMCN hiện diện ở 56/56 tiêu bản, ĐMTVN hiện diện ở 38/56 tiêu bản (67,8%), một trường hợp có 2 ĐMMCN.
Tác giả coi bất cứ nhánh da nào từ ĐM đùi chạy về phía gai chậu trước trên theo hướng song song với DCB là ĐMMCN, những ĐM da chạy lên da bụng và bắt chéo DCB trong phạm vi 3 cm ngoài điểm giữa DCB là ĐMTVN. ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi gặp ở 43/56 tiêu bản (76,8%), từ các nhánh của ĐM chậu ngoài và ĐM đùi gặp ở 13/56 tiêu bản.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/ngoai-khoa/nghien-cuu-giai-phau-mach-mau-vat-ben-va-ung-dung-trong-phau-thuat-tao-hinh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" nghiên cứu về vấn đề gì?
Giải phẫu vạt bẹn chi tiết ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình, kỹ thuật tiên tiến tái tạo mô hiệu quả.
Luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" thuộc chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình. Danh mục: Ngoại Khoa.
Luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" có bao nhiêu trang?
Luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" có 143 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Giải phẫu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.