Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về di sản trước tác của danh thần Trương Đăng Quế (1793–1865) thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121) do nghiên cứu sinh Hoàng Ngọc Cương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2023) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Ngọc Quận và PGS. Nguyễn Đình Phức, là một công trình tiên phong trong việc tái định vị diện mạo văn học trung đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Sống và hoạt động trải qua 43 năm phụng sự liên tục dưới ba triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, Tuy Thịnh Quận công Trương Đăng Quế không chỉ giữ vai trò trụ cột về quân sự, chính trị và ngoại giao mà còn là một tác gia Hán Nôm đồ sộ kiêm nhà lý luận phê bình xuất sắc.

Khoảng trống học thuật (Research Gap) trước công trình này xuất phát từ hiện trạng phân mảnh nghiêm trọng của nguồn tư liệu: các nghiên cứu lịch sử thường chỉ tiếp cận Trương Đăng Quế qua góc độ chính trị – quân sự hoặc tập trung vào cuộc tranh luận về trách nhiệm thời kỳ đầu Pháp xâm lược (như công trình của Trần Trọng Kim, 1920; Nam Xuân Thọ, 1957; Tsuboi Yoshiharu, 1987); trong khi đó, mảng trước tác văn học lại bị bỏ ngỏ, thiếu một hệ thống khảo dị chuẩn xác và chưa có công trình nào bao quát trọn vẹn từ văn bản học đến tư tưởng thẩm mỹ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được thiết lập chặt chẽ:

  1. Câu hỏi 1 (RQ1): Diện mạo, độ tin cậy và tiến trình lưu truyền của 23 văn bản Hán Nôm mang trước tác Trương Đăng Quế trong các thư viện quốc gia và tư gia dòng họ được giải mã như thế nào qua phương pháp hiệu khám học?
  2. Câu hỏi 2 (RQ2): Quan niệm văn học của Trương Đăng Quế đã dung hòa và chuyển hóa phạm trù "Tính linh" (lấy cảm xúc chân thực làm gốc) với chức năng "giáo hóa/trung quân ái quốc" của Nho gia chính thống ra sao?
  3. Câu hỏi 3 (RQ3): Những đặc trưng thi pháp về thể loại (cổ thể, cận thể, biểu sớ, văn bia, luận văn học thuật) và phong cách nghệ thuật "bình hòa, điển nhã" phản ánh vị thế "người đứng đầu hàng ngũ sĩ phu triều Nguyễn" như thế nào?

Khung lý thuyết của công trình tích hợp lý thuyết Văn bản học Hán Nôm cổ điển phương Đông (Tứ hiệu pháp của Trần Viên), Thuyết Tính linh (Viên Mai) tiếp biến trong bối cảnh triều Nguyễn, và Lý thuyết Xã hội học văn học (Pierre Bourdieu) về trường văn hóa và vốn biểu trưng của tầng lớp tinh hoa quan lại. Phạm vi khảo sát bao quát 23 văn bản gốc Hán Nôm gồm toàn bộ 244 bài thơ trong Trương Quảng Khê tiên sinh tập, cùng hệ thống văn xuôi chức năng đồ sộ (Quảng Khê văn tập, Trương Quảng Khê công văn tập, Thi tấu hợp biên), mang lại giá trị học thuật chuẩn xác cho tiến trình nghiên cứu văn học sử Việt Nam thời Nguyễn.

Literature Review và Positioning

Tiến trình tổng thuật lịch sử nghiên cứu về Trương Đăng Quế được phân định qua hai mạch nguồn chính: nghiên cứu lịch sử – chính trị và sưu tầm – khảo cứu văn bản thơ văn.

Về phương diện lịch sử và quan điểm kháng Pháp, học giới tồn tại những đối thoại sâu sắc. Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1920) và Nam Xuân Thọ trong Phan Thanh Giản (1957) đều xếp Trương Đăng Quế vào phe "chủ chiến", dẫn chứng biến cố sau khi đại đồn Kỳ Hòa và thành Mỹ Tho thất thủ: "Nguyễn Bá Nghi liệu thế không chống nổi với quân Pháp, dâng sớ xin giảng hoà. Nhưng quan đại thần Trương Đăng Quế ở trong triều chủ chiến, nhất quyết mưu sự chống giữ". Trái lại, một số công trình thời kỳ chiến tranh ở miền Bắc sau 1945 lại phê phán toàn bộ quan lại triều Nguyễn dưới lăng kính giai cấp thuần túy. Đến Hội thảo khoa học kỷ niệm 200 năm sinh Trương Đăng Quế (1993) do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi tổ chức, 26 bản tham luận đã mở ra cái nhìn đa chiều hơn nhưng vẫn mang tính tư biện, thiếu cứ liệu văn bản đồng bộ.

Trên diễn đàn quốc tế, công trình L'Empire vietnamien face à la France et à la Chine (1847–1885) của học giả Tsuboi Yoshiharu (1987) đã khắc họa Trương Đăng Quế như một chính khách thực dụng, quyền lực tối thượng nắm quyền chi phối triều đình Tự Đức suốt 20 năm, song tác giả lại mắc phải những ngộ nhận do thiếu đối chiếu văn bản gốc (như nhầm lẫn niên đại ban tước Quận công, hay đánh giá thiên kiến rằng ông chủ trương đàn áp dân chúng). Ở khía cạnh giao lưu khu vực, công trình của Trần Ích Nguyên (Chen Yi-yuan, 2013) tại Đài Loan chỉ ra rằng tác phẩm Nhật Bản kiến văn lục (ký hiệu A.2905) của Trương Đăng Quế là một trong những tư liệu dân tộc học sớm nhất của Việt Nam thế kỷ XIX ghi chép trực tiếp về xã hội Nhật Bản qua lời kể của 5 người lính trôi dạt năm 1815.

Về phương diện văn bản và văn học, các công trình của Trần Văn Giáp (2000), Trịnh Khắc Mạnh (2002), Lê Sơn (2007) hay bản dịch gia tộc của Trương Quang Gia (1993) đã giới thiệu rải rác từng phần tác phẩm nhưng thường nhầm lẫn định danh (như nhầm Thiệu Trị văn quy thành sách sử, nhầm lẫn giữa Quảng Khê văn tậpTrương Quảng Khê thi văn). Luận án của Hoàng Ngọc Cương định vị chính xác khoảng trống này bằng cách tiến hành giám định quy mô trên toàn bộ 23 văn bản Hán Nôm, thiết lập văn bản cơ sở đáng tin cậy và phản biện các định kiến lịch sử bằng chính hệ thống tư liệu nguyên cấp.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm sâu sắc thêm hệ thống lý thuyết tiếp nhận văn học và lý luận thi học trung đại thông qua việc chứng minh cơ chế tích hợp lý luận độc đáo của Trương Đăng Quế. Tác giả không chỉ kế thừa Thuyết Tính linh (Xingling Theory) của Viên Mai thời Thanh – vốn đề cao cá tính sáng tạo, cảm xúc tự nhiên, cởi bỏ ràng buộc giáo điều – mà còn tái cấu trúc nó trong khuôn khổ đạo đức Nho giáo cung đình Việt Nam.

Hệ thống mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions) được xác lập:

  • Mệnh đề P1: Phạm trù "Tính linh" trong thi học Trương Đăng Quế là "căn bản" của việc làm thơ, nhưng tính linh ấy bắt buộc phải gắn liền với bản tính lương thiện thuần hậu và trách nhiệm xã hội ("thượng trí quân, hạ trạch dân").
  • Mệnh đề P2: Nghệ thuật chân chính là sự thống nhất hữu cơ giữa thiên bẩm xúc cảm (tính linh), năng lực học vấn uyên bác (đọc rộng trau dồi điển tịch) và chức năng giáo hóa chính trị.

Sự chuyển dịch mô thức (Paradigm shift) nằm ở chỗ: luận án bác bỏ quan niệm giản đơn coi thi ca quan lại triều Nguyễn là khuôn sáo, thù tạc thuần túy, chứng minh qua thực chứng rằng thơ văn Trương Đăng Quế là một chỉnh thể nghệ thuật phản ánh sâu sắc bi kịch nội tâm của một đại thần trước vận mệnh chuyển giao lịch sử.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được kiến tạo dựa trên sự giao thoa tam giác học thuật:

  1. Văn bản học Hán Nôm & Hiệu khám học: Ứng dụng quy trình Tứ hiệu pháp kết hợp luật tỵ huý triều Nguyễn nhằm phục dựng diện mạo nguyên bản của tác phẩm.
  2. Thi pháp học thể loại & Ngữ văn học: Phân tích thi pháp cấu trúc, đối sánh hệ thống vần luật, nghệ thuật đối ngẫu giữa thơ cổ thể (Cổ phong, Nhạc phủ) và thơ cận thể (Thất ngôn bát cú Đường luật).
  3. Xã hội học văn hóa & Sử liệu học: Đặt tác phẩm vào tọa độ không gian chính trị – xã hội thời Nguyễn (từ công cuộc kinh lý đo đạc 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1836, quản lý đê điều Bắc Kỳ năm 1850, đến các biến cố ngoại xâm 1858–1862).

Điều kiện biên (Boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: tập trung vào hệ thống trước tác chữ Hán của Trương Đăng Quế được lưu giữ trong các biệt tập và hợp tập giai đoạn 1820–1865 và các bản khắc in trùng san giai đoạn Tự Đức – Thành Thái.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành trên nền tảng triết học thực chứng thư tịch học (Documentary Philology) kết hợp thông giải học lịch sử (Historical Hermeneutics). Thiết kế đa phương pháp định tính kết hợp định lượng thống kê thư mục được triển khai ở hai cấp độ:

  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Khảo sát từng tự dạng, từng dị bản văn tự, đối chiếu sự biến đổi từ ngữ qua các bản khắc gỗ và bản chép tay.
  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Đặt toàn bộ trước tác trong trường văn học cung đình và văn hóa khu vực Đông Á thế kỷ XIX.

Mẫu khảo sát tuyệt đối gồm 23 văn bản Hán Nôm hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN), Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia (TTLTQG I & II) và tư gia dòng họ Trương (xã Tịnh Khê, TP. Quảng Ngãi).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình khảo cứu văn bản thực hiện nghiêm ngặt qua 4 thao tác của Tứ hiệu pháp (Trần Viên, 1931):

  • Đối hiệu pháp (Bản bản hiệu): So sánh xuyên văn bản giữa các bản in Trương Quảng Khê tiên sinh tập năm Tự Đức 10 (1857, tàng bản tại Mặc Vân sào của Miên Thẩm), bản trùng san Tự Đức 36 (1883 tại chùa Đồng Nhân, Bắc Ninh), và bản chép tay Trương Quảng Khê thi văn (ký hiệu VHv.151) để lập bảng khảo dị chi tiết.
  • Bản hiệu pháp: Đối chiếu mạch văn trước sau trong cùng một tác phẩm để phát hiện lỗi khắc lầm tự dạng hoặc rách mục.
  • Tha hiệu pháp: Dẫn chiếu các tư liệu sử học quan phương (Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Quốc triều hương khoa lục) và trước tác của các tác gia đồng thời (Tùng Thiện vương Miên Thẩm, Tuy Lý vương Miên Trinh, Phan Thanh Giản, Đặng Huy Trứ) để xác minh bối cảnh sáng tác.
  • Lý hiệu pháp: Vận dụng ngữ nghĩa học Hán văn cổ để hiệu chính và biện giải các chữ sai sót khó đọc.

Phương pháp Tỵ huý học được vận dụng triệt để: khảo sát các chữ kiêng huý qua các triều đại (như chữ Đản 誕 đổi thành Quang Đản 晃暲 năm 1884 do kiêng huý tên vua Kiến Phúc là Ưng Đăng 膺登) nhằm giám định niên đại chính xác của các bản chép tay. Nghiên cứu kết hợp điều tra điền dã thực địa tại làng Mỹ Khê Tây (xã Tịnh Khê), đối chiếu gia phả dòng tộc Trương Đăng và hệ thống văn bia mộ chí do Tuy Lý vương Miên Trinh soạn.

Data và phân tích

Toàn bộ ngữ liệu được xử lý qua 7 bảng thống kê chuyên biệt trong luận án:

  • Bảng số 01: Thống kê toàn bộ số lượng thơ văn theo thể loại.
  • Bảng số 02 & 03: Thống kê thơ trong Hoa trình thi tập và các bài bổ sung mới cho nhóm văn bản số 01.
  • Bảng số 04: Tổng hợp số bài thơ văn từ nhóm văn bản số 1 và số 2 (xác lập văn bản cơ sở).
  • Bảng số 05, 06, 07: Thống kê, phân loại và đối so sánh đặc điểm cấu trúc giữa thơ cổ thể (chiếm tỉ lệ đáng kể với lối diễn đạt phóng khoáng) và cận thể Đường luật (chiếm ưu thế tuyệt đối về sự chuẩn mực niêm luật), cùng hệ thống văn xuôi chức năng gồm 11 bài biểu, 2 văn bia, 1 minh, 1 hành thuật, 6 bài tựa, 8 thư tín ngoại giao/bằng hữu, và 3 bài giảng chuyên luận (Thi học, Truyện học, Sử học).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Phục dựng chính xác hệ thống văn bản và đính chính các sai lầm học thuật lịch sử: Luận án chứng minh tác phẩm Giáp Thìn khoa điện thí văn (1844) vốn chỉ là tập văn thi Đình của các tân khoa (như Nguyễn Văn Phú) do Trương Đăng Quế làm quan đọc quyển chứ ông không phải tác giả; tập Giang đình yến tập thực chất là tập thơ tiễn biệt do đình thần và công chúa Mai Am tập hợp khi Trương Đăng Quế về hưu năm 1863; giải mã chuẩn xác xuất xứ tập Trương Quảng Khê thi văn (VHv.151) có tựa của Đặng Huy Trứ in năm 1873 tại chùa Giác Viên Hà Nội.
  2. Phát hiện tư liệu dân tộc học và giao lưu quốc tế quý hiếm: Khảo cứu và dịch chú tác phẩm Nhật Bản kiến văn lục (A.2905), ghi lại sự kiện 5 người lính Việt Nam bị bão cuốn trôi dạt sang Nhật Bản năm Gia Long 14 (1815) và được cứu giúp trở về, qua đó khẳng định tư duy cởi mở, tinh thần ghi chép phong tục học và ý thức hướng biển của Trương Đăng Quế từ rất sớm.
  3. Làm sáng tỏ căn tính trung nghĩa và đạo hiếu gia tộc: Qua phân tích bài tự thuật trong Quảng Khê văn tập (quyển hạ, tờ 21b), luận án trích xuất chứng cứ về lời dạy của mẹ ông (bà Đỗ Thị Thiết): "Mẹ tôi từng răn dạy các anh trai và Quế tôi rằng: Phải nên cố gắng chăm học, đó là chí hướng của cha con, nghèo hèn là lẽ thường của kẻ sĩ, chẳng phải là điều đáng lo, nếu học mà có ích cho thân tâm, thì ông trời há phụ người đọc sách ư!". Lời huấn thị này giải mã căn nguyên của phong cách "giữ mình khiêm tốn, chính trực, ăn mặc giản dị sơ sài không khác lúc chưa làm quan" suốt hơn 40 năm giữ chức Tể phụ.
  4. Tái định vị bản lĩnh chính trị và tư tưởng đối ngoại biện chứng: Luận án làm rõ diễn biến tư tưởng của Trương Đăng Quế: từ chủ trương nghị hòa tạm thời (1858–1859) nhằm tranh thủ thời cơ bồi dưỡng binh lực do nhận thức rõ tương quan vũ khí chênh lệch, chuyển biến kiên quyết sang lập trường chủ chiến sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (1861), và kịch liệt phản đối việc ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (1862) cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp.
  5. Xác lập thi tài và thi pháp "Bình hòa điển nhã": Thơ văn Trương Đăng Quế phản ánh sự hài hòa mẫu mực giữa tình cảm chân thực (tình mẹ con, nghĩa vợ chồng, tình thầy trò với các hoàng tử Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương) và trách nhiệm trước dân sinh thể hiện qua di chiếu vua Thiệu Trị ghi nhận: "Trương Thái Bảo giúp trẫm lo toan trị nước đã bao năm nay, dân yên, nước thịnh, văn trị, võ thành, thường đem lòng trung lương giúp nước yêu vua".

Implications đa chiều

  • Về lý luận: Đóng góp một trường hợp điển hình cho lý thuyết tiếp biến văn học Đông Á: sự dung hợp giữa mỹ học Tính linh thời Thanh và chủ nghĩa chức năng Nho giáo Việt Nam, tạo nên một khuynh hướng thi học dung hòa đặc trưng của tầng lớp trí thức triều Nguyễn.
  • Về phương pháp luận: Cung cấp quy trình mẫu chuẩn mực trong xử lý văn bản Hán Nôm phức tạp (nhiều dị bản, thất lạc tiêu đề, trùng san nhiều thời kỳ) cho giới nghiên cứu Hán Nôm và Văn học trung đại.
  • Về thực tiễn xã hội và chính sách: Đưa ra cơ sở tư liệu chuẩn xác để các cơ quan quản lý văn hóa, hội đồng khoa học lịch sử đánh giá công bằng, khách quan về các danh nhân triều Nguyễn, phục vụ công tác đặt tên đường, tôn tạo di tích lịch sử dòng họ Trương tại Quảng Ngãi.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu:

  1. Tập tác phẩm Tây Sơn bí lục (tương truyền Trương Đăng Quế viết về nhà Tây Sơn) sau quá trình điền dã và khảo sát thư tịch hiện vẫn để ở dạng "tồn nghi" do bản chép Nguyễn thị Tây Sơn ký (A.3138) khuyết danh, không ghi niên đại và lời tự bạt, chưa đủ chứng cứ xác quyết quyền tác giả.
  2. Bản dịch tác phẩm Nhật Bản kiến văn lục chưa giải mã trọn vẹn toàn bộ phần phụ lục ghi âm tiếng Nhật cổ do rào cản ngữ âm học lịch sử đối chiếu Hán – Nhật thế kỷ XIX.
  3. Tập thơ thất truyền Giang đình yến tập (hơn 1.000 bài thơ tiễn tống của vương công, triều thần) hiện chưa tìm thấy văn bản gốc trọn vẹn, chỉ mới khảo cứu gián tiếp qua ghi chép trong Diệu Liên tập của Mai Am.

Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future agenda) bao gồm:

  • Mở rộng tầm khảo sát tư liệu sang kho lưu trữ tàng bản tại Pháp (EFEO, Thư viện Quốc gia Pháp) và Văn khố ngoại giao triều Thanh (Trung Quốc) để tìm kiếm các văn bản sao chép thất lạc.
  • Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) cho văn bản chữ Hán Nôm để phân tích trường từ vựng và tần suất phong cách học định lượng của nhóm tác giả thi đàn Bình Hưng / Mặc Vân sào.
  • Khảo sát chuyên sâu mảng văn xuôi hành chính – sử liệu của Trương Đăng Quế trong mối tương quan với các bộ chính sử quốc gia (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật (Academic Impact): Công trình tạo lập một bản dịch chú và văn bản học hoàn chỉnh nhất hiện nay về tác gia Trương Đăng Quế, dự kiến trở thành tài liệu quy chiếu bắt buộc cho các công trình nghiên cứu văn học thời Nguyễn, lịch sử Nam Bộ thế kỷ XIX và bang giao khu vực.
  • Chuyển hóa giáo dục (Educational Impact): Cung cấp ngữ liệu văn bản học chuẩn xác phục vụ trực tiếp công tác biên soạn giáo trình Văn học Việt Nam trung đại tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội nhân văn trên cả nước.
  • Ý nghĩa lịch sử – xã hội (Societal & Cultural Benefits): Góp phần giải tỏa những định kiến cực đoan về nhân vật lịch sử Trương Đăng Quế, tái hiện chân dung một bậc "Lưỡng triều Cố mạng lương thần", "Tam triều thạc phụ", thanh liêm, chính trực, cống hiến trọn đời cho sự ổn định bờ cõi và kiến thiết văn hiến dân tộc.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận phương pháp luận văn bản học Hán Nôm mẫu mực, nắm vững quy trình xử lý dị bản và kỹ thuật giải mã văn bản học lịch sử.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu văn học và sử học: Sở hữu nguồn tư liệu dịch chú chuẩn xác, đáng tin cậy về tác gia lớn của văn học triều Nguyễn và các công trình quy hoạch địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh năm 1836.
  • Các nhà quản lý văn hóa và địa phương: Có căn cứ khoa học vững chắc để bảo tồn, xếp hạng di tích lịch sử Mộ và Nhà thờ Trương Đăng Quế tại Tịnh Khê, Quảng Ngãi, cùng các chương trình vinh danh danh nhân văn hóa dân tộc.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc chứng minh sự khúc xạ và bản địa hóa của Thuyết Tính linh (Viên Mai) trong tư tưởng thi học Trương Đăng Quế: chuyển hóa tính linh từ khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa, phóng túng thẩm mỹ thuần túy thời Thanh sang một hệ giá trị gắn liền với Nho giáo chính thống, xem tính linh là gốc nhưng phải được tôi luyện bằng học vấn uyên bác và hướng tới trách nhiệm phụng sự nhân sinh.
  2. Đột phá về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở điểm nào? So với nghiên cứu của Trần Văn Giáp (2000) hay Lê Sơn (2007) vốn chỉ dừng ở mức thống kê thư mục giản đơn hoặc dịch thơ thoát nghĩa không có bản dịch nghĩa, luận án áp dụng toàn diện Tứ hiệu pháp của Trần Viên kết hợp Tỵ huý học trên 23 văn bản Hán Nôm, đối soát tận gốc các sai lệch văn bản học tồn tại hàng thế kỷ.
  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng là gì? Sự bác bỏ hoàn toàn quan điểm của học giả quốc tế Tsuboi Yoshiharu (1987) về thái độ chính trị của Trương Đăng Quế. Bằng việc đối chiếu các tấu sớ trong Đại Nam thực lụcTrương Quảng Khê công văn tập, luận án chứng minh ông kiên quyết phản đối việc cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp và thể hiện một nhân cách sống thanh bạch hiếm có: "làm quan hơn 40 năm, ngồi ở chức Tể tướng, thế mà ăn mặc giản dị sơ sài, không khác gì lúc chưa làm quan".
  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập văn bản (Replication Protocol) rõ ràng không? Có. Luận án xây dựng 7 bảng biểu thống kê chi tiết, mã hóa ký hiệu văn bản theo chuẩn lưu trữ quốc tế (A.1098, A.2905, A.3045, VHv.151...), ghi chú chính xác từng số tờ, dòng chữ khắc và đối chiếu dị văn từng dòng, cho phép bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể kiểm chứng độc lập.
  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo thế nào? Tập trung thực hiện toàn tập Trương Đăng Quế toàn tập (gồm cả mảng văn thư hành chính và chỉ đạo biên soạn sử quán), kết hợp đối chiếu liên văn bản với các tác gia thi xã Mặc Vân sào trong tiến trình hiện đại hóa văn học Đông Á nửa sau thế kỷ XIX.

Kết luận

  1. Khảo sát toàn diện di sản Hán Nôm: Hoàn thành việc phân loại, giám định và lập bảng khảo dị cho 23 văn bản Hán Nôm chứa đựng tác phẩm thơ văn của Trương Đăng Quế.
  2. Hiệu đính và dịch chú quy mô: Thực hiện phiên âm, dịch nghĩa, chú thích khoa học cho toàn bộ 244 bài thơ trong Trương Quảng Khê tiên sinh tập và hệ thống văn xuôi chức năng đồ sộ.
  3. Đính chính các sai lầm lịch sử văn bản: Bác bỏ tính chất tác giả của Trương Đăng Quế đối với Giáp Thìn khoa điện thí văn, xác định bản chất thực của Giang đình yến tập và làm rõ lai lịch ấn bản Trương Quảng Khê thi văn năm 1873.
  4. Khẳng định tư tưởng thi học Tính linh dung hợp: Làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật độc đáo lấy tính linh làm gốc, kết hợp trau dồi học vấn và ý thức trung quân ái quốc.
  5. Phục dựng bức chân dung lịch sử khách quan: Chứng minh tư cách danh nhân văn hóa, nhà quy hoạch lãnh thổ (địa bạ Nam Kỳ 1836), nhà chỉ đạo sử học hàng đầu (Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện) và bậc danh thần thanh liêm, chính trực của dân tộc Việt Nam thời cận đại.