Luận án tiến sĩ sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 - Học viện KHXH
Luận án phân tích sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua lý thuyết hệ hình Kuhn. Khám phá những biến đổi thể loại, phong cách và tư tưởng.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
191
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lý thuyết hệ hình trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
- Số trang:
- 191 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Hoài An
- Năm:
- 2021
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lý thuyết hệ hình trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
Nghiên cứu văn học đòi hỏi các mô hình lý thuyết mới. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trải qua cuộc chuyển biến toàn diện. Việc áp dụng lý thuyết hệ hình trong nghiên cứu văn học mở ra góc nhìn đột phá. Khái niệm hệ hình bắt nguồn từ Thomas Kuhn trong khoa học tự nhiên. Khi chuyển giao sang văn học, hệ hình mô tả các mô thức tư duy và quy phạm thẩm mỹ chung của thời đại. Tiểu thuyết giai đoạn Đổi mới không chỉ thay đổi đề tài. Thể loại này thay đổi căn bản về cấu trúc và hệ giá trị. Sự thay đổi diễn ra từ bên trong đời sống văn học. Tiếp cận theo hệ hình giúp nhìn nhận tiến trình văn học như sự vận động liên tục của các chuẩn mực nghệ thuật. Phương pháp này khắc phục lối phân chia lịch sử văn học mang tính cơ học. Đây là công cụ đắc lực để giải mã diện mạo văn xuôi đương đại.
1.1. Khái niệm lý thuyết hệ hình trong nghiên cứu văn học
Lý thuyết hệ hình xem xét văn học qua các mô hình chuẩn mực thống trị. Mỗi thời kỳ văn học sở hữu một hệ hình riêng biệt. Hệ hình quy định cách nhà văn nhận thức đời sống và tổ chức tác phẩm. Khi chuẩn mực cũ không còn sức giải thích thực tại, khủng hoảng xuất hiện. Cuộc cách mạng nghệ thuật bùng nổ để thiết lập chuẩn mực mới. Trong nghiên cứu văn học, hệ hình cung cấp khung phân tích nội quan. Khung lý thuyết này theo dõi sự dịch chuyển từ tiền hiện đại, hiện đại đến hậu hiện đại. Việc khảo sát không dừng ở câu chữ hay nội dung phản ánh. Nghiên cứu tập trung vào cơ chế vận hành của tư duy nghệ thuật. Lối tiếp cận này làm sáng tỏ quy luật phát triển tự thân của tiểu thuyết.
1.2. Tính cấp thiết khi vận dụng lý thuyết hệ hình sau 1986
Tiểu thuyết sau năm 1986 chứng kiến sự bùng nổ của nhiều khuynh hướng sáng tác. Các lối phê bình truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Phê bình xã hội học thường chỉ chú trọng phản ánh hiện thực đời sống. Phê bình thi pháp học đôi khi cô lập tác phẩm khỏi bối cảnh chuyển dịch tư tưởng. Vận dụng lý thuyết hệ hình giải quyết khoảng trống học thuật này. Mô hình hệ hình tạo ra cái nhìn nhất quán và chuyên sâu. Phương pháp kết nối các bình diện từ quan niệm nghệ thuật, kỹ thuật tự sự đến ngôn ngữ thể loại. Nghiên cứu giúp phân định rõ ranh giới giữa hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa. Đây là cơ sở khoa học để đánh giá chính xác giá trị các cách tân tiểu thuyết.
II. Bước chuyển đổi hệ hình nghệ thuật tiểu thuyết sau 1986
Tiến trình văn học Việt Nam sau năm 1986 ghi nhận cuộc chuyển đổi hệ hình nghệ thuật mạnh mẽ. Sự chuyển dịch này diễn ra theo quy luật phủ định và kế thừa. Văn học từ bỏ mô hình đơn nhất để bước vào không gian đa chiều. Các nhà văn nỗ lực giải phóng tư duy sáng tạo khỏi những khuôn mẫu xơ cứng. Chuyển đổi hệ hình không diễn ra đột ngột trong một sớm một chiều. Quá trình này bao gồm các giai đoạn chuẩn bị, đột phá và xác lập chuẩn mực. Nhiều tác phẩm tiêu biểu đóng vai trò mở đường cho cuộc cách mạng thẩm mỹ. Sự xuất hiện của các hình thức tự sự mới đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của tư duy nghệ thuật.
2.1. Sự thoái trào của hệ hình văn học sử thi truyền thống
Giai đoạn trước năm 1986 chịu sự chi phối mạnh mẽ của hệ hình văn học sử thi. Hệ hình này tập trung vào các chủ đề cộng đồng, dân tộc và người anh hùng. Số phận cá nhân luôn hòa tan trong vận mệnh chung của tập thể. Góc nhìn trần thuật mang tính ngợi ca và đồng thuận tuyệt đối. Sau chiến tranh, hiện thực đời sống đặt ra nhiều vấn đề nhân sinh phức tạp. Cảm hứng sử thi dần mất đi vị thế độc tôn do không còn bao quát trọn vẹn hiện thực đời thường. Tiểu thuyết bắt đầu hướng về đời tư và những bi kịch cá nhân. Sự thoái trào của văn học sử thi mở đường cho những tìm tòi nghệ thuật mới.
2.2. Vượt thoát hệ hình hiện thực xã hội chủ nghĩa cũ
Hệ hình hiện thực xã hội chủ nghĩa từng đề cao tính minh họa và phản ánh thực tại một chiều. Nhân vật trong hệ hình này thường chia tuyến phân minh giữa tốt và xấu. Hiện thực được tái hiện theo quy tắc định trước và mang tính giáo huấn. Sau năm 1986, các nhà văn chủ động phá vỡ nguyên tắc phản ánh cơ học. Tiểu thuyết chuyển từ miêu tả sự kiện bề ngoài sang khám phá chiều sâu tâm lý. Hiện thực trong tác phẩm trở nên phức tạp, đa chiều và đầy bất an. Các tác phẩm của Lê Lựu, Bảo Ninh, Dương Hướng thể hiện rõ bước vượt thoát này. Văn xuôi xác lập tính tự chủ và đa dạng của sáng tạo thẩm mỹ.
2.3. Khởi sắc của hệ hình văn học hậu hiện đại độc đáo
Hệ hình văn học hậu hiện đại nảy sinh như bước phát triển tất yếu của tiểu thuyết đương đại. Xu hướng này du nhập và hòa nhập sâu sắc với thực tiễn sáng tác trong nước. Các tác giả hậu hiện đại từ bỏ tham vọng bao quát toàn bộ chân lý tuyệt đối. Tác phẩm tập trung vào những mẩu vụn đời sống và cảm giác hư vô. Sự hòa trộn giữa cái có thực và cái ảo ảnh trở thành nét đặc trưng. Ngôn ngữ văn xuôi trở nên giễu nhại, giải thiêng và đa nghĩa. Những tên tuổi như Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Thuận định hình rõ nét diện mạo hậu hiện đại. Tiểu thuyết Việt Nam hội nhập nhanh chóng vào dòng chảy văn học toàn cầu.
III. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và thực tại
Đổi mới tư duy tiểu thuyết bắt đầu từ sự biến chuyển trong nhận thức triết học. Quan niệm về thực tại và con người quyết định cấu trúc nội dung tác phẩm. Các nhà văn thời kỳ Đổi mới không còn thỏa mãn với cách nhìn đơn giản hóa. Thực tại không còn là đối tượng khách quan tĩnh tại chờ phản ánh. Con người không còn là những cá nhân nhất phiến hay đại diện thuần túy cho giai cấp. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người tạo ra bước ngoặt bản lề cho toàn bộ thể loại tiểu thuyết. Văn học đào sâu vào mọi ngóc ngách của tâm lý và sinh thể con người.
3.1. Chuyển biến từ phản ánh hiện thực sang kiến tạo thực tại
Tiểu thuyết truyền thống coi tác phẩm như tấm gương soi chiếu hiện thực khách quan. Tiểu thuyết sau 1986 chuyển dịch căn bản sang quan niệm kiến tạo thực tại. Nhà văn sử dụng trí tưởng tượng để thiết lập những thế giới nghệ thuật mới. Thực tại trong văn xuôi đương đại là sản phẩm của ngôn ngữ và điểm nhìn chủ quan. Thế giới đó chứa đầy những yếu tố kỳ ảo, tâm linh và phi lý. Tính chân thực không đo bằng sự trùng khít với đời sống thực tế bên ngoài. Chân thực nằm ở sức gợi mở và chiều sâu bản thể học. Sự chuyển dịch này giúp tiểu thuyết thoát khỏi chức năng sao chép hiện thực đơn thuần.
3.2. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đa ngã phức hợp
Quan niệm về con người có bước tiến vượt bậc trong văn xuôi sau 1986. Tiểu thuyết chuyển mạnh từ con người đơn ngã sang con người đa ngã. Văn học dũng cảm soi chiếu phần bản năng, tính dục và vô thức của nhân vật. Con người tâm linh và con người tha hóa trở thành đối tượng khám phá thường trực. Các nhân vật mang trong mình nhiều mặt đối lập và giằng xé nội tâm. Khái niệm nhiều con người trong một con người được khắc họa sắc nét. Con người vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm trong các bi kịch đời sống. Cách nhìn nhân bản sâu sắc này làm phong phú thêm giá trị nhân văn của văn học.
IV. Cách tân nghệ thuật tự sự và trần thuật đa thanh mới
Kỹ thuật viết tiểu thuyết có những biến đổi mang tính cách mạng sau năm 1986. Nhà văn chuyển trọng tâm từ nội dung câu chuyện sang hình thức trần thuật. Cuộc phiêu lưu không còn nằm ở hành động của nhân vật. Cuộc phiêu lưu diễn ra ngay trong quá trình sáng tạo ngôn từ của nhà văn. Nghệ thuật tự sự và trần thuật đa thanh trở thành phương thức biểu đạt trung tâm. Điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt và liên tục chuyển dịch. Người kể chuyện toàn tri dần biến mất để nhường chỗ cho nhiều giọng điệu đối thoại bình đẳng. Tác phẩm trở thành không gian tranh biện dân chủ của nhiều luồng ý thức.
4.1. Sự dịch chuyển từ viết về phiêu lưu sang phiêu lưu của cái viết
Tiểu thuyết cổ điển thường hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện ly kỳ và hành trình nhân vật. Tiểu thuyết đương đại chuyển dịch mạnh mẽ sang phiêu lưu của cái viết. Bản thân quá trình tạo sinh văn bản trở thành đối tượng trần thuật chính. Kỹ thuật siêu hư cấu được vận dụng triệt để trong nhiều tác phẩm. Nhà văn phơi bày các thao tác sáng tạo và trò chơi cấu trúc văn bản. Văn bản tự chất vấn nguồn gốc và tính xác thực của chính mình. Người viết không còn giấu mình sau cốt truyện mà công khai tham gia vào trò chơi chữ nghĩa. Xu hướng này mang đến trải nghiệm tiếp nhận hoàn toàn mới lạ.
4.2. Nghệ thuật tự sự và trần thuật đa thanh phức điệu
Nghệ thuật tự sự và trần thuật đa thanh phá vỡ cấu trúc độc thoại quyền uy trong văn xuôi truyền thống. Lời trần thuật không còn thuộc về một ngôi thứ duy nhất. Tác phẩm dung chứa nhiều giọng nói, từ giọng ngợi ca, trữ tình đến giọng giễu nhại, lạnh lùng. Các điểm nhìn đan xen tạo nên hiệu ứng phức điệu độc đáo. Người kể chuyện có thể là người kể chuyện không đáng tin cậy hoặc bị phân thân. Khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật bị xóa nhòa. Độc giả buộc phải chủ động liên kết các mảnh ghép âm thanh để tìm kiếm ý nghĩa tác phẩm. Hình thức tự sự này phản ánh sâu sắc tính chất phức tạp của đời sống hiện đại.
V. Kết cấu phân mảnh và phi tuyến tính trong tiểu thuyết
Tổ chức cấu trúc tiểu thuyết sau 1986 ghi nhận sự đoạn tuyệt với mô hình tuyến tính kinh điển. Kết cấu phân mảnh và phi tuyến tính trở thành đặc trưng nghệ thuật nổi bật. Trật tự thời gian và không gian bị đảo lộn có chủ đích. Cốt truyện truyền thống với các bước mở đầu, phát triển và kết thúc bị giải thể hoàn toàn. Tác phẩm giống như một bức tranh ghép từ vô số mảnh vỡ hiện thực và ký ức. Lối tổ chức này phản ánh cảm thức về một thế giới bất định và phi trung tâm. Hình thức tiểu thuyết tiệm cận với tư duy nghệ thuật hiện đại thế giới.
5.1. Thi pháp tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới với lối viết gián đoạn
Thi pháp tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới tạo dựng dấu ấn qua kỹ thuật cắt dán và gián đoạn. Dòng tự sự liên tục bị bẻ gãy bởi các độc thoại nội tâm hoặc mảnh hồi ức. Tác giả sử dụng thủ pháp đồng hiện để kết nối các sự kiện cách xa về thời gian và không gian. Khoảng trống văn bản xuất hiện dày đặc, đòi hỏi sự đồng sáng tạo của người tiếp nhận. Ngôn ngữ cô đọng, giàu sức gợi và giàu tính ẩn dụ. Lối viết gián đoạn tạo ra nhịp điệu dồn dập và cảm giác căng thẳng thẩm mỹ. Đây là bước đột phá quan trọng trong việc hiện đại hóa ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt.
5.2. Kết cấu phân mảnh và phi tuyến tính xóa nhòa ranh giới
Kết cấu phân mảnh và phi tuyến tính phá vỡ ranh giới giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian tâm lý thay thế hoàn toàn cho thời gian vật lý tuần tự. Không gian tác phẩm co giãn bất thường giữa cõi thực, cõi mộng và cõi ảo. Ranh giới giữa thể loại hư cấu và phi hư cấu cũng bị xóa bỏ. Tác phẩm dung nạp thư từ, nhật ký, tài liệu và các mảnh văn bản giả định. Cấu trúc mở cho phép văn bản tồn tại nhiều tầng nghĩa khả biến. Người đọc trở thành người đồng hành tái thiết lập trật tự câu chuyện. Lối kết cấu này thể hiện sâu sắc tinh thần tự do trong sáng tạo nghệ thuật.
5.3. Giá trị học thuật và dấu ấn cách tân văn xuôi đương đại
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh cách tân thể loại. Việc soi chiếu văn học qua lý thuyết hệ hình khẳng định tầm vóc của giai đoạn này. Các nhà văn tạo dựng một diện mạo văn học đa dạng, năng động và giàu sức sống. Những tìm tòi về hình thức đi liền với chiều sâu nhân bản sâu sắc. Di sản đổi mới để lại nhiều bài học quý báu cho văn xuôi thế hệ kế tiếp. Văn học chứng minh khả năng tự vận động và hội nhập quốc tế mạnh mẽ. Công trình nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận vững chắc cho việc thẩm định văn xuôi đương đại.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (191 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀI AN SỰ ĐỔI MỚI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986 NHÌN TỪ LÝ THUYẾT HỆ HÌNH Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9 22 01 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1.TS ĐỒ LAI THÚY 2. TS HOÀNG TỐ MAI HÀ NỘI - 2021 luan an MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tiểu thuyết sau 1986 là một giai đoạn cách tân nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam. Cách tân vừa là nhu cầu nội tại, vừa được thúc đẩy bởi tinh thần của phong trào Đổi mới đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong tiểu thuyết từ sau 1986.
Tiểu thuyết dần từ bỏ quan niệm phản ánh hiện thực để đạt được những đỉnh cao với quan niệm kiến tạo thực tại và dịch chuyển tới ám ảnh về một thực tại phân mảnh. Tiểu thuyết từ phản ánh con người đơn ngã sang con người đa ngã, chấp nhận phần bản năng, con người tính dục, con người tâm linh… và cuối của hành trình tìm kiếm, tiểu thuyết nhận ra nhiều con người trong một con người. Từ viết về phiêu lưu, các tiểu thuyết sau 1986 đặt trọng tâm ở phiêu lưu của cái viết và dịch dần về viết về cái viết, tạo nên những thay đổi cơ bản trong nghệ thuật tiểu thuyết. Ý thức đổi mới nghệ thuật của các nhà văn đương đại đi cùng sự phổ biến của các lý thuyết tiếp cận văn học mới mẻ đã tạo ra một mảnh đất năng sản cho những khám phá và phiêu lưu học thuật.
Tiểu thuyết sau 1986 đã được tiếp cận từ cái nhìn lịch sử hay từ nhiều lý thuyết tiếp cận như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận, phê bình hậu hiện đại…Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào thể nghiệm một lý thuyết tiếp cận thống nhất và chuyên sâu để nhận diện sự vận động bên trong của toàn bộ giai đoạn tiểu thuyết này. Lý thuyết hệ hình được Thomas Kuhn đề xuất trong công trình nổi tiếng Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học. Đây là lý thuyết công cụ rất hữu ích, không chỉ giúp người sử dụng nhận diện đặc điểm của một thời kì phát triển, mà quan trọng hơn còn nhìn nhận chúng trong một diễn trình vận động, phát triển. Lý thuyết hệ hình đã mang lại một cái nhìn mới cho lịch sử khoa học, lịch sử văn hóa, nghệ thuật, văn học và, từ đó, có thể tạo ra một lối viết lịch sử mới, nhìn sự dịch chuyển của đối tượng từ những vận động nội tại.
Lý thuyết này đặc biệt tương thích với những giai đoạn văn học có bước chuyển mình mạnh mẽ như văn học sau 1986. Bổ sung hướng tiếp cận từ lý thuyết hệ hình với cái nhìn nội quan là cần thiết để có một hướng khám phá mới về sự vận động từ trước đến sau mốc thời gian ấy, cũng có nghĩa là lý giải những cách tân của tiểu thuyết sau 1986 trong sự vận động nội tại của văn học một cách khoa học. Trước những vấn đề đặt ra trên, luận án của chúng tôi có nhiệm vụ nhận diện những cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trong sự dịch chuyển hệ hình từ 1 luan an tiền hiện đại (chủ nghĩa) sang hiện đại (chủ nghĩa) rồi hậu hiện đại. Luận án sẽ trả lời những câu hỏi chính: Tiểu thuyết sau 1986 có những cách tân nào trong quan niệm về thực tại và con người? Tiểu thuyết sau 1986 có những thay đổi như thế nào về viết, mang đến những đổi mới nào về phương diện nghệ thuật? Những cách tân đó tạo ra cuộc cách mạng hệ hình trong tiểu thuyết Việt Nam như thế nào? Đồng thời, luận án đưa ra những cắt nghĩa góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn tồn tại trong phân kì văn học, phân định các khái niệm quan trọng như thời hiện đại, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại, tạo ra tiền đề để đánh giá khách quan những giá trị cách tân tiểu thuyết sau 1986 trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam… Đó là những vấn đề thiết yếu trong nghiên cứu văn học hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Lấy lý thuyết hệ hình làm hệ qui chiếu, luận án nghiên cứu cuộc cách mạng hệ hình của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, nghĩa là luận án nghiên cứu sự vận động của tiểu thuyết với những tác giả, tác phẩm tạo nên sự chuyển đổi hệ hình và những tác giả, tác phẩm hoàn chỉnh hệ hình. Luận án cũng nghiên cứu đặc trưng của các hệ hình tiểu thuyết giai đoạn sau 1986 trên các tiểu thuyết cụ thể của giai đoạn tiểu thuyết này. Phạm vi khảo sát của luận án là các tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trên phổ rộng, trong đó luận án tập trung vào các tiểu thuyết nổi bật của giai đoạn sau 1986: Thời xa vắng (Lê Lựu); Bến không chồng (Dương Hướng); Thiên sứ (Phạm Thị Hoài); Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh); Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi, Mình và họ (Nguyễn Bình Phương); Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà); T mất tích, Pari 11-8, Chinatown (Thuận); Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng), 3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như sau: Mục đích nghiên cứu: Nhận diện, đánh giá sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trên các phương diện: quan niệm về thực tại và con người, quan niệm về viết cùng các kĩ thuật tự sự tương ứng… trong sự đối sánh hệ hình, qua đó, chỉ ra 2 luan an những đóng góp của giai đoạn tiểu thuyết này trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, nhất là từ sau 1975 cho đến nay. Nhiệm vụ nghiên cứu: Lấy lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn làm lý thuyết tiếp cận, luận án làm rõ sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 trong sự dịch chuyển của các hệ hình tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại. Ở mỗi hệ hình tiểu thuyết, luận án chỉ ra những đặc trưng cơ bản của hệ hình, đồng thời đặt các hệ hình tiểu thuyết cạnh nhau để làm rõ sự vận động nội tại của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 với hai lần chuyển đổi hệ hình. Mặt khác, với cái nhìn hệ hình, chúng tôi sẽ chỉ ra vị trí, đóng góp của các tác giả, nhất là các nhân vật hệ hình và các tác phẩm của họ trong diễn trình tiểu thuyết từ sau 1986.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án Luận án sử dụng những tư tưởng trong lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn làm nền tảng lí thuyết để nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, đặc biệt là các khái niệm hạt nhân như hệ hình, chuyển đổi hệ hình. Lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn cùng các công trình nghiên cứu văn học ảnh hưởng, tiếp thu lí thuyết hệ hình chính là điểm tựa lí thuyết của luận án. Ngoài ra, chúng tôi cũng áp dụng các lý thuyết khác như tự sự học, thi pháp học… Những lý thuyết công cụ này hỗ trợ chúng tôi trong quá trình giải mã văn bản và lý giải các hiện tượng văn học. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính như sau: - Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - văn học: dùng để khảo sát quá trình hình thành, vận động của các hệ hình văn hóa, văn học trên cơ sở các điều kiện triết học, kinh tế - xã hội, văn hóa - nghệ thuật… và vận dụng lý giải các hiện tượng của tiểu thuyết Việt Nam trên các điều kiện lịch sử, văn hóa đặc thù.
- Phương pháp cấu trúc và phương pháp hệ thống: dùng để tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn, các hệ hình văn hóa - văn học: tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại. - Phương pháp so sánh: so sánh trên hai phương diện lịch đại và đồng đại chính là phương pháp nghiên cứu hữu hiệu giúp chúng tôi nhận ra những dấu hiệu đặc trưng của các hệ hình tiểu thuyết, đặt các tiểu thuyết, khuynh hướng tiểu thuyết cạnh nhau để nhận diện dấu hiệu hệ hình đặc trưng, từ đó có thể nhận diện vị trí của các tác giả, tác phẩm tiểu thuyết cụ thể trong toàn cảnh tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Ngoài ra, luận án sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, khảo sát, thống kê… 3 luan an 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Trên cơ sở tiếp thu, vận dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn, luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam đặt vấn đề nghiên cứu những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ lý thuyết hệ hình.
Trong tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung, luận án góp phần nhìn nhận những đổi mới của tiểu thuyết với sự vận động mang tính chất hệ hình từ tiền hiện đại, sang hiện đại, hậu hiện đại. Luận án đã nhìn nhận sự vận động của tiểu thuyết từ trước đến 1986 từ cái nhìn nội quan, đem đến một cách phân kì mới không chỉ cho giai đoạn tiểu thuyết này mà còn có thể áp dụng cho tiến trình văn học Việt Nam các giai đoạn khác. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Luận án có thể được xem là một trong những công trình đầu tiên, tương đối có hệ thống áp dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn để nghiên cứu sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Luận án góp phần khẳng định giá trị ứng dụng của lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn đối với các vấn đề của khoa học xã hội nói chung và văn học nói riêng.
Luận án hoàn thành sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, rộng hơn là cho toàn bộ nền văn học Việt Nam.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Hoài An (2021). Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-su-doi-moi-tieu-thuyet-viet-nam-sau-1986-ly-thuyet-he-hinh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua lý thuyết hệ hình Kuhn. Khám phá những biến đổi thể loại, phong cách và tư tưởng.
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2021.
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" có 191 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo lý thuyết hệ hình" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.