Luận án TS: Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trên tư liệu ba nhà văn nữ
Luận án tiến sĩ phân tích trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 dựa trên tư liệu truyện ngắn của ba nhà văn nữ.
Năm xuất bản
Số trang
163
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Ngôn ngữ trần thuật: Lý thuyết, thi pháp truyện ngắn
- Số trang:
- 163 trang
- Trường:
- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Lý luận ngôn ngữ
- Tác giả:
- Hoàng Dĩ Đình
- Năm:
- 2012
Tóm tắt nội dung luận án
I.Ngôn ngữ trần thuật Lý thuyết thi pháp truyện ngắn
Luận án khảo sát ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Nghiên cứu tập trung vào cơ sở lý thuyết. Ngôn ngữ trần thuật là yếu tố cốt lõi xây dựng văn bản. Nó định hình thi pháp truyện ngắn. Giai đoạn sau 1975 chứng kiến sự đổi mới lớn. Văn học chuyển từ sử thi sang thế sự. Ngôn ngữ trở nên đa dạng, gần gũi hơn. Cái "tôi" nhà văn hiện rõ. Kỹ thuật trần thuật được khám phá sâu. Điều này giúp hiểu rõ hơn diện mạo truyện ngắn. Giọng điệu trần thuật cũng có nhiều nét mới.
1.1. Khái niệm trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
Khái niệm trần thuật được phân tích từ góc độ ngôn ngữ học và văn học. Trần thuật là hành động kể chuyện. Ngôn ngữ trần thuật là cách thức thể hiện câu chuyện. Nó bao gồm lời kể, lời nhân vật. Luận án đưa ra định nghĩa cụ thể về ngôn ngữ trần thuật. Đây là nền tảng cho việc phân tích. Nó khác biệt so với các quan niệm trước đây. Đặc điểm ngôn ngữ kể được nhấn mạnh. Độc thoại nội tâm cũng là một phần.
1.2. Người trần thuật Vai trò và phân loại
Người trần thuật giữ vai trò quan trọng trong tác phẩm. Người này kể lại sự kiện. Người trần thuật có thể đứng bên ngoài. Người này cũng có thể là nhân vật. Luận án phân loại người trần thuật chi tiết. Phân loại giúp nhận diện kỹ thuật trần thuật. Giọng điệu trần thuật liên quan mật thiết. Cách kể chuyện ảnh hưởng đến tiếp nhận. Điểm nhìn trần thuật do người này quyết định.
1.3. Điểm nhìn trần thuật Khái niệm yếu tố
Điểm nhìn trần thuật là góc độ kể chuyện. Nó quyết định cái nhìn về thế giới. Điểm nhìn có nhiều yếu tố cấu thành. Luận án phân tích sâu khái niệm này. Các yếu tố của điểm nhìn được xác định. Chúng tác động đến hiệu quả nghệ thuật. Thay đổi điểm nhìn tạo sự đa chiều. Thi pháp truyện ngắn tận dụng điều này. Nó làm phong phú văn học Việt Nam sau 1975.
II.Người trần thuật Kỹ thuật trần thuật truyện ngắn Việt Nam
Nghiên cứu sâu về người trần thuật là trọng tâm. Đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Người trần thuật không chỉ là người kể. Người này là một kỹ thuật trần thuật tinh vi. Luận án khám phá các dạng người trần thuật. Từ đó chỉ ra sự đổi mới trong thi pháp truyện ngắn. Người trần thuật phản ánh hiện thực đa chiều. Giọng điệu trần thuật mang tính cá nhân. Lời kể và lời nhân vật được phân tích chi tiết. Đây là đặc trưng của văn học Việt Nam sau 1975.
2.1. Cấp bậc người trần thuật trong truyện kể
Cấp bậc người trần thuật được phân tích rõ. Người trần thuật có thể là cấp một, cấp hai. Mối quan hệ giữa người trần thuật và câu chuyện được làm rõ. Người trần thuật tác động đến cấu trúc kể. Họ định hình lời kể. Điều này tạo nên sự phức tạp cho truyện ngắn. Nó thể hiện tính hiện đại của văn học sau 1975. Kỹ thuật trần thuật này rất quan trọng.
2.2. Người trần thuật phi nhân vật và nhân vật
Người trần thuật đứng bên ngoài truyện. Người này gọi là phi nhân vật. Người này có cái nhìn toàn tri. Người trần thuật cũng có thể là nhân vật. Người này tham gia trực tiếp vào câu chuyện. Cái "tôi" cá nhân được thể hiện rõ. Lời kể của nhân vật mang tính chủ quan. Độc thoại nội tâm là một hình thức. Sự xen kẽ hai loại này tạo tính đa thanh. Thi pháp truyện ngắn tận dụng điều đó trong văn học Việt Nam.
2.3. Mức độ nhận biết người trần thuật
Người trần thuật có thể được nhận biết rõ. Họ cũng có thể ẩn mình. Mức độ nhận biết ảnh hưởng đến việc truyền tải. Nó tạo ra hiệu ứng đặc biệt. Người đọc cảm nhận sự khách quan hoặc chủ quan. Sự mờ nhạt của người trần thuật phi nhân vật. Sự nổi bật của cái tôi nhân vật. Đây là điểm mới trong văn học Việt Nam sau 1975. Giọng điệu trần thuật cũng biến đổi theo.
III.Điểm nhìn trần thuật Thi pháp truyện ngắn sau 1975
Điểm nhìn trần thuật là một kỹ thuật trọng yếu. Nó định hình cách tiếp cận câu chuyện. Trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, điểm nhìn có nhiều thay đổi. Luận án khám phá sâu những biến đổi này. Thi pháp truyện ngắn hiện đại tận dụng điểm nhìn. Việc này tạo ra sự đa dạng trong cách kể. Nó phản ánh cái nhìn phức tạp về đời sống. Đây là một phần quan trọng của ngôn ngữ trần thuật. Sự đổi mới trong kỹ thuật trần thuật là rõ rệt.
3.1. Các yếu tố của điểm nhìn Mối quan hệ
Điểm nhìn bao gồm nhiều yếu tố. Bao gồm không gian, thời gian, tâm lý. Mối quan hệ giữa các yếu tố này rất phức tạp. Chúng tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Luận án phân tích kỹ các mối quan hệ. Điều này giúp hiểu sâu hơn về điểm nhìn. Kỹ thuật trần thuật truyện ngắn Việt Nam phát triển. Nó làm nên sự độc đáo của văn học Việt Nam sau 1975.
3.2. Điểm nhìn và nhân xưng Tầm quan trọng
Điểm nhìn gắn liền với nhân xưng. Ngôi kể tác động trực tiếp đến điểm nhìn. Ngôi thứ nhất tạo điểm nhìn chủ quan. Ngôi thứ ba tạo điểm nhìn khách quan hơn. Sự đan xen "cái tôi trần thuật" và "cái tôi từng trải" là đặc trưng. Điều này làm giàu thêm giọng điệu trần thuật. Nó thể hiện nội tâm nhân vật sâu sắc. Độc thoại nội tâm là minh chứng. Ngôn ngữ trần thuật trở nên đa dạng.
3.3. Thay đổi điểm nhìn Các phương thức
Các nhà văn sử dụng nhiều phương thức thay đổi điểm nhìn. Ký hiệu ngôn ngữ, lời thoại dẫn là điển hình. Lời thoại trực tiếp, gián tiếp được vận dụng linh hoạt. Nhật ký, thư từ cũng là phương tiện. Những kỹ thuật này tạo ra sự dịch chuyển. Chúng làm phong phú thi pháp truyện ngắn. Việc này mang lại cái nhìn đa chiều. Văn học Việt Nam sau 1975 có sự đổi mới rõ rệt trong kỹ thuật trần thuật.
IV.Thời gian truyện ngắn Việt Nam Kỹ thuật trần thuật
Thời gian là một yếu tố cấu thành truyện ngắn. Cách biểu hiện thời gian thay đổi đáng kể. Trong văn học Việt Nam sau 1975, kỹ thuật trần thuật về thời gian phong phú hơn. Luận án khảo sát các tính chất thời gian. Nó phân tích phương thức biểu hiện. Việc này giúp làm rõ thi pháp truyện ngắn. Tác phẩm không còn theo tuyến tính đơn giản. Ngôn ngữ trần thuật phản ánh sự phức tạp của thời gian trong đời sống.
4.1. Tính chất thời gian Đa chiều vô tuần tự
Thời gian trong truyện ngắn sau 1975 thường mang tính "đa chiều". Thời gian có thể bị xáo trộn. Cấu trúc "vô tuần tự" xuất hiện phổ biến. Các sự kiện không kể theo trình tự tuyến tính. Kỹ thuật này thách thức người đọc. Nó yêu cầu sự chủ động giải mã. Giúp phản ánh hiện thực phức tạp. Đời sống không đơn giản, dễ hiểu. Đây là một đặc trưng mới của thi pháp truyện ngắn.
4.2. Biểu hiện thời gian trong văn bản
Thời gian được biểu hiện qua nhiều cách. Từ ngữ chỉ niên đại, mùa màng được sử dụng. Danh từ chỉ thời gian xuất hiện. Ký hiệu biểu thị tuần tự cũng có vai trò. Những từ ngữ lịch sử, thời đại được lồng ghép. Ngữ đoạn miêu tả thời gian tạo bối cảnh. Các kỹ thuật này làm phong phú ngôn ngữ trần thuật. Lời kể và lời nhân vật cùng góp phần biểu hiện thời gian.
4.3. Thời gian một chiều và vô thời
Bên cạnh "đa chiều", "vô tuần tự", còn có "một chiều". Tuy nhiên, "một chiều" đã có những biến đổi. Đặc biệt là tính chất "vô thời". Một số truyện không xác định rõ thời gian cụ thể. Điều này tạo cảm giác mơ hồ, phi thời đại. Nó nhấn mạnh tính phổ quát của vấn đề. Đây là một đặc điểm mới của thi pháp truyện ngắn Việt Nam. Kỹ thuật trần thuật này mang lại chiều sâu.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (163 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN _________________ HOÀNG DĨ ĐÌNH (HUANG YITING) NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 (TRÊN TƯ LIỆU TRUYỆN NGẮN BA NHÀ VĂN NỮ) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI – 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN _________________ HOÀNG DĨ ĐÌNH (HUANG YITING) NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 (TRÊN TƯ LIỆU TRUYỆN NGẮN BA NHÀ VĂN NỮ) Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ Mã số : 62 22 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. Đinh Văn Đức HÀ NỘI - 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỤC LỤC Phần Mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 3 3.
Đóng góp mới của luận án 3 4. Phạm vi nghiên cứu 4 5. Đối tượng nghiên cứu 4 6. Phương pháp nghiên cứu 5 7.
Cấu trúc luận án 5 Phần nội dung Chương 1 Cơ sở lý thuyết về Ngôn ngữ trần thuật 6 1.1 Tổng quan những thành quả nghiên cứu về Ngôn ngữ trần thuật 6 1.2 Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật" 14 1.1 Quan niệm theo hướng ngôn ngữ học-lý thuyết hành động ngôn 14 từ 1.2 Các quan niệm theo hướng văn học 15 1.3 Định nghĩa của "ngôn ngữ trần thuật" 21 1.3 Quan niệm về "người trần thuật" và phân loại "người trần thuật" 22 1.1 Quan niệm về "người trần thuật" 22 1.2 Phân loại "người trần thuật" 28 1.4 Quan niệm về "điểm nhìn" và phân loại "điểm nhìn" 32 1.1 Quan niệm về "điểm nhìn" 32 1.2 Phân loại "điểm nhìn" và các yếu tố của "điểm nhìn" 39 1.5 Quan niệm về "thời gian" và các yếu tố liên quan 41 Tiểu kết. 51 Chương 2 Người trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ 53 2.2 Người trần thuật với cấp bậc trần thuật và trong quan hệ với 55 truyện kể 2.1 Cấp bậc trần thuật 55 2.2 Người trần thuật đứng bên ngoài truyện – người trần thuật phi 57 nhân vật 2.3 Người trần thuật đứng bên trong truyện – người trần thuật nhân 66 vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Người trần thuật với mức độ được nhận biết trong truyện 76 2.4 Người trần thuật trong quan hệ với tác giả tiềm ẩn 86 Tiểu kết. 91 Chương 3 Điểm nhìn trong truyện ngắn các nhà văn nữ 97 3.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn 98 3.1 Các yếu tố của điểm nhìn 99 3.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn 103 3.3 Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng 105 3.1 Vai trò của nhân xưng và ngôi trong điểm nhìn 105 3.2 Mối quan hệ giữa điểm nhìn với nhân xưng 109 3.3 Sự đan xen của cái tôi trần thuật và cái tôi từng trải 135 3.4 Các phương thức làm thay đổi điểm nhìn 142 3.1 Ký hiệu ngôn ngữ dùng để thể hiện ngôi – nhân xưng 142 3.2 Lời thoại dẫn trực tiếp, gián tiếp hoặc trực tiếp tự do, gián tiếp tự 145 do 3.3 Các phương thức khác như nhật ký, thư từ 149 Tiểu kết. 151 Chương 4 Thời gian trong truyện ngắn các nhà văn nữ 153 4.2 Tính chất thời gian “một chiều” 154 4.3 Tính chất thời gian “đa chiều” 161 4.1 Tính chất thời gian “vô tuần tự” 161 4.2 Tính chất thời gian “vô thời” 180 4.4 Các phương thức biểu hiện thời gian trong văn bản 186 4.1 Các từ ngữ chỉ xuất niên đại và mùa màng 187 4.2 Những danh từ chỉ thời gian 187 4.3 Các ký hiệu khác dùng biểu thị tuần tự 188 4.4 Những từ ngữ mang tính chất lịch sử - thời đại 188 4.5 Những ngữ đoạn miêu tả về thời gian 188 Tiểu kết.
189 Kết luận và kiến nghị 191 Chú thích. 194 Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án. 195 Tài liệu tham khảo. 196 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN MỞ ĐẦU 1.
Lí do chọn đề tài Thể loại truyện ngắn trong suốt thế kỷ 20 là một dòng chảy liên tục, thời nào cũng có nhiều thành tựu. Đặc biệt từ sau 1975, trong sự đổi mới văn học, truyện ngắn đã đóng vai trò quan trọng với sự đóng góp của các nhà văn thuộc nhiều thế hệ. Nếu như văn học Việt Nam trước năm 1975 mang tính chất sử thi, là tiếng nói của dân tộc của quốc gia, thì văn học Việt Nam sau 1975 lại mang tính chất thế sự, là tiếng nói của người dân của đời tư. Năm 1975 là cái mốc phân chia giai đoạn phát triển lịch sử cũng như văn học ở Việt Nam.
Sau 1975, nhất là sau 1986, với làn gió đổi mới mở cửa, văn học Việt Nam thật sự đã mới hơn giai đoạn trước rất nhiều: không những mới ở ý thức sáng tác, tư duy nghệ thuật, mà còn mới ở hiện thực được phản ánh trong các thiên truyện cũng như các phương thức nghệ thuật, trong đó, có ngôn ngữ trần thuật là những yếu tố cấu trúc lên một văn bản văn học. Khi mở đầu bài viết Tiểu thuyết Việt Nam những năm đổi mới, Giáo sư Phan Cự Đệ đã khẳng định một biến đổi lớn lao là "trong tiểu thuyết những năm đầu thời kỳ đổi mới, nhà văn cũng như nhân vật, cả hai đều hướng về người đọc". 277] Một điều dễ nhận thấy và không thể chối cãi được là trong tiểu thuyết giai đoạn sau 1975, "cái dấu ấn của chủ thể nhà văn, cái 'tôi' của người cầm bút hiện lên rõ nét qua từng trang sách" [12, tr. 277] bằng những hình thức ngôn ngữ vừa đa dạng - góc cạnh, lại vừa khẩu ngữ - đời thường, kể (nhiều khi là tâm sự) về những mảnh vụn trong đời sống hiện thực sau một thời chinh chiến miên man với giọng kể gần gũi hơn, thẳng thắn hơn và tràn đầy kinh nghiệm cá nhân.
Khám phá đời sống muôn vẻ muôn mặt đã trở thành một trong những khuynh hướng sáng tác của nhiều cây bút tiêu biểu. Tác phẩm của họ không còn rập khuôn bởi một người kể duy nhất hoặc chỉ có một quan điểm đúng đắn nhất mà trở nên đa thanh, phức điệu vì phương thức kể chuyện đã được cách tân, điểm nhìn đã được chuyển dịch vào nhiều người (người kể chuyện hoặc nhân vật trong truyện) khác nhau. Hàng loạt sự kiện mới, nhân vật mới, phong cách mới trong tác phẩm văn học đã thu hút sự chú ý của đông đảo độc giả cũng như của các nhà nghiên cứu. Văn đàn Việt Nam những năm đổi mới tràn đầy không khí cởi mở, sôi nổi, trong sáng, tươi tỉnh và phóng khoáng.
Đội ngũ sáng tác cũng có bước đột phá lớn, lần lượt xuất hiện những gương mặt tươi mới, đặc biệt là các nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê, Trần Thanh Hà, Nguyễn Thị Phước, Trần Thị Trường. Và làng văn trở thành một văn đàn "văn học đang mang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gương mặt nữ. 5] Đó là các nhà văn nữ trẻ trung có sức viết dồi dào, mạnh mẽ với nội dung tác phẩm văn học, khía cạnh sáng tác và góc nhìn sự thực hoàn toàn mới mẻ, nhẹ nhàng, độc đáo so với những năm trước. Nhiều tác phẩm truyện ngắn của ba nhà văn nữ Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo và Phan Thị Vàng Anh đã từng đoạt giải các loại trên văn đàn Việt Nam những năm 80-90, minh chứng "họ thực sự làm khởi sắc văn chương, khởi sắc truyện ngắn với ý nghĩa là một thể loại văn học mang hồn cốt dân tộc.
5] Vậy nên, nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn ba nhà văn nữ trên có thể cho thấy được phần nào đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Số lượng truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam rất phong phú. Những nghiên cứu, phê bình về tác phẩm cũng như về vấn đề phụ nữ được phản ánh qua tác phẩm từ khía cạnh tác giả - ý nghĩa tác phẩm dễ tìm thấy từ các trang báo, các tạp chí. Nhưng, các bình luận, ý kiến bàn sâu về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ trên bình diện ngôn ngữ học với các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học thì vẫn còn khiêm tốn.
Đi sâu nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam, sẽ góp phần tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trần thuật (từ người trần thuật, điểm nhìn, thời gian.) trong truyện ngắn của các nhà văn nữ, qua đó, rút ra những khám phá lí luận về ngôn ngữ trần thuật của các nhà văn nữ và phương pháp nghiên cứu mới về truyện ngắn của các nhà văn nữ. Đây là một đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên các lí thuyêt cơ sở của Ngôn ngữ học để triển khai khảo sát và nghiên cứu. Đồng thời, cũng là một đề tài nghiên cứu xuyên ngành. Những lí thuyết về Hành động ngôn từ, Ngữ pháp học, Ngữ nghĩa học, Ngữ dụng học, Văn bản học, Tự sự/Trần thuật học đã cung cấp khung lí luận hữu quan cho chúng tôi tiếp cận kết quả nghiên cứu của luận án.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu: Giới thuyết khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, những yếu tố, những vấn đề liên quan, và xem đó là công cụ then chốt, chiếu ứng với đối tượng nghiên cứu, nhận diện nó trong loại hình ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm truyện ngắn nữ.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Vận dụng khái niệm Ngôn ngữ trần thuật vào nghiên cứu các tác phẩm truyện ngắn nữ. Khảo sát, phân tích và miêu tả đặc điểm các phương diện/cấp độ ngôn ngữ trong lời trần thuật. Trên cơ sở đó, chỉ ra những nét nổi bật trong phong cách ngôn ngữ của từng tác giả được biểu hiện qua tác phẩm truyện ngắn.3 Đi sâu tìm hiểu - Đặc điểm, phong cách ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ; - Phân tích chiến lược trần thuật của các nhà văn nữ. Đóng góp mới của luận án LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Về giá trị lý luận Đây là công trình đầu tiên của nhà nghiên cứu Trung Quốc nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của các tác giả nữ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học, Ngữ nghĩa học, Ngữ dụng học, Trần thuật/tự sự học.
Qua đó, làm sáng tỏ ra một số vấn đề về phong cách sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn các nhà văn nữ tiêu biểu.1 Cố gắng đưa ra một hệ thống lí luận về Ngôn ngữ trần thuật của tác giả nữ.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Hoàng Dĩ Đình (2012). Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/ngon-ngu-tran-thuat-truyen-ngan-viet-nam-sau-1975-hoang-di-dinh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 dựa trên tư liệu truyện ngắn của ba nhà văn nữ.
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2012.
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ. Danh mục: Văn Học.
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" có bao nhiêu trang?
Luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Ngôn ngữ trần thuật truyện ngắn Việt Nam sau 1975" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.