Luận án tiến sĩ: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Luận án TS: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Cung cấp dữ liệu giá trị.

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

148

Thời gian đọc

23 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tổng quan dị tật còn ống động mạch ở trẻ em sơ sinh
Số trang:
148 trang
Chuyên ngành:
Y học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tổng quan dị tật còn ống động mạch ở trẻ em sơ sinh

Ống động mạch là mạch máu nối động mạch phổi với động mạch chủ trong giai đoạn bào thai. Cấu trúc này giúp dẫn máu nuôi cơ thể khi phổi thai nhi chưa hoạt động. Thông thường, ống tự đóng kín trong 48 giờ đầu sau sinh. Tình trạng ống mở kéo dài quá 72 giờ được xác định là bệnh lý. Đây là dạng bệnh tim bẩm sinh thường gặp với tỷ lệ 1 trên 2000 trẻ sinh sống. Tỷ lệ mắc ở bé trai cao gấp đôi bé gái. Trẻ sinh non và nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Nếu không được can thiệp kịp thời, khoảng 30% trẻ có thể tử vong trong năm đầu đời. Bệnh lý gây ảnh hưởng lớn đến hệ tuần hoàn và sự phát triển thể chất của trẻ. Việc phát hiện sớm đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ tính mạng bệnh nhi.

1.1. Sinh lý bệnh và nguyên nhân gây tim bẩm sinh ở trẻ em

Trong thai kỳ, ống động mạch hình thành từ tuần thứ 6 của phôi thai. Khi trẻ chào đời, phổi bắt đầu thực hiện chức năng hô hấp. Áp lực oxy trong máu tăng khiến ống co lại và thoái hóa dần. Một số nguyên nhân làm gián đoạn quá trình đóng ống bao gồm người mẹ nhiễm virus Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ. Trẻ sinh non thiếu hụt tế bào cơ trơn thành mạch cũng dẫn đến nguy cơ cao mắc bệnh. Dạng tim bẩm sinh ở trẻ em này làm tăng lưu lượng máu lên phổi. Áp lực động mạch phổi tăng cao theo thời gian. Cơ tim phải làm việc quá tải, dẫn đến phì đại tâm thất và suy tim. Việc hiểu rõ phôi thai học giúp bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị chính xác cho từng trường hợp.

1.2. Triệu chứng và shunt dòng chảy qua ống động mạch

Dấu hiệu điển hình của bệnh là tiếng thổi liên tục tại khoang liên sườn II cạnh ức trái. Tuy nhiên, triệu chứng lâm sàng phụ thuộc chặt chẽ vào shunt dòng chảy qua ống động mạch. Khi áp lực thất trái cao hơn thất phải, luồng máu chảy ngược từ động mạch chủ sang động mạch phổi. Luồng shunt càng lớn thì biểu hiện suy tim và viêm phổi tái diễn càng nghiêm trọng. Ngược lại, ở trẻ đẻ non hoặc có tăng áp phổi nặng, tiếng thổi thường mờ nhạt và khó phát hiện. Siêu âm tim Doppler màu là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán. Kỹ thuật này giúp đo kích thước ống, đánh giá hướng dòng shunt và ước tính áp lực động mạch phổi chính xác.

II. Các chỉ định phẫu thuật còn ống động mạch hiện nay

Điều trị đóng ống động mạch là bắt buộc nhằm ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm như suy tim, tăng áp phổi cố định và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Tùy thuộc vào lứa tuổi, cân nặng và giải phẫu mạch máu, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp. Các giải pháp chính bao gồm điều trị nội khoa, can thiệp bít dù qua da và phẫu thuật. Trong đó, phẫu thuật đóng vai trò cốt lõi đối với các trường hợp thất bại nội khoa hoặc không thể can thiệp qua đường ống thông. Việc đánh giá toàn diện giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và hạn chế rủi ro cho bệnh nhi.

2.1. Tiêu chuẩn và chỉ định phẫu thuật còn ống động mạch

Bác sĩ đưa ra chỉ định phẫu thuật còn ống động mạch khi bệnh nhi có triệu chứng suy tim kháng trị với thuốc. Phẫu thuật cũng được áp dụng cho trẻ sinh non phụ thuộc máy thở kéo dài. Các trường hợp có luồng shunt lớn gây tăng áp lực động mạch phổi tiến triển cần được mổ sớm. Ngoài ra, trẻ có tiền sử viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn hoặc xuất hiện phình giãn mạch máu cũng thuộc nhóm chỉ định ngoại khoa tuyệt đối. Can thiệp đúng thời điểm giúp trẻ phục hồi chức năng tim mạch hoàn toàn. Việc trì hoãn phẫu thuật có thể dẫn đến tổn thương mạch máu phổi không hồi phục.

2.2. So sánh mổ ngoại khoa với phương pháp bít dù ống động mạch

Kỹ thuật bít dù ống động mạch là phương pháp can thiệp qua da ít xâm lấn, rất phổ biến cho trẻ lớn. Tuy nhiên, kỹ thuật này gặp nhiều giới hạn ở trẻ sơ sinh, trẻ nhẹ cân hoặc khi có ống động mạch kích thước lớn. Đường vào mạch máu nhỏ ở trẻ sơ sinh làm tăng nguy cơ tắc mạch đùi hoặc rách mạch máu. Do đó, phẫu thuật nội soi kẹp clip trở thành giải pháp ưu việt thay thế. Phương pháp mổ giúp xử lý triệt để tổn thương mà không phụ thuộc vào kích thước lòng mạch tiếp cận. Chi phí phẫu thuật cũng thường thấp hơn so với việc sử dụng các thiết bị dù đắt tiền.

III. Kỹ thuật kẹp clip ống động mạch qua nội soi lồng ngực

Phẫu thuật nội soi lồng ngực đánh dấu bước tiến vượt bậc trong ngoại khoa tim mạch trẻ em. Phương pháp này giảm thiểu sang chấn cơ thể so với đường mổ mở ngực kinh điển. Bác sĩ chỉ cần tạo 2 đến 3 vết rạch nhỏ trên thành ngực để đưa ống soi và dụng cụ vào lồng ngực. Hình ảnh phóng đại từ camera hỗ trợ bộc lộ rõ ràng các cấu trúc giải phẫu quan trọng. Nhờ đó, thao tác phẫu thuật diễn ra nhanh chóng, chính xác và giảm thiểu mất máu. Bệnh nhi ít đau sau mổ, hồi phục nhanh và vết sẹo đạt tính thẩm mỹ cao.

3.1. Quy trình video assisted thoracoscopic surgery PDA

Quy trình video-assisted thoracoscopic surgery PDA đòi hỏi hệ thống trang thiết bị hiện đại và ekip phẫu thuật chuyên sâu. Bệnh nhân được gây mê toàn thân với kỹ thuật thông khí xẹp một bên phổi trái. Bác sĩ rạch các lỗ trocar nhỏ khoảng 3-5mm qua khoang liên sườn. Ống nội soi quang học truyền tải hình ảnh độ nét cao về màn hình trung tâm. Phẫu thuật viên tiến hành mở màng phổi trung thất, nhận diện động mạch chủ, động mạch phổi và dây thần kinh quặt ngược thanh quản. Ống động mạch được phẫu tích tỉ mỉ, làm sạch mô xung quanh trước khi tiến hành bước kẹp clip dứt điểm.

3.2. Ưu điểm nổi bật của phương pháp kẹp clip ống động mạch

Kỹ thuật kẹp clip ống động mạch mang lại nhiều lợi thế vượt trội cho bệnh nhi. Clip kim loại y tế trơ được đặt chính xác ngang qua thân ống, ép chặt hai mép lòng mạch để chặn dòng máu. Thao tác này giúp rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật so với kỹ thuật khâu thắt bằng chỉ truyền thống. Vết mổ nhỏ hạn chế tối đa nguy cơ biến dạng lồng ngực hay vẹo cột sống sau này. Trẻ có thể rút nội khí quản sớm, thời gian nằm hồi sức ngắn và xuất viện sau 2-3 ngày. Nhờ vậy, chi phí điều trị tổng thể của phương pháp được tối ưu hóa rõ rệt.

IV. Biến chứng mổ nội soi ống động mạch và cách theo dõi

Dù là phương pháp ít xâm lấn và an toàn, phẫu thuật nội soi tim mạch trẻ em vẫn tiềm ẩn một số rủi ro nhất định. Sự phức tạp trong gây mê một phổi ở trẻ nhỏ đòi hỏi bác sĩ gây mê hồi sức phải có trình độ chuyên môn cao. Quá trình phẫu tích xung quanh các mạch máu lớn yêu cầu sự khéo léo tuyệt đối để tránh biến cố chảy máu. Việc nhận diện đúng các nguy cơ giúp ekip phẫu thuật chủ động phòng ngừa và xử trí kịp thời. Chăm sóc hậu phẫu chu đáo là yếu tố then chốt bảo đảm an toàn tính mạng cho trẻ.

4.1. Nhận diện các biến chứng mổ nội soi ống động mạch

Các biến chứng mổ nội soi ống động mạch có thể bao gồm chảy máu do rách thành mạch hoặc tuột clip. Tổn thương dây thần kinh thanh quản quặt ngược có thể gây khàn tiếng hoặc liệt dây thanh âm tạm thời. Rò dưỡng chấp màng phổi cũng là một nguy cơ nếu thương tổn ống ngực lân cận. Đối với các ca ống động mạch kích thước lớn, clip có thể không bao trùm hết toàn bộ chu vi ống, dẫn đến nguy cơ shunt tồn lưu với tỷ lệ ghi nhận từ 0% đến 5,9%. Ngoài ra, tràn khí màng phổi hoặc nhiễm trùng vết mổ trocar cũng cần được theo dõi sát sao.

4.2. Chăm sóc hậu phẫu phẫu thuật nội soi lồng ngực trẻ em

Sau phẫu thuật nội soi lồng ngực trẻ em, bệnh nhi được theo dõi sát về huyết động, độ bão hòa oxy và nhịp thở. Bác sĩ tiến hành chụp X-quang ngực để kiểm tra vị trí clip và loại trừ tình trạng tràn dịch màng phổi. Siêu âm tim Doppler kiểm tra ngay trước khi xuất viện nhằm xác nhận dòng shunt đã đóng kín hoàn toàn. Bệnh nhi được hẹn tái khám định kỳ sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng. Phụ huynh cần theo dõi tiếng khóc, nhịp thở và khả năng bú của trẻ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường nhằm can thiệp y tế kịp thời.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về bệnh còn ống động mạch
1.1.1. Sơ lược về lịch sử bệnh
1.1.2. Phôi thai học và sinh lý học của ODM
1.1.3. Cơ chế đóng OĐM và các yếu tố ảnh hưởng
1.1.4. Giải phẫu ống động mạch
1.1.5. Diễn biến tự nhiên
1.1.6. Sinh lý bệnh của bệnh còn ống động mạch
1.2. Chẩn đoán bệnh còn ống động mạch
1.2.1. Lâm sàng
1.2.1.1. Triệu chứng cơ năng và toàn thân
1.2.1.2. Triệu chứng thực thể
1.2.2. Các dấu hiệu cận lâm sàng
1.2.2.1. Dấu hiệu X-quang
1.2.2.2. Điện tâm đồ
1.2.2.3. Siêu âm
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (148 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Ống động mạch (OĐM) là một ống kết nối động mạch phổi và động mạch chủ, mạch máu duy nhất với chức năng huyết động như một cầu nối giữa động mạch phổi và động mạch chủ trong thời kỳ bào thai, thường tự đóng trong vòng 48 giờ đầu sau đẻ [1],[2],[3],[4],[5],[6]. Bệnh lý còn ống động mạch là sự tồn tại của ống động mạch này sau 72 giờ [7]. Đây là một dị tật phổ biến với tỷ lệ khoảng 1/2000 trẻ sinh sống với tỷ lệ nam gấp đôi nữ. Trong đó, có từ 5% đến 10% gặp trong các dị tật tim bẩm sinh khác [4],[8],[9].

Tỷ lệ tử vong do không điều trị nhũ nhi rất cao. Theo Campbell 1968 có khoảng 30% nhũ nhi mắc ống động mạch đơn độc chết trong năm đầu đời, cao nhất trong vài tháng đầu sau sinh. Độ tuổi trung bình nếu không được điều trị 17 tuổi [10]. Triệu chứng điển hình của bệnh là tiếng thổi liên tục khoang liên sườn II cạnh cứ bên trái, tuy nhiên trong một số bệnh lý kèm theo hoặc ở trẻ non tháng thấp cân với tăng áp lực động mạch phổi cao thì tiếng thổi này không điển hình.

Các triệu chứng phụ thuộc vào luồng shunt trái-phải: shunt qua ống càng nhiều triệu chứng càng rõ và ngược lại. Siêu âm chẩn đoán ống động mạch là tiêu chuẩn vàng đồng thời giúp đánh giá, tiên lượng, chỉ định điều trị cho bệnh. Việc điều trị bệnh lý còn ống động mạch (CODM) có nhiều phương pháp, bao gồm: điều trị nội khoa, điều trị bằng đặt dù, điều trị bằng phẫu thuật. Gross đã phẫu thuật thành công trường hợp đầu tiên bằng thắt ống ở một bệnh nhân nữ 7 tuổi vào năm 1938 [11].

Từ đó đến nay rất nhiều phương pháp ngoại khoa được áp dụng để điều trị bệnh lý này, gồm có: phẫu thuật mở ngực trong hoặc ngoài màng phổi, phẫu thuật nội soi. luan an 2 Phẫu thuật nội soi cũng đã được áp dụng cho điều trị bệnh lý này ở nhiều trung tâm phẫu thuật tim mạch trên thế giới từ sau năm 1993 khi Laborde và cộng sự tiến hành thành công trên 39 sơ sinh và trẻ nhỏ [12]. Hiện nay ở Việt Nam, việc điều trị bệnh CODM bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực được Cao Đằng Khang và cộng sự đã báo cáo thành công trên 15 trẻ lớn năm 2008 [13]. Phương pháp này cho thấy nó có rất nhiều ưu điểm như: hạn chế tối đa thương tổn của ngực, thời gian mổ ngắn, thời gian nằm viện ngắn, giá trị thẩm mỹ cao do vậy chi phí điều trị cũng thấp.

Tuy nhiên phương pháp điều trị này cũng chỉ được áp dụng ở những trung tâm lớn, cần người có kinh nghiệm, có khả năng gây mê một phổi, đặc biệt đối với trẻ sơ sinh thì vấn đề này càng trở nên khó khăn. Một điểm đáng lưu ý nữa là: mặc dù phương pháp nội soi thắt ống bằng chỉ hoăc kẹp ống bằng clip không ngừng được cải tiến tuy nhiên theo các tác giả gần đây thì vẫn còn tỷ lệ shunt tồn lưu khoảng từ 0-5,9% [12],[13],[14],[15],[16],[17]. Tại viện Nhi Trung Ương, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật này từ năm 2012. Tuy vậy, những vấn đề còn tồn tại hiện nay là: đây là phẫu thuật khó chưa được áp dụng nhiều, chưa có bệnh viện nào tiến hành trên trẻ nhỏ, chưa có nghiên cứu nào về mổ nội soi ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương” với mục đích sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân còn ống động mạch được phẫu thuật nội soi cặp clip ống động mạch. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp clip ống động mạch và phân tích một số yếu tố liên quan. luan an 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Đại cương về bệnh còn ống động mạch 1. Sơ lược về lịch sử bệnh: Còn ống động mạch là bệnh tim bẩm sinh (TBS) thường gặp và đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm. Năm 181 sau Công nguyên, Galen đã bước đầu nói về bệnh và cơ chế đóng ống ODM sau khi trẻ ra đời. Tới năm 1844, những hiểu về bệnh được làm sáng tỏ hơn khi Rokitansky cho ra đời một cuốn sách mô tả rõ ODM và sự tồn tại của nó sau sinh được xem như là một bệnh TBS [2],[6],[18].

Có một số yếu tố được cho là có liên quan tới bệnh như mẹ bị nhiễm vius trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén đặc biệt là virus Rubella, trẻ sơ sinh có cân nặng thấp, đẻ thiếu tháng và một số yếu tố khác. Hiện nay cùng với sự phát triển của Y học, sự hiểu biết về bệnh COĐM đã trở nên đầy đủ hơn, vì thế việc chẩn đoán trở nên chính xác hơn và hiệu quả điều trị cũng cao hơn. Phôi thai học và sinh lý học của ODM: - Trong giai đoạn bào thai: Từ cuối tuần thứ 4, ống tim nội mô bắt đầu phình ra, phân chia để bước đầu hình thành tim nguyên thuỷ. Vào cuối tuần thứ 6, ODM là một phần của cung động mạch chủ (ĐMC) thứ 6 ở ngoài điểm xuất phát của động mạch phổi (ĐMP) trái và phải.

Lúc này sự sát nhập, gấp khúc của các phần tạo hình tim không hoàn chỉnh từ đó tạo ra các bệnh TBS. Trước đây người ta dùng thuật ngữ Bottali (ống Botal) để gọi tên OĐM [6]. luan an 4 Sau khi hình thành hệ tuần hoàn bào thai, do phổi chưa có chức năng để hô hấp nên hệ tuần hoàn phổi chưa hoạt động, ĐMC và ĐMP nối với nhau bởi OĐM. Khi đó máu ở tâm thất phải cũng đi vào ĐMP nhưng rồi qua OĐM đi thẳng sang ĐMC xuống để hoà trộn với máu từ thất trái lên ĐMC rồi được trao đổi qua nhau thai để đi nuôi cơ thể.

Sự tồn tại của OĐM lúc này là sinh lý và bắt buộc của tuần hoàn bào thai. Sự thông thương của OĐM trong gia phụ thuộc vào nồng độ Prostaglandin trong máu [19]. - Khi trẻ ra đời: Các yếu tố thúc đẩy việc đóng OĐM là áp lực riêng phần của O 2 trong mao mạch phổi tăng, giảm nồng độ Prostaglandin lưu hành trong máu do tăng chuyển hoá của tuần hoàn phổi và hiệu ứng nhau thai gây ra. Sau khi cắt rốn, tuần hoàn bào thai hết tác dụng, phổi bắt đầu thở và thực hiện chức năng trao đổi khí, O 2 được đưa từ ngoài môi trường vào tuần hoàn phổi.

Hiện tượng tăng đột ngột nồng độ O2 trong máu động mạch đã kéo theo sự thay đổi môi trường hoạt động của Prostaglandin nội sinh gây nên phản ứng co thắt OĐM, bước đầu cơ chế tự đóng ống. Cơ chế đóng OĐM và các yếu tố ảnh hưởng: - Cơ chế đóng OĐM: Khi trẻ ra đời hệ tuần hoàn rau thai mất đi và phổi đảm nhiệm chức năng hô hấp. Khi phổi bắt đầu hô hấp, các phế nang giãn ra, bão hoà O 2 trong máu động mạch tăng lên đột ngột khiến giãn các mạch máu phổi và gây giảm sức cản tuần hoàn phổi. Lúc này lượng máu qua phổi tăng lên, phổi thực hiện chức năng trao đổi khí tạo nên vòng tuần hoàn phổi riêng biệt.

Hiện tượng tăng đột ngột độ bão hoà O2 trong máu động mạch đã dẫn đến sự thay đổi hoạt động của các Prostaglandin nội sinh tại chỗ, khởi phát quá trình tự đóng luan an 5 ống. Trong giai đoạn đầu này, tất cả các nguyên nhân gây giảm độ bão hoà O 2 máu động mạch đều dẫn đến sự chậm đóng ống [19],[20]. Như vậy việc phôi thai chuyển sang môi trường không khí là hiện tượng cơ bản làm thay đổi áp lực nội phế nang và sự giãn của mao mạch phổi. Những thay đổi trên dẫn đến sự đóng kín hoàn toàn và vĩnh viễn OĐM thành dây chằng động mạch.

Máu từ tâm thất phải lên ĐM phổi rồi tới phổi trao đổi O2 và CO2 mà không qua OĐM nữa. OĐM dần teo và tắc lại vào tuần thứ 6 đến tuần thứ 11 hoặc sau khoảng 1 năm với trẻ thiếu tháng. - Các yếu tố ảnh hưởng [21],[22],[23]:. Tuổi thai: Trẻ thiếu tháng OĐM đóng chậm chiếm tỉ lệ cao nhưng những trẻ có tuổi thai 30 tuần trở lên thì không thấy sự khác biệt so với trẻ đủ tháng.

Nhiễm virus: Mẹ nhiễm virus cúm trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai dễ gây các dị tật bẩm sinh trong đó bệnh CODM cũng là dị tật thường gặp. Tỉ lệ này cao khi mẹ nhiễm virus Rubella. Yếu tố di truyền: Người ta nhận thấy tiền sử gia đình cũng đóng một vai trò quan trọng. Những đứa trẻ ở trong gia đình có người bị bệnh COĐM thì nguy cơ mắc bệnh này cũng cao hơn so với những đứa trẻ khác.

Yếu tố địa lý: Những trẻ sinh ra ở vùng cao tỉ lệ bắc bệnh COĐM nhiều hơn. Người ta đã thống kê được tần suất mắc bệnh ở những trẻ này cao hơn 6 lần so với những trẻ sinh ở đồng bằng. Nguyên nhân là do ở vùng cao áp lực riêng phần của O 2 thấp hơn ở vùng đồng bằng nên quá trình tự đóng OĐM diễn ra chậm hơn. Giải phẫu ống động mạch: - Giải phẫu OĐM: OĐM là một ống nối giữa ĐMC xuống ngay dưới chỗ xuất phát của ĐM dưới đòn trái với thân ĐM phổi hoặc ĐM phổi trái.

OĐM thường có chiều dài chung từ 2 - 15 mm và đường kính từ 5 - 15 mm. Ống động mạch Hình 1.1: Hình ảnh giải phẫu OĐM [24] OĐM thường có hình phễu, đường kính của OĐM phía ĐMC thường rộng hơn phía ĐMP. Vị trí hẹp nhất của OĐM thường là nơi OĐM đổ vào ĐM phổi, còn đường kính rộng nhất thường tại nơi OĐM đổ vào ĐM chủ. Hướng đi của OĐM: ở phía ĐMP, OĐM xuất phát từ đỉnh của ĐM phổi và di chuyển về phía sau, lên trên và sang trái để nối với ĐM chủ xuống phía luan an 7 đối diện nơi xuất phát của ĐM dưới đòn trái, phía sau của ĐMC.

OĐM hầu như luôn ở phía bên trái, rất hạn hữu gặp OĐM ở bên phải hoặc cả hai bên. Thần kinh quặt ngược phải Thần kinh quặt ngược trái Ống động mạch Động mạch phổi Hình 1.2: Liên quan giữa thần kinh thanh quản và ống động mạch[25] Dây thần kinh thanh quản đi từ nền cổ phía bờ ngoài của động mạch cảnh trái đi xuống dưới qua mặt trước của động mạch dưới đòn. Khi chạy xuống đến bờ trước của quai động mạch chủ chia làm 2 nhánh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/ngoai-khoa/danh-gia-phau-thuat-noi-so-cap-ong-dong-mach-bang-clip-o-tre-em

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án TS: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Cung cấp dữ liệu giá trị.

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Ngoại Khoa.

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" có bao nhiêu trang?

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" có 148 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi cặp ống động mạch bằng clip ở trẻ em" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter