Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình

Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình. Khám phá chi tiết cấu trúc mạch máu, tối ưu hóa quy trình phẫu thuật.

Chuyên ngành

Phẫu thuật tạo hình

Tác giả

Luan An

Số trang

137

Thời gian đọc

21 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Giải phẫu định khu vùng thái dương và động mạch nông
Số trang:
137 trang
Chuyên ngành:
Phẫu thuật tạo hình
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Giải phẫu định khu vùng thái dương và động mạch nông

Hệ mạch thái dương giữ vai trò thiết yếu trong phẫu thuật tái tạo. Vùng đầu mặt chứa nhiều cấu trúc giải phẫu phức tạp. Tổn thương phần mềm do chấn thương hay dị tật luôn là thách thức lớn. Việc hiểu rõ giải phẫu định khu vùng thái dương giúp nâng cao tỷ lệ sống của vạt mô. Động mạch thái dương nông cung cấp nguồn mạch nuôi dưỡng dồi dào. Mạch máu này nuôi sống nhiều loại tổ chức từ da, cân đến màng xương. Các phẫu thuật viên có thể linh hoạt thiết kế vạt cuống liền hoặc vạt tự do. Kiến thức giải phẫu chính xác giảm thiểu nguy cơ tai biến mạch máu. Cuống mạch dài và khẩu kính phù hợp tạo điều kiện thuận lợi khi phẫu tích. Vùng thái dương trở thành chất liệu tạo hình lý tưởng cho các tổn khuyết.

1.1. Nguyên ủy và đường đi của động mạch thái dương nông

Động mạch thái dương nông là một trong hai nhánh tận của động mạch cảnh ngoài. Vị trí phân chia xuất hiện ngang mức cổ lồi cầu xương hàm dưới. Thân động mạch nằm sâu khoảng 25 milimet so với bề mặt da. Mạch máu chạy giữa thùy nông và thùy sâu của tuyến mang tai. Nhánh trán của dây thần kinh mặt bắt chéo phía trước động mạch. Sau khi rời tuyến mang tai, động mạch đi thẳng lên trên trước sụn nắp tai. Thân mạch chạy qua bao khớp thái dương hàm và tiến dần ra lớp nông. Đường kính mạch máu thay đổi theo từng cá thể nhưng duy trì kích thước đủ lớn cho miệng nối vi phẫu. Vị trí giải phẫu ổn định giúp việc định vị cuống mạch trở nên dễ dàng.

1.2. Phân đoạn giải phẫu định khu vùng thái dương chi tiết

Đường đi của động mạch được chia làm ba đoạn giải phẫu rõ rệt. Đoạn đầu tiên nằm trong mô tuyến mang tai với chiều dài khoảng 15 milimet. Đoạn thứ hai nằm sâu dưới da với chiều dài trung bình 30 milimet. Ở đoạn này, động mạch uốn lượn hình chữ S theo bình diện thẳng đứng. Đoạn thứ ba chạy trên mặt nông của lớp cân thái dương. Phía trên gờ luân khoảng 2 centimet, thân động mạch chia thành hai nhánh tận. Chiều dài thân chính động mạch dao động từ 2 đến 4 centimet tính từ bờ trên cung gò má. Sự phân đoạn này tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch bóc tách cuống mạch. Phẫu thuật viên có thể chọn vị trí can thiệp tối ưu tùy theo yêu cầu vạt.

1.3. Các nhánh bên quan trọng cấp máu cho tổ chức xung quanh

Đoạn ngoài tuyến mang tai tách ra nhiều nhánh bên có giá trị lâm sàng cao. Động mạch tai trước xuất phát từ mặt sau và phân chia nuôi cơ trước tai cùng vành tai. Nhánh này xuất hiện ở 90% trường hợp với đường kính ổn định. Động mạch thái dương giữa, hay động mạch thái dương sâu, chạy dọc trong lớp cân thái dương sâu. Nhánh mạch này cấp máu cho cơ thái dương và nối tiếp với các nhánh hàm trong. Động mạch tai trên nuôi dưỡng phần trên vành tai và vùng da đầu lân cận. Hệ thống nhánh bên phong phú này tạo mạng lưới tuần hoàn bàng hệ dày đặc. Nhờ đó, việc huy động các vạt cơ cân tại chỗ luôn bảo đảm nguồn cấp máu an toàn.

II. Các nhánh động mạch thái dương nông và tĩnh mạch đi kèm

Sự phân nhánh tận của động mạch quyết định kích thước và trục của vạt chuyển. Nhánh trán và nhánh đỉnh tạo nên hai trục cấp máu độc lập cho vùng đỉnh trán. Phẫu thuật viên dựa vào các trục này để lấy vạt da mang tóc hoặc vạt cân mỏng. Mối liên quan giữa động mạch và tĩnh mạch vùng thái dương có nhiều đặc điểm đặc thù. Tĩnh mạch không hoàn toàn chạy sát động mạch như mô tả kinh điển. Sự tách rời giữa động mạch và tĩnh mạch ở phần cao đòi hỏi kỹ thuật bóc tách tỉ mỉ. Phẫu tích sai mặt phẳng có thể làm tổn thương tĩnh mạch dẫn lưu. Nắm vững đường đi của từng nhánh giúp bảo tồn trọn vẹn tuần hoàn vạt.

2.1. Đặc điểm nhánh trán động mạch thái dương nông

Nhánh trán động mạch thái dương nông chạy hướng ra phía trước về vùng trán. Nhánh này cấp máu cho da trán, cơ trán và cân nông trên ổ mắt. Mạch máu nối tiếp với động mạch trên ổ mắt và động mạch trên ròng rọc. Vạt da nhánh trán thường được ứng dụng để tái tạo khuyết hổng gò má, mũi và mí mắt. Kích thước mạch máu đủ lớn giúp vạt sống tốt dưới dạng vạt đảo hoặc vạt có cuống. Da vùng trán mỏng, màu sắc tương đồng với da mặt nên bảo đảm tính thẩm mỹ. Phẫu thuật viên cần bảo vệ nhánh trán của dây thần kinh số VII nằm cùng bình diện giải phẫu. Thiết kế vạt chính xác theo trục nhánh trán hạn chế tối đa nguy cơ hoại tử bờ vạt.

2.2. Đặc điểm nhánh đỉnh động mạch thái dương nông

Nhánh đỉnh động mạch thái dương nông tiếp tục chạy thẳng lên trên đỉnh đầu. Mạch máu phân nhánh rộng rãi trong lớp cân thái dương đỉnh và mô dưới da mang tóc. Nhánh đỉnh nối tiếp với động mạch chẩm và động mạch tai sau ở phía đối bên. Trục mạch này là nền tảng giải phẫu để thiết kế các vạt da đầu mang tóc. Ứng dụng phổ biến gồm tạo hình đường chân tóc, tái tạo lông mày và che phủ da đầu. Chiều dài cuống mạch nhánh đỉnh cho phép xoay vạt linh hoạt đến nhiều vị trí khuyết hổng. Mô vạt có độ co giãn tốt và khả năng tưới máu cao. Đây là lựa chọn hàng đầu khi cần tái tạo khuyết hổng lớn vùng sọ mặt.

2.3. Tương quan tĩnh mạch thái dương nông và nguy cơ ứ trệ

Tĩnh mạch thái dương nông đóng vai trò hồi lưu máu duy nhất cho toàn bộ hệ vạt. Nghiên cứu mạch học hiện đại chỉ ra tĩnh mạch không phải lúc nào cũng là tĩnh mạch tùy hành. Càng lên cao, tĩnh mạch càng tách xa khỏi trục động mạch tương ứng. Tĩnh mạch nhánh trán và nhánh đỉnh chỉ là mạch máu cùng tên, không đi kèm sát động mạch. Hiện tượng ứ trệ tĩnh mạch sau mổ bắt nguồn từ việc bỏ sót thân tĩnh mạch khi phẫu tích. Phẫu thuật viên phải mở rộng phẫu trường để lấy trọn thân tĩnh mạch chính. Đảm bảo đường kính miệng nối tĩnh mạch đủ lớn là chìa khóa chống tắc mạch sau mổ vi phẫu.

III. Ứng dụng vạt TPF temporoparietal fascia flap vùng mặt

Vạt TPF (temporoparietal fascia flap) là chất liệu vàng trong phẫu thuật tái tạo đầu mặt. Đây là vạt cân mỏng, mềm mại và có mạng lưới mao mạch cực kỳ phong phú. Cân thái dương đỉnh nằm ngay dưới lớp mỡ dưới da và trên cân thái dương sâu. Vạt có khả năng uốn lượn và bọc quanh các cấu trúc giải phẫu phức tạp. Khả năng nuôi sống mảnh ghép da mỏng trên bề mặt vạt đạt tỷ lệ rất cao. Vạt cân thái dương nông có thể kết hợp với mào xương sọ để tạo vạt ghép phức hợp. Vị trí lấy vạt kín đáo, không để lại sẹo xấu trên khuôn mặt. Kỹ thuật bóc tách chuẩn xác giúp bảo toàn chức năng vận động của nhánh thần kinh mặt lân cận.

3.1. Cấu trúc cân thái dương đỉnh trong tạo hình thẩm mỹ

Cân thái dương đỉnh là phần tiếp nối của hệ thống cân nông vùng mặt (SMAS). Lớp cân này có độ dày từ 2 đến 3 milimet nhưng rất dẻo dai. Mạng lưới vi mạch bên trong cân duy trì lưu lượng máu ổn định cho mô ghép. Cấu trúc mô học này lý tưởng để bọc khung sụn vành tai trong tái tạo tai biến dạng. Cân thái dương đỉnh cũng được dùng để che phủ gân, dây thần kinh và xoang hốc mắt. Lớp cân lướt êm ái trên cân sâu giúp tạo hình các bề mặt cử động linh hoạt. Nhờ độ mỏng tối ưu, vạt không gây phồng mô hay biến dạng đường nét khuôn mặt sau phẫu thuật.

3.2. Kỹ thuật bóc tách vạt cân thái dương nông an toàn

Phẫu tích vạt cân thái dương nông đòi hỏi kỹ thuật tỉ mỉ và độ phóng đại vi phẫu. Đường rạch da thường theo hình chữ T, chữ Y hoặc ziczac trong vùng chân tóc. Đường rạch này giấu sẹo hoàn hảo sau khi vết mổ liền da. Phẫu thuật viên bóc tách lớp da đầu sát gốc chân tóc để tránh làm tổn thương bao tóc. Mặt phẳng bóc tách nằm giữa lớp mỡ nông và lớp cân thái dương nông. Cần xác định rõ cuống động mạch và tĩnh mạch thái dương nông trước khi nâng vạt. Tránh dùng dao điện công suất lớn để không làm bỏng cuống mạch nuôi. Sau khi nâng vạt, tiến hành đóng vết mổ dưới da mà không gây căng mép da đầu.

3.3. Biến thể vạt tổ chức phức hợp từ hệ mạch thái dương

Hệ mạch thái dương cho phép lấy nhiều dạng vạt phức hợp chứa nhiều loại mô khác nhau. Vạt da cân kết hợp cung cấp cùng lúc lớp che phủ da và lớp đệm bảo vệ. Vạt cân cơ gồm cân thái dương đỉnh gắn liền cơ thái dương tăng cường thể tích mô khuyết. Vạt cân xương lấy kèm bản ngoài xương đỉnh sọ hỗ trợ tái tạo sàn hốc mắt hoặc hàm. Vạt da đầu mang tóc giúp tạo hình lông mày hoặc đường chân tóc bị biến dạng do bỏng. Các vạt phức hợp này được cấp máu đồng thời bởi các nhánh tận của động mạch thái dương nông. Khả năng thích ứng đa dạng giúp phẫu thuật viên phục hồi toàn diện cả chức năng lẫn hình thái tổn khuyết.

IV. Tái tạo khuyết hổng đầu mặt cổ bằng kỹ thuật vi phẫu

Phẫu thuật tạo hình vi phẫu mở ra bước tiến vượt bậc trong xử lý tổn khuyết phức tạp. Vùng đầu mặt cổ thường xuyên chịu tổn thương do ung thư, bỏng lửa hoặc tai nạn giao thông. Tái tạo khuyết hổng đầu mặt cổ đòi hỏi sự phục hồi chính xác về giải phẫu và thẩm mỹ. Các vạt mô từ hệ mạch thái dương nông đáp ứng trọn vẹn các tiêu chí khắt khe này. Phẫu thuật viên có thể chuyển vạt cuống liền xoay tại chỗ hoặc ghép vạt tự do vi phẫu. Cuống mạch dài tạo góc xoay rộng đến vùng trán, má, cằm và hốc mắt. Miệng nối mạch máu chuẩn xác dưới kính hiển vi bảo đảm tỷ lệ thành công tuyệt đối cho ca mổ.

4.1. Chỉ định phẫu thuật tạo hình vi phẫu vùng đầu mặt

Phẫu thuật tạo hình vi phẫu được chỉ định cho các khuyết hổng sâu và phức tạp. Tổn thương lộ xương sọ, lộ màng cứng hoặc mất cấu trúc vành tai cần vạt cân che phủ. Vạt thái dương là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân mất chất sau cắt bỏ khối u ác tính. Các trường hợp dính sẹo co kéo sau bỏng vùng cổ mặt cũng hưởng lợi từ vạt cân TPF. Vạt tự do được huy động khi khuyết hổng nằm ngoài bán kính xoay của cuống mạch liền. Khẩu kính mạch thái dương tương thích cao với các mạch nhận tại vùng mặt và cổ. Chỉ định can thiệp sớm giúp bảo vệ các cơ quan quan trọng và nâng cao chất lượng sống bệnh nhân.

4.2. Tái tạo khuyết hổng đầu mặt cổ bằng vạt cuống liền

Vạt cuống liền là phương pháp truyền thống nhưng mang lại độ tin cậy vượt trội. Phẫu thuật viên thiết kế vạt có trục quay quanh chân cuống mạch trước nắp tai. Vạt có thể luồn dưới da qua hầm mô mềm để đến vị trí khuyết hổng gò má hoặc miệng. Chiều dài cuống mạch cho phép vạt vươn tới hầu hết các đơn vị thẩm mỹ nửa trên mặt. Thời gian phẫu thuật vạt cuống liền ngắn hơn do không cần nối mạch máu vi phẫu. Tỷ lệ sống của vạt cuống liền đạt trên 95% khi cuống mạch không bị gập góc hoặc chèn ép. Phương pháp này giảm thiểu rủi ro tắc mạch và rút ngắn thời gian hồi phục của người bệnh.

4.3. Phương pháp chuyển vạt tự do trong phục hồi tổn thương

Chuyển vạt tự do là kỹ thuật cắt rời hoàn toàn vạt mô và nối mạch tại nơi nhận. Phẫu thuật viên sử dụng kính vi phẫu để nối động mạch và tĩnh mạch với mạch máu vùng nhận. Vạt cân thái dương nông tự do thường được ghép cho khuyết hổng bàn tay, bàn chân hoặc hốc mắt. Bề mặt vạt mỏng tạo điều kiện cho gân trượt trơn tru mà không bị dính sẹo. Quá trình phẫu thuật đòi hỏi phẫu thuật viên có kỹ năng nối mạch máu siêu vi tinh xảo. Kiểm tra tuần hoàn mao mạch và Doppler sau mổ giúp phát hiện sớm nguy cơ huyết khối. Khi tuần hoàn ổn định, vạt tự do thích nghi hoàn hảo với nền mô nhận mới.

V. Đánh giá hiệu quả lâm sàng của vạt cân thái dương nông

Đánh giá kết quả lâm sàng chứng minh tính ưu việt của vạt cân thái dương nông. Vạt cung cấp nguồn mô dồi dào, tỷ lệ sống cao và ít gây tàn phá nơi cho. Phẫu thuật viên dễ dàng kiểm soát quá trình bóc tách nhờ giải phẫu vùng thái dương tương đối ổn định. Chất lượng tái tạo đáp ứng tốt cả yêu cầu cơ học lẫn giá trị thẩm mỹ khuôn mặt. Tỷ lệ biến chứng hoại tử vạt thấp nếu quy trình phẫu thuật tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật vi phẫu. Việc theo dõi sát dòng chảy mạch máu sau mổ giúp phát hiện kịp thời các rối loạn tưới máu. Vạt thái dương xứng đáng là lựa chọn hàng đầu trong phẫu thuật tái tạo hiện đại.

5.1. Ưu điểm thẩm mỹ và độ giấu sẹo tại vị trí cho vạt

Ưu điểm lớn nhất của vạt thái dương nông là tính thẩm mỹ tối ưu tại nơi lấy vạt. Toàn bộ sẹo mổ nằm hoàn toàn trong vùng da đầu mang tóc. Tóc mọc lại bình thường che phủ toàn bộ đường rạch sau vài tháng hồi phục. Vùng lấy vạt không bị lõm sâu nhờ lớp cơ thái dương bên dưới được giữ nguyên vẹn. Mảnh ghép da đặt trên vạt cân thái dương đỉnh bám dính nhanh và có màu sắc tự nhiên. Độ dày vạt mỏng tương thích hoàn hảo với độ dày da mí mắt, mũi và vành tai. Bệnh nhân nhanh chóng lấy lại diện mạo tự nhiên và giảm bớt gánh nặng tâm lý sau phẫu thuật.

5.2. Biến chứng tuần hoàn và biện pháp phòng ngừa hiệu quả

Ứ trệ tĩnh mạch và tổn thương nhánh thần kinh mặt là hai biến chứng đáng lưu ý nhất. Nguyên nhân gây ứ trệ bắt nguồn từ việc bóc tách tĩnh mạch không đủ chiều dài cuống. Bó tĩnh mạch bị xoắn vặn hoặc bị đè ép dưới đường hầm da cũng gây cản trở hồi lưu. Phẫu thuật viên cần tạo đường hầm đủ rộng và kiểm tra độ thông thoáng của cuống mạch trước khi đóng da. Việc nhận diện nhánh trán dây thần kinh VII trong quá trình mổ giúp tránh liệt cơ trán. Khi xảy ra ứ trệ, xử trí kịp thời bằng cách tháo chỉ giảm áp hoặc chích rạch giải áp mô vạt. Chăm sóc hậu phẫu chu đáo bảo đảm vạt hồi phục hoàn toàn.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hệ động mạch thái dương nông
1.1.1. Động mạch thái dương nông
1.1.2. Nhánh trán động mạch thái dương nông
1.1.3. Nhánh đỉnh động mạch thái dương nông
1.2. Hệ tĩnh mạch thái dương nông
1.3. Liên quan với thần kinh
1.3.1. Liên quan với nhánh trán thần kinh VII
1.3.2. Liên quan với thần kinh tai - thái dương
1.4. Ứng dụng lâm sàng
1.4.1. Nhánh trán
1.4.1.1. Vạt cuống liền
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (137 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Đầu mặt là nơi có nhiều đơn vị giải phẫu thẩm mỹ phức tạp nhất, quyết định diện mạo của con ngƣời. Do đó, bất kỳ tổn thƣơng nào dù là lớn hay nhỏ cũng đòi hỏi phải có phƣơng pháp tạo hình thích hợp. Trên thực tế, các tổn khuyết vùng đầu, mặt do các nguyên nhân khác nhau nhƣ bỏng, chấn thƣơng, bệnh lý hay dị tật bẩm sinh khá thƣờng gặp nhƣng việc giải quyết các tổn khuyết này đôi khi vẫn là một khó khăn, thử thách đối với các phẫu thuật viên tạo hình. Khó khăn lớn nhất là lựa chọn đƣợc chất liệu tạo hình phù hợp với tổn thƣơng.

Trong khi đó, dựa trên các nhánh tận của ĐM TDN, từ vùng trán và thái dƣơng có thể cho nhiều loại tổ chứcdựa trên hệ mạch TDN, từ da mang tóc hay không mang tóc tới cân, cơ, sụn, xƣơng hoặc phức hợp nhiều loại tổ chức dƣới dạng vạt cuống liền hay vạt tự do, lại ít bị lộ sẹo sau lấy vạt. Năm 1893, Dunham[1] là ngƣời đầu tiên sử dụng vạt da đầu không mang tóc nhánh trán ĐM TDN dƣới dạng vạt bán đảo cho tổn khuyết phần mềm gò má. Từ đó đã mở ra một nguồn chất liệu vô cùng phong phú cho phẫu thuật tạo hình vùng đầu mặt. Cho đến nay, trên thế giới và trong nƣớc đã có khá nhiều phẫu thuật viên sử dụng các vạt tổ chức từ hệ mạch TDN cũng nhƣ có nhiều công trình nghiên cứu về giải phẫu hệ mạch này.

Tuy vậy, các nghiên cứulâm sàng thƣờng đi sâu vào kỹ thuật sử dụng vạt nào đó dựa trên hệ mạch chứ chƣa có tài liệu nào tƣơng đối đầy đủ về các ứng dụng của hệ mạch TDN trong phẫu thuật tạo hình[2-10]. Còn các nghiên cứu về giải phẫu chủ yếu tập trung mô tả hệ mạch này từ nguyên ủy, đƣờng đi, cấp máu và liên quan của đoạn thân chính ĐM TDN. Trong khi đó, để tạo vạt tổ chức, các phẫu thuật viên tạo 2 hình lại quan tâm nhiều hơn đến các nhánh tận của nó. Hơn nữa, hầu hết các phẫu thuật viên tạo hình vẫn theo quan điểm của giải phẫu kinh điển [11-13] cho rằng ĐM và TM TDN luôn đi cùng nhau trong khi Richbourg và một số tác giả nhận thấy TM càng lên cao càng ra xa ĐM [14, 15].

Năm 2002, Imanishi [16] nghiên cứu trên hình ảnh chụp mạch thấy rằng TM nhánh trán và TM nhánh đỉnh không phải là TM tùy hành của ĐM mà chỉ là TM cùng tên với ĐM. Một tỷ lệ không nhỏ các vạt bị ứ TM đã đƣợc đƣa ra trong các nghiên cứu lâm sàng dƣờng nhƣ phù hợp với quan điểm mới về TM tùy hành của hệ ĐM này. Để giúp các phẫu thuật viên tạo hình có cái nhìn khái quát hơn về khả năng ứng dụng các vạt tổ chức dựa trên hệ mạch TDN và thực hành lâm sàng tốt hơn, an toàn hơn nhờ hiểu rõ về giải phẫu hệ mạch, chúng tôi thực hiệnđề tài “Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dƣơng nông trong phẫu thuật tạo hình” với mục tiêu: 1) Mô tả giải phẫu hệ mạch thái dƣơng nông 2) Đánh giá khả năng và kết quả sử dụng một số vạt tổ chức đƣợc cấp máu bởi hệ mạch thái dƣơng nông. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Hệ động mạch thái dƣơng nông 1. Động mạch thái dương nông * Nguyên ủy Là một trong hai nhánh tận của ĐM cảnh ngoài. Chỗ phân chia ngang mức cổ lồi cầu xƣơng hàm dƣới. Ở đây, ĐM nằm giữa thùy nông và thùy sâu của tuyến mang tai, có nhánh trán của dây TK VII bắt chéo.

So với bề mặt da, chỗ này nằm sâu khoảng 25 mm. * Đường đi và liên quan Hình 1. Bó mạch thái dƣơng nông và thần kinh[12] Chạy tiếp theo ĐM cảnh ngoài, ĐM TDN đi lên trên theo hƣớng thẳng đứng ở trƣớc sụn nắp tai, phía sau các bao khớp thái dƣơng hàm, càng đi lên cao ĐM càng ra nông. 4 Euthathinos mô tả đƣờng đi của ĐM TDN gồm 3 đoạn[14]: Đoạn 1: chạy trong tuyến mang tai 1 đoạn dài khoảng 15 mm, ĐM đi lên trên rồi bắt chéo theo diện ngang mặt.

Đoạn 2: ở sâu dƣới da, dài khoảng 30 mm, đoạn này ĐM chạy ngoằn ngoèo nhƣ hình chữ S theo bình diện thẳng đứng. Đoạn 3: ĐM đi trên mặt nông của cân TDN, trên gốc gờ luân khoảng 2 cm chia 2 nhánh tận: 1 nhánh đi ra trƣớc, vùng trán (nhánh trán) và 1 nhánh chạy tiếp lên trên, vùng đỉnh (nhánh đỉnh). Chiều dài thân ĐM rất thay đổi: theo Euthathianos: 4.0 cm (tính từ bờ trên cung gò má), Abul – Hassan: 2.0 cm (tính từ bờ trên cung gò má), Salmon: trên cung gò má 2. * Nhánh bên Phẫu thuật tạo hình chủ yếu ứng dụng hệ mạch TDN từ đoạn sau khi ĐM chui ra khỏi tuyến mang tai.

Vì vậy, các nhánh bên ở đoạn 2, 3 đƣợc quan tâm hơn. Ở đoạn này ĐM tách ra một số nhánh lớn: Động mạch tai trước: xuất phát từ mặt sau của ĐM TDN và phân thành 2 nhánh: một nhánh cho cơ trƣớc tai và một nhánh bì đi vòng quanh gốc gờ luân, chi phối cho vành tai. Theo Richbourg, ĐM này thấy ở 90% trƣờng hợp và có ĐK TB là 0. Động mạch cho cơ thái dương: còn gọi là ĐM thái dƣơng giữa, theo cách đặt tên của Rouviere hay ĐM thái dƣơng sâu, theo cách đặt tên của Testut.

Theo nhiều tác giả hiện nay cho rằng ĐM thái dƣơng giữa chạy một đoạn khá dài trong lớp cân thái dƣơng sâu, cho nhiều nhánh bên vào cân và nối với các nhánh trong cơ thái dƣơng. ĐM này là cơ sở giải phẫu cho vạt cân thái dƣơng sâu. ĐM này gồm 2 dạng: 5 Dạng ngắn: đi sâu ngay vào cơ thái dƣơng. Dạng dài: đi sâu vào lớp cân của cơ này rồi mới vào lớp sâu cấp máu cho cơ cùng với các nhánh của ĐM hàm trong.

Động mạch tai trên: đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu qua việc phẫu tích sau khi tiêm Latex vào động mạch cảnh ngoài. Các nghiên cứu thấy rằng động mạch trên tai có thể xuất phát từ nhánh đỉnh ĐM TDN (56%) hoặc từ thân chính của ĐM TDN (44%) (theo Adriana Cordova)[17]. Đƣờng đi của mạch khá hằng định tuy vậy có thể ngoằn nghoèo ở ngƣời lớn tuổi. Chiều dài TB ĐM là 2.

Từ nguyên ủy, ĐM đi ra sau tới lớp dƣới da rãnh sau tai rồi tỏa ra thành mạng mạch dƣới da, nối tiếp với mạng mạch dƣới da từ nhánh trƣớc tai. TM thƣờng khó khảo sát hơn ĐM. Tuy nhiên các tác giả cũng nhận thấy TM chia làm 2 lớp: lớp sâu đi kèm với TM sau tai, hình thành nên TM tùy hành của ĐM sau tai. Lớp nông, các TM cũng đƣợc gọi là TM sau tai và đổ vào TM tùy hành ĐM hoặc đổ vào TM cảnh ngoài.

Động mạch ngang mặt: ĐM TDN có một nhánh ngang đi từ gờ bình hơi cong lên trên, ra trƣớc về phía ngoài ổ mắt. Động mạch thái dương gò má: là nhánh bên quan trọng nhất của ĐM TDN. Mạch đƣợc mô tả có 2 dạng: Dạng 1: xuất phát trực tiếp từ ĐM TDN, vị trí có thể thay đổi nhƣng thƣờng ngang gốc gờ luân. Từ nguyên ủy, ĐM chạy vuông góc với thân chính và hơi đi lên ngay trên cung gò má.

Sau một quãng khoảng 7 – 8 cm, hoặc tới sau đuôi mắt 1cm thì phân chia làm 2 nhánh tận lên và xuống. Các nhánh nối ở cao với động mạch mi trong, ở thấp với động mạch ngang mặt. Dạng này chiếm 80% số trƣờng hợp. 6 Dạng 2: xuất phát từ nhánh trán đi ngang hay chéo xuống dƣới, cho các nhánh tận vòng quanh ổ mắt.

Mô tả này không thấy ở các sách giải phẫu cổ điển. Dạng này chiếm 20% số trƣờng hợp. * Nhánh tận Hình thái: Hầu hết các sách giải phẫu kinh điển cũng nhƣ trong nhiều nghiên cứu mới đây đều mô tả ĐM TDN chia 2 nhánh tận:  Nhánh trán hay còn gọi là nhánh thái dƣơng trán.  Nhánh đỉnh còn gọi là nhánh thái dƣơng đỉnh.

Nhƣ vậy có thể coi đây là dạng phân chia nhánh tận điển hình của ĐM TDN. Các dạng chia nhánh tận của động mạch thái dƣơng nông[18] I: chia 2 nhánh tận, II: có 1 nhánh trán lớn chia thành nhiều nhánh, III: nhánh trán lớn, nhánh đỉnh xuất phát từ động mạch cảnh ngoài, IV: nhánh trán nhỏ, một nhánh thái dƣơng – gò má rất lớn, V: chia 3 nhánh tận. Russell[19] đƣa ra mô hình khái quát hơn về sự phân chia nhánh tận ở 32 mẫu tiêu bản theo 5 dạng. Dạng I chiếm đa số: chia 2 nhánh tận (chiếm 80%).

7 Dạng II: chia thành 3 nhánh tận đồng đều nhau. Dạng III: nhánh trán rất nhỏ, thay thế nó là ĐM ngang mặt cấp máu cho vùng trán. Dạng IV: nhánh trán lớn cho nhiều nhánh bên quặt ngƣợc ra vùng đỉnh. Dạng V: nhánh đỉnh xuất phát từ ĐM cảnh ngoài chạy vòng ra sau tai rồi lên vùng đỉnh.

4 dạng này có tỷ lệ bằng nhau, mỗi dạng chiếm 5%. Marano[20] mô tả sự biến đổi đa dạng của nhánh tận ĐM TDN gồm 10 dạng. Dạng A: chia làm 2 nhánh: nhánh trán và nhánh đỉnh; dạng B: 2 nhánh trán và 1 nhánh đỉnh; dạng C: 1 nhánh trán và 2 nhánh đỉnh; dạng D: có duy nhất 1 nhánh đỉnh; dạng E: chỉ có nhánh trán; dạng F: chia 2 nhánh tận với đƣờng kính mỗi nhánh khoảng 1mm; dạng G: chia 2 nhánh tận, điểm chia nằm ngay cung gò má; dạng H: chia 2 nhánh tận trong đó đƣờng kính nhánh trán bé hơn 1 mm; I: chia 2 nhánh tận, đƣờng kính mỗi nhánh bé hơn 1 mm bắt đầu từ điểm mốc là cung gò má. Mwachaka[21] mô tả 4 dạng chia nhánh tận của ĐM TDN.

Dạng A: chia 2 nhánh tận: nhánh trán và nhánh đỉnh; dạng B: chia 2 nhánh đỉnh và 1 nhánh trán; dạng C: chia 1 nhánh đỉnh và 2 nhánh trán; dạng D: chia 3 nhánh, trong đó nhánh ở giữa là nhánh phụ. Tƣơng tự, Nguyễn Văn Thắng[14] phẫu tích trên 33 tiêu bản có nhiều nhất là 3 nhánh tận. Nhƣ vậy dù có nhiều dạng phân chia nhánh tận ĐM TDN khác nhau, nhƣng số nhánh tận nhiều nhất trong nghiên cứu của các tác giả là 3 nhánh. Vị trí chia nhánh tận: Theo sách giải phẫu kinh điển, ĐM TDN chia nhánh tận ở trên cung gò má khoảng 3 cm.

Năm 2010 Mwachaka[21] phẫu tích xác định nguyên ủy nhánh trán trên 30 xác lấy điểm mốc là cung gò má chia làm 3 khoảng: trên cung gò má, 8 ngay tại cung gò má và dƣới cung gò má, trong đó 80% nguyên ủy nhánh trán ở khoảng trên cung gò má. Kết quả tƣơng tự các tác giả khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/ngoai-khoa/luan-an-giai-phau-va-ung-dung-he-mach-thai-duong-nong-trong-phau-thuat-tao-hinh

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình. Khám phá chi tiết cấu trúc mạch máu, tối ưu hóa quy trình phẫu thuật.

Luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" thuộc chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình. Danh mục: Ngoại Khoa.

Luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" có bao nhiêu trang?

Luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" có 137 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Giải phẫu và ứng dụng hệ mạch thái dương nông trong phẫu thuật tạo hình" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter