Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc" của nghiên cứu sinh Trần Thanh Thủy (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 34 01, dưới sự hướng dẫn của GS. TS Trần Ngọc Vương tại Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) là công trình tiên phong xác lập hệ thống chỉnh thể về một vùng văn học từng bị phân mảnh trong lịch sử văn học nước nhà. Trong bối cảnh lịch sử phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn hai thế kỷ (1600 - 1802), không gian văn hóa phương Nam đã sản sinh ra một thực thể văn học độc lập về diện mạo nhưng thống nhất về căn tính dân tộc. Luận án giải quyết triệt để khoảng trống nghiên cứu (research gap) tồn tại suốt nhiều thập kỷ: sự thiếu vắng một công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn bộ văn học Đàng Trong từ góc độ cấu trúc hình thái học và tiến trình văn học sử, vượt qua các khảo sát lát cắt đơn lẻ hoặc định kiến xem nhẹ giá trị văn chương phương Nam.

Công trình giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu và kiểm chứng 4 giả thuyết học thuật then chốt:

  1. Câu hỏi 1 (RQ1): Các nhân tố địa - văn hóa, cấu trúc cư dân đa tộc người và mô hình Nho giáo lệch chuẩn tại Đàng Trong đã quy định diện mạo văn học vùng như thế nào?
    • Giả thuyết 1 (H1): Học phong không chuộng từ chương cử nghiệp kết hợp với cấu trúc dân cư trọng võ và tầng lớp lưu dân đã giải phóng năng lực sáng tạo, thúc đẩy văn học chữ Nôm cùng các thể loại diễn xướng dân gian phát triển vượt bậc so với Đàng Ngoài.
  2. Câu hỏi 2 (RQ2): Văn học Đàng Trong sở hữu những đặc trưng loại hình tác giả, nội dung phản ánh, thể loại và ngôn ngữ nào khi đặt trong thế tương quan đối sánh với Đàng Ngoài?
    • Giả thuyết 2 (H2): Đội ngũ tác giả Đàng Trong mang tâm thức ly khai và dung hợp ("cư Nho mộ Thích", "nho mà không nho"), hình thành nên lối phản ánh hiện thực trực diện và hệ thống ngôn từ đậm chất thổ ngơi, mộc mạc.
  3. Câu hỏi 3 (RQ3): Đàng Trong đóng vai trò tiên phong gì trong việc khai mở và hoàn thiện các thể loại tự sự trường thiên của văn học trung đại Việt Nam?
    • Giả thuyết 3 (H3): Đàng Trong là cái nôi khởi phát của truyện Nôm bác học (Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào) và tiểu thuyết chương hồi lịch sử (Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm), giữ vai trò động lực dội ngược ảnh hưởng văn học ra phía Bắc.
  4. Câu hỏi 4 (RQ4): Không gian văn học phương Nam đã tái cấu trúc và hoàn chỉnh bản đồ văn học dân tộc ra sao?
    • Giả thuyết 4 (H4): Sự thiết lập của 3 trung tâm văn học lớn (Thuận - Quảng, Chiêu Anh Các - Hà Tiên, Gia Định) đã lấp đầy nửa phần lãnh thổ phía Nam, định hình một cực văn hóa năng động trong tiến trình phát triển văn học Đại Việt.

Khung lý thuyết của luận án được kiến tạo trên sự tích hợp giữa Lý thuyết phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu), Lý thuyết cấu trúc - loại hình tiến trình văn học sử (Trần Ngọc Vương) và Lý thuyết tiếp cận văn hóa học trong giải mã mã nghệ thuật (Trần Nho Thìn). Phạm vi nghiên cứu bao quát 202 năm lịch sử (1600 - 1802), khảo sát toàn bộ trước tác văn chương hình tượng (chữ Hán và chữ Nôm) từ bờ nam sông Gianh đến Hà Tiên, tái thẩm định hơn 50 tác gia tiêu biểu cùng hàng trăm văn bản tác phẩm, mang lại ý nghĩa đột phá trong việc tái lập lịch sử văn học Việt Nam trên cơ sở đa trung tâm và đa vùng văn hóa.

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu văn học Đàng Trong ghi nhận sự bất đối xứng sâu sắc giữa hai miền Nam - Bắc trong các công trình văn học sử kinh điển suốt thế kỷ XX:

  • Dương Quảng Hàm (1943, 1950) trong Việt Nam văn học sử yếu chỉ dành vài trang sơ lược ở chương IX và X cho Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh, Hoàng Quang, Đặng Đức Siêu.
  • Hạo Nhiên Nghiêm Toản (1949, 1968) trong Việt Nam văn học sử trích yếu thừa nhận sự thiếu sót tư liệu về tác phẩm miền Nam là một "sự bất đắc dĩ, chứ không phải cố tình".
  • Nhóm Lê Quý Đôn (Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Trương Chính, Lê Thước - 1957), Ban Văn - Sử - Địa (1957 - 1964), và Bùi Văn Nguyên (1961) bước đầu ghi nhận Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Hào nhưng vẫn coi văn học phương Nam chỉ là nhánh phụ lưu non trẻ xây dựng trên vùng đất mới.
  • Phạm Thế Ngũ (1963) trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên đưa ra nhận định mang tính định kiến rằng "Miền Nam nói chung thiếu cái phong vị văn học, cái không khí thông thái cao đạt... thiếu bóng nhà nho, và thơ phú văn chương chẳng dễ nảy nở như ở miền Bắc".
  • Phạm Việt Tuyền (1965), Nguyễn Văn Sâm (1974), Nguyễn Q. Thắng (1990, 2007), và Cao Tự Thanh (2007) đã nỗ lực phục hồi diện mạo văn chương Nam Hà, song phần lớn dừng lại ở chuyên luận tác gia hoặc tập hợp tư liệu biên niên chưa đặt trong tương quan so sánh toàn diện với Đàng Ngoài.

Về mặt học thuật, tồn tại hai luồng quan điểm đối lập gay gắt: một bên theo xu hướng phủ nhận, tiêu biểu là phát biểu cực đoan của nhóm Sáng Tạo rằng "Văn nghệ miền Nam không có quá khứ"; đối lập với quan điểm khẳng định tính chất tiên phong, tự chủ của văn học phương Nam với đặc trưng "nặng về nói và trình diễn" của Nguyễn Văn Xuân hay nhận định của Bùi Đức Tịnh (2005): "văn học Đàng Trong chỉ là một bộ phận của văn học dân tộc nảy nở trong hoàn cảnh đặc biệt". Đồng thời, các cuộc tranh luận về mốc phân kỳ lịch sử khởi đầu (1558 khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, 1600 khi ông dứt áo ly khai về Nam, hay 1630 khi chúa Sãi tuyên bố "Dư bất thụ sắc") và mốc kết thúc (1774, 1778 hay 1802) phản ánh tính chất phức tạp trong việc xác định tọa độ lịch sử.

Luận án định vị nghiên cứu tại điểm giao thoa giữa văn học sử và địa lý văn hóa, xác lập mốc 1600 - 1802 như một thực thể địa - chính trị và địa - văn hóa trọn vẹn. Để mở rộng tầm vóc quốc tế, công trình đặt văn học Đàng Trong vào thế đối sánh với:

  1. Luận thuyết biên cương (Frontier Thesis) của Frederick Jackson Turner (1893): Lý giải cách môi trường biên cương phương Nam tái nhào nặn tâm thức cá nhân, phá vỡ khuôn mẫu Nho giáo kinh viện Thăng Long để kiến tạo tính cách phóng khoáng, thực tế và dân chủ hơn.
  2. Nghiên cứu văn hóa di dân và vùng Lĩnh Nam của Edward Schafer (1967) và Wang Gungwu (1991): Phân tích sự hỗn dung giữa các dòng di dân tỵ nạn chính trị (Minh hương), bản địa (Chăm, Khmer) và quyền lực trung tâm, chứng minh quá trình mở cõi văn học phương Nam tuân theo quy luật tiếp biến văn hóa đa tầng.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kế thừa và phát triển vượt bậc Lý thuyết phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc do học giả Trần Đình Hượu khởi xướng. Như Trần Đình Hượu từng đúc kết: vùng đất mới "trong sự phát triển có nhược điểm là thiếu truyền thống lâu đời nhưng vì là mới nên lại dễ tiếp nhận cái đương đại nhanh chóng, đi vào tương lai nhẹ nhõm". Nghiên cứu chứng minh rằng sự "khiếm khuyết" về truyền thống thi cử cử nghiệp nghìn năm không phải là điểm nghẽn, mà là động lực thúc đẩy tính hiện đại và tính đại chúng hóa văn học.

Hệ thống luận đề lý thuyết của công trình được mô hình hóa qua 3 mệnh đề:

  • Mệnh đề 1 (Proposition 1): Mô hình Nho giáo "lệch chuẩn" và cấu trúc "cư Nho mộ Thích" tạo ra kiểu chủ thể sáng tạo "nho mà không nho, không nho mà nho" (Cao Tự Thanh), giải phóng văn học khỏi chức năng "tải đạo", "ngôn chí" gò bó để hướng đến chức năng tự biểu hiện và thẩm mỹ thực tế.
  • Mệnh đề 2 (Proposition 2): Tính chất đa tộc người (Việt, Chăm, Hoa, Khmer, Thượng) và xã hội thương cảng mở tạo nên mã văn hóa hỗn dung, thúc đẩy khuynh hướng thế tục hóa, bình dân hóa ngôn ngữ văn học.
  • Mệnh đề 3 (Proposition 3): Tương quan địa - văn hóa tạo ra sự đảo chiều tiếp nhận: trung tâm văn học mới ở ngoại vi biên cương có khả năng sản sinh ra các thể loại tiên phong (truyện Nôm bác học, tiểu thuyết chương hồi, tuồng, ngâm khúc biến thể) dội tầm ảnh hưởng ngược lại trung tâm văn hóa truyền thống.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: Văn hóa học lịch sử, Địa lý học văn học (Literary Geography) và Loại hình học thể loại.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  BỐI CẢNH ĐỊA - VĂN HÓA ĐÀNG TRONG                      |
| (Mô hình Nho giáo lệch chuẩn - Đa tộc người - Thương nghiệp thương cảng)|
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|                LOẠI HÌNH TÁC GIẢ MANG TÂM THỨC PHƯƠNG NAM               |
|          (Nhà Nho hành đạo thực tiễn - Võ tướng - Nho sĩ Minh hương)    |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                  +------------------+------------------+
                  v                                     v
+----------------------------------+ +------------------------------------+
|        ĐỘT PHÁ THỂ LOẠI          | |         ĐẶC TRƯNG THẨM MỸ          |
| - Truyện Nôm bác học             | | - Ngôn ngữ mộc mạc, đậm thổ ngơi   |
| - Tiểu thuyết chương hồi         | | - Hình tượng người hào kiệt thời   |
| - Vãn, vè, tuồng trình diễn      | |   loạn                             |
+----------------------------------+ +------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|                 HOÀN CHỈNH BẢN ĐỒ VĂN HỌC DÂN TỘC                       |
|   (Thiết lập 3 trung tâm: Thuận Quảng - Chiêu Anh Các - Gia Định)       |
+-------------------------------------------------------------------------+

Các khái niệm then chốt được thao tác hóa nghiêm ngặt:

  • Tâm thức Đàng Trong: Ý thức tự chủ về không gian địa - chính trị độc lập gắn liền với công cuộc khai phá phương Nam và lòng trung thành với thiết chế chính quyền chúa Nguyễn, phân biệt với tâm thế du quan hay ký lục của kẻ bàng quan.
  • Tọa độ tác giả: Tiêu chí phân định chủ thể sáng tạo Đàng Trong không thuần túy dựa trên nơi sinh mà căn cứ vào ý thức xác tín phụng sự xứ sở, chấp nhận thổ nhưỡng và tâm thức cộng đồng phương Nam.
  • Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích áp dụng nghiêm ngặt cho bộ phận văn chương hình tượng giai đoạn 1600 - 1802; không bao gồm văn bản hành chính thuần túy, tác phẩm của các đoàn sứ thần phương Bắc ghé qua ngắn hạn hoặc sáng tác của triều Tây Sơn mang âm hưởng Thăng Long - Phú Xuân.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành theo hệ hình Thông diễn học văn hóa - lịch sử (Cultural-Historical Hermeneutics) kết hợp Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design) được cấu trúc chặt chẽ qua 3 cấp độ:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Toàn bộ tiến trình văn học dân tộc Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): Tương quan vùng Đàng Trong - Đàng Ngoài và mối liên kết mạng lưới giữa 3 trung tâm văn học phương Nam.
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Cấu trúc văn bản, thi pháp thể loại, thi liệu, ngữ âm và hệ thống hình tượng của từng tác gia tiêu biểu.

Khảo sát mẫu (Sample selection) đạt tính toàn diện với toàn bộ các trước tác Hán - Nôm hình tượng còn lưu giữ trong các bộ thư tịch lớn: Tổng tập văn học Việt Nam (tập 6 đến 14), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập II, III), Phủ biên tạp lục, Nam triều công nghiệp diễn chí, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam thực lục tiền biên, Hải ngoại kỷ sự, Nam hành ký đắc tập, Nam Hà tiệp lục, Nam Hà ký văn.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu tuân thủ tiêu chí dung nạp/loại trừ (Inclusion/Exclusion criteria) dựa trên khái niệm "tâm thức Đàng Trong":

  • Tiêu chuẩn dung nạp: Tác giả người Việt, người Minh hương định cư lâu năm sáng tác trong không gian địa lý từ sông Gianh đến Hà Tiên từ năm 1600 đến 1802 mang ý thức xác tín về vùng đất.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Loại trừ các tác phẩm ghi chép của người vãng lai như hòa thượng Thích Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự), quan chức Đàng Ngoài sau 1774 như Lê Quý Đôn (Phủ biên tạp lục), Phạm Nguyễn Du (Nam hành ký đắc tập) vì họ sáng tác với tâm thế quan sát "xứ người" thuộc truyền thống Đàng Ngoài; loại trừ văn học quan phương thời Tây Sơn tại Phú Xuân mang hệ hình tư tưởng khác biệt.

Quy trình bảo đảm độ tin cậy và giá trị khoa học (Triangulation & Validity):

  • Tam giác hóa dữ liệu (Data triangulation): Đối chiếu chéo giữa văn bản văn học, chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục), địa chí (Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục) và hồi ký giáo sĩ phương Tây (Philiphê Bỉnh, Alexandre de Rhodes).
  • Tam giác hóa lý thuyết (Theory triangulation): Kết hợp thi pháp học lịch sử, xã hội học văn học và nhân học văn hóa.
  • Độ tin cậy cấu trúc (Construct validity): Quy chuẩn hóa việc phiên âm tên tác giả theo âm điệu bản địa Đàng Trong (Nguyễn Phước Châu, Nguyễn Phước Tứ, Ngô Nhơn Tịnh).

Data và phân tích

Phân tích văn bản sử dụng kỹ thuật mã hóa diễn ngôn và thông diễn liên văn bản (Hermeneutic textual analysis), kết hợp ma trận so sánh lịch sử - loại hình (Historical-Comparative Matrix). Nghiên cứu tiến hành lập bản đồ địa lý văn học (Literary GIS Mapping) định vị sự dịch chuyển không gian từ trung tâm Thuận - Quảng (thế kỷ XVII) lan tỏa vào Hà Tiên và Gia Định (thế kỷ XVIII). Việc kiểm tra tính vững chắc (Robustness checks) được thực hiện bằng cách đối chiếu các dị bản chữ Nôm của Song Tinh Bất Dạ, Sãi Vãi, Hoài Nam khúc để xác lập niên đại và tính chuẩn xác của văn bản học.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Giải mã mô hình Nho giáo lệch chuẩn và hiện tượng "Cư Nho mộ Thích": Khác với Đàng Ngoài duy trì Nho giáo kinh viện độc tôn, Đàng Trong vận hành theo thiết chế quân sự hóa mang màu sắc phức hợp Đông Nam Á. Lực lượng lãnh đạo xuất thân võ tướng Thanh Hóa kết hợp lòng sùng tín Phật giáo Đại thừa để đoàn kết các cộng đồng di dân. Các chúa Nguyễn tự xưng "Quốc chủ Thiên Túng đạo nhân", "Quốc chủ Vân Tuyền đạo nhân", biến vương quyền đồng nhất với giáo quyền. Điều này tạo nên kiểu trí thức hành động thực tiễn, phóng khoáng, sản sinh lối văn chương tự nhiên, mộc mạc, không câu nệ điển cố quy phạm.
  2. Học phong thực dụng và bước nhảy vọt của văn học chữ Nôm: Việc các chúa Nguyễn trong hơn 100 năm không tổ chức thi Tiến sĩ, chỉ duy trì quận thí và hội thí tuyển chọn lại viên hành chính ("Ở hai trấn Thuận Quảng và vùng chúa Nguyễn kiểm soát việc học tập và thi cử không phát triển bằng ở khu vực do chúa Trịnh kiểm soát") đã tạo ra một hiệu ứng bất ngờ. Đúng như Hoàng Xuân Hãn nhận định: "Dân gian và nho sĩ vẫn chuộng hay sáng tác văn phẩm bằng quốc âm. Sự ít có khoa thi cử đã không thúc đẩy sĩ phu chuyên học từ chương cử nghiệp. Đó cũng làm thuận lợi cho quốc văn". Giới cầm bút không bị trói buộc bởi văn chương cử tử hư văn, dẫn đến sự bùng nổ của thơ Nôm lục bát (Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn), truyện Nôm, thể vãn, vè và tuồng.
  3. Khởi xướng hai thể loại tự sự trường thiên của nền văn học dân tộc: Luận án chứng minh xác đáng rằng Đàng Trong nắm giữ quyền tiên phong mở đầu cho hai đỉnh cao tự sự:
    • Truyện Nôm bác học: Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào (đầu thế kỷ XVIII) đặt nền móng thể loại trước khi truyện Nôm Đàng Ngoài đạt tới thời kỳ hoàng kim cuối thế kỷ XVIII.
    • Tiểu thuyết chương hồi lịch sử: Nam triều công nghiệp diễn chí (tức Nguyễn triều khai quốc công nghiệp diễn chí) của Nguyễn Khoa Chiêm (hoàn thành 1719), vượt trước Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái hơn nửa thế kỷ.
  4. Sáng tạo hình tượng thẩm mỹ mới - Người hào kiệt thời loạn: Thay cho mẫu hình nhà nho ẩn dật, chí sĩ hành đạo khắc kỷ của văn học miền Bắc, văn học Đàng Trong đúc kết nên hình tượng người anh hùng khai phá, người hào kiệt đa tài, xốc vác, giàu tính hành động và chất trượng phu (tiêu biểu qua hình tượng Đào Duy Từ, các nhân vật trong tuồng San Hậu, các bài văn tế tướng sĩ trận vong của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành).
  5. Kiến tạo và hoàn thiện bản đồ văn học Việt Nam với 3 trung tâm lớn:
    • Trung tâm Thuận - Quảng: Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Cư Trinh.
    • Trung tâm Hà Tiên (Chiêu Anh Các): Mạc Thiên Tích cùng 36 thi hữu Việt - Hoa với thi tập Hà Tiên thập vịnh nổi danh khắp vùng Nam Trung Hoa và Đông Nam Á.
    • Trung tâm Gia Định: "Gia Định tam gia" (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh) cùng trường phái Võ Trường Toản, mở ra dòng văn học phương Nam rực rỡ đầu thế kỷ XIX.

Implications đa chiều

  • Về lý thuyết: Tái cấu trúc khung lý thuyết văn học sử Việt Nam theo mô hình đa trung tâm, đa hệ sinh thái văn hóa; xóa bỏ hoàn toàn định kiến lấy văn học Thăng Long - Kinh kỳ làm chuẩn mực duy nhất để định giá toàn bộ nền văn học dân tộc.
  • Về phương pháp luận: Cung cấp quy trình mẫu về nghiên cứu vùng văn học (Regional literary studies) tích hợp địa lý - văn hóa - lịch sử, có thể chuyển giao áp dụng cho các vùng văn học đặc thù khác như văn học di dân Tây Bắc, văn học Tây Nguyên hay văn học hải ngoại.
  • Về ứng dụng thực tiễn và chính sách giáo dục: Cung cấp cơ sở khoa học để tái cơ cấu chương trình giảng dạy Lịch sử Văn học Việt Nam ở bậc đại học và trung học phổ thông; bổ sung các tác gia Đàng Trong (Song Tinh Bất Dạ, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hà Tiên thập cảnh khúc) vào hệ thống sách giáo khoa chuẩn quốc gia.
  • Về bảo tồn di sản: Định vị giá trị các di tích văn học như Tao đàn Chiêu Anh Các (Hà Tiên), Lũy Thầy (Quảng Bình), mộ Võ Trường Toản (Bến Tre) trong chiến lược phát triển du lịch văn hóa di sản phương Nam.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận 3 giới hạn khoa học:

  1. Giới hạn tư liệu Hán Nôm nguyên bản: Do điều kiện lịch sử chiến tranh tàn phá và phân tán tư liệu, một số phân tích phải dựa trên các bản dịch quốc ngữ thay vì toàn bộ nguyên bản văn bản học Hán - Nôm thế kỷ XVII.
  2. Phạm vi đối tượng khảo sát: Luận án chủ yếu tập trung vào bộ phận văn chương hình tượng của người Việt và người Minh hương tại vùng đồng bằng; chưa khảo sát sâu mảng văn học chức năng (văn thư, chiếu biểu, địa bạ) và văn học viết bằng chữ Phạn, chữ Khmer hoặc chữ Chăm cổ của các tộc người đồng cư.
  3. Vấn đề văn bản học Thiên Chúa giáo: Bộ phận sáng tác thơ ca chữ Nôm và Quốc ngữ thời kỳ đầu của các giáo sĩ dòng Tên và tín đồ Công giáo phương Nam mới chỉ được điểm xuyết do nguồn tư liệu lưu trữ phần lớn nằm tại văn khố Tòa thánh Vatican và Paris.

Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future research agenda):

  • Hướng 1: Khai quật văn bản học và đối chiếu dị bản chữ Nôm của các tác phẩm Đàng Trong tại các thư viện quốc tế (Société Asiatique Paris, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Hoàng gia Anh).
  • Hướng 2: Nghiên cứu liên ngành văn học đa ngữ phương Nam: khảo sát sự giao lưu thi ca giữa thi hữu Chiêu Anh Các với giới văn nhân Mãn Thanh và văn hóa Phật giáo Khmer.
  • Hướng 3: Ứng dụng kỹ thuật số (Digital Humanities) để số hóa bản đồ không gian văn học di dân Nam tiến và phân tích tần suất từ vựng phương ngữ trong văn học Nôm Đàng Trong.

Tác động và ảnh hưởng

  • Học thuật (Academic impact): Tái định hình hệ thống giáo trình Văn học Việt Nam trung đại tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội; tạo tiền đề cho hàng loạt luận án tiến sĩ và đề tài Nafosted về văn học khu vực phía Nam.
  • Xã hội và Văn hóa (Societal benefits): Củng cố niềm tự hào văn hóa của cộng đồng cư dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ; khẳng định tính thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chiều sâu lịch sử văn hóa của dải đất phương Nam trong tiến trình hợp nhất dân tộc.
  • Hợp tác quốc tế (International relevance): Mở ra kênh đối thoại học thuật với các trung tâm Đông Nam Á học và Việt Nam học quốc tế (Cornell, Kyoto, Paris) về mô hình biên cương văn hóa và sự dung hợp văn học Hán quyển (Sinosphere) ở vùng ngoại vi.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Nhận diện các khoảng trống nghiên cứu cụ thể về văn bản học Hán Nôm phương Nam và phương pháp luận văn hóa học.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu văn học sử: Sở hữu hệ thống luận cứ, trích dẫn văn bản và khung lý thuyết chuẩn xác để biên soạn giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam đa vùng miền.
  • Nhà hoạch định chính sách văn hóa và giáo dục: Cơ sở khoa học vững chắc để phê duyệt điều chỉnh chương trình Ngữ văn, biên soạn địa chí văn hóa địa phương và công nhận di sản văn hóa phi vật thể.
  • Cộng đồng sáng tạo nghệ thuật (Biên kịch, Nhà văn): Khai thác kho tàng thi liệu, hình tượng người hào kiệt, tuồng tích cổ và không gian lịch sử Đàng Trong làm chất liệu cho các tác phẩm nghệ thuật đương đại.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án mở rộng Lý thuyết phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc của Trần Đình Hượu, chứng minh rằng sự "sinh sau đẻ muộn" và việc thoát ly học phong cử nghiệp kinh viện chính là điều kiện tất yếu giải phóng tính sáng tạo, đưa văn học Đàng Trong giữ vai trò tiên phong mở lối cho các thể loại tự sự trường thiên và đại chúng hóa văn học dân tộc.

2. Điểm cách tân phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? So với cách tiếp cận thuần túy miêu tả tác gia của Phạm Việt Tuyền (1965) hay lược sử biên niên của Nguyễn Q. Thắng (2007), luận án tích hợp phương pháp văn học sử hệ thống với thông diễn học văn hóa và ma trận so sánh loại hình Đàng Trong - Đàng Ngoài, xác lập tiêu chí "tọa độ tác giả" và "tâm thức Đàng Trong" mang tính khoa học chuẩn xác.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu? Phát hiện về sự đảo chiều của tiến trình thể loại: trung tâm văn học Đàng Trong - vốn bị coi là "vùng trũng cử nghiệp" - lại là nơi khai sinh thể loại truyện Nôm bác học đầu tiên (Song Tinh Bất Dạ) và tiểu thuyết chương hồi lịch sử đầu tiên (Nam triều công nghiệp diễn chí), dội ngược tầm ảnh hưởng và kích thích sự phát triển của văn học Đàng Ngoài giai đoạn sau.

4. Quy trình nghiên cứu có khả năng tái lập (Replication protocol)? Hoàn toàn khả thi. Hệ tiêu chí chọn mẫu dựa trên tâm thức địa - văn hóa, khung mã hóa văn bản Hán - Nôm và bảng đối sánh lịch sử loại hình được thiết kế minh bạch, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái sử dụng để khảo sát các thời đoạn văn học di dân khác.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo ra sao? Chương trình 10 năm tập trung vào 3 mũi nhọn: Khảo cứu toàn diện văn bản Hán Nôm dòng văn học Công giáo phương Nam; Biên soạn bộ Tổng tập Văn học Đàng Trong toàn thư (1600 - 1802); Ứng dụng Nhân văn số (Digital Humanities) xây dựng Bản đồ không gian văn học và mạng lưới thi phái phương Nam.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thanh Thủy xác lập 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Định danh và xác lập trọn vẹn diện mạo văn học Đàng Trong (1600 - 1802) như một thực thể địa - văn hóa độc lập, sinh động, phá vỡ hoàn toàn định kiến xem nhẹ văn nghệ phương Nam.
  2. Lý giải bản chất quy luật phát triển của văn học vùng xuất phát từ mô hình Nho giáo không thuần nhất, thiết chế "cư Nho mộ Thích" và học phong thực tiễn không câu nệ cử nghiệp.
  3. Khẳng định vị thế tiên phong của Đàng Trong trong việc khai mở hai thể loại đỉnh cao của nền văn học trung đại: truyện Nôm bác học và tiểu thuyết chương hồi lịch sử.
  4. Hoàn chỉnh bản đồ văn học dân tộc thông qua sự xác lập và liên kết 3 trung tâm văn học lớn: Thuận - Quảng, Chiêu Anh Các và Gia Định.
  5. Minh chứng quy luật biện chứng giữa tính dị biệt và tính thống nhất: sự khác biệt về biệt sắc thẩm mỹ địa phương không hề xung đột mà trái lại đã làm giàu có, hoàn thiện và nâng tầm tầm vóc của chỉnh thể nền văn học dân tộc Việt Nam.