Luận án TS Văn học: Tự truyện Việt Nam đương đại - Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học
Khám phá những tự truyện đương đại Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học văn học, phân tích xu hướng sáng tác và tác động xã hội.
Năm xuất bản
Số trang
193
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tự truyện Việt Nam đương đại dưới góc nhìn xã hội học
- Số trang:
- 193 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Văn học
- Tác giả:
- Hoàng Thị Tâm
- Năm:
- 2016
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tự truyện Việt Nam đương đại dưới góc nhìn xã hội học
Tự truyện Việt Nam đương đại đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của nền văn học tự sự. Thể loại này phản chiếu trực tiếp các biến động của đời sống xã hội. Tiếp cận từ góc độ xã hội học văn học giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn bản và bối cảnh lịch sử. Tự truyện không đơn thuần là câu chuyện đời tư. Văn bản tự sự phản ánh cấu trúc xã hội, ý thức hệ và nhu cầu khẳng định bản thân. Giai đoạn từ đầu thế kỷ hai mươi ghi nhận sự xuất hiện của tác phẩm Giấc mộng lớn. Thể loại này tạm thời lắng xuống trong thời kỳ chiến tranh. Bước sang đầu thế kỷ hai mươi mốt, hiện tượng tự truyện bùng nổ mạnh mẽ. Cuốn sách Yêu và Sống xuất bản năm 2006 mở đầu cho làn sóng tự sự phi hư cấu mới. Các tác phẩm tạo nên diễn đàn đa thanh về trải nghiệm cá nhân.
1.1. Hành trình biến chuyển của thể loại qua các thời kỳ
Lịch sử tự truyện gắn liền với các mốc biến động xã hội. Thể loại xuất hiện sôi nổi vào những năm 1930 - 1945 nhưng sau đó gián đoạn kéo dài. Trong thời kỳ chiến tranh, tinh thần tập thể lấn át tiếng nói cá nhân. Văn học thời kỳ Đổi Mới năm 1986 bắt đầu mở ra không gian mới cho cái tôi. Tự truyện Việt Nam đương đại thực sự trỗi dậy từ những năm 2000. Dòng chảy tự sự chuyển từ tính chất tiểu thuyết hóa sang tính chất phi hư cấu. Các tác phẩm không chỉ kể về cuộc đời danh nhân. Nhiều tầng lớp xã hội tham gia viết tự truyện để ghi lại tiếng nói cá nhân. Tính chất thể loại trở nên đa dạng, lai ghép giữa tự truyện, du ký và hồi ký.
1.2. Sự chuyển dịch diễn ngôn tự sự thời kỳ Đổi Mới
Diễn ngôn tự sự sau năm 1986 thay đổi căn bản về cấu trúc và tư tưởng. Xã hội chuyển dịch từ mô hình tập trung sang kinh tế thị trường. Sự thay đổi kinh tế thúc đẩy nhu cầu giải phóng ý thức cá nhân. Tự truyện không còn bị chi phối tuyệt đối bởi chuẩn mực đạo đức truyền thống. Cái tôi cá nhân xuất hiện với đầy đủ sự phức tạp, giằng xé và khát vọng. Diễn ngôn thời kỳ này tập trung vào tính chân thực của trải nghiệm sống. Văn bản tự sự phá vỡ cấu trúc tường thuật một chiều. Sự xuất hiện của các biến thể thể loại phản ánh nhu cầu đối thoại cởi mở với cộng đồng.
1.3. Phân biệt ranh giới giữa hồi ký và tự thuật
Ranh giới giữa hồi ký và tự thuật thường xuyên đan xen trong thực tiễn sáng tác. Hồi ký tập trung tái hiện các sự kiện lịch sử qua lăng kính người chứng kiến. Tự thuật lại hướng sâu vào thế giới nội tâm và sự phát triển của cái tôi. Tự truyện Việt Nam đương đại tích hợp cả hai yếu tố trên để tạo nên sức hút. Khế ước tự truyện đòi hỏi sự đồng nhất giữa tác giả, người kể chuyện và nhân vật. Tuy nhiên, thực tế sáng tác tại Việt Nam tạo ra nhiều dạng thức linh hoạt. Sự kết hợp giữa hư cấu và phi hư cấu làm phong phú diện mạo văn học tự sự.
II. Khung lý thuyết xã hội học văn học và thể loại tự sự
Xã hội học văn học cung cấp hệ thống công cụ phân tích văn bản trong mối liên hệ với cấu trúc xã hội. Phương pháp tiếp cận này không dừng lại ở việc đọc tác phẩm thuần túy. Nghiên cứu tập trung vào nguồn gốc xã hội của tác giả, hoàn cảnh sáng tác và cơ chế tiếp nhận. Thể loại tự sự trở thành đối tượng nghiên cứu then chốt để giải mã tâm lý thời đại. Tự truyện Việt Nam đương đại là tấm gương phản chiếu sự xung đột giữa cá nhân và cộng đồng. Khung lý thuyết xã hội học giúp làm rõ quá trình văn bản hóa các trải nghiệm xã hội. Tác phẩm tự sự không tồn tại cô lập mà là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội phức tạp.
2.1. Quan niệm thể loại tự truyện theo Philippe Lejeune
Lý thuyết khế ước tự truyện của Philippe Lejeune đặt nền móng quan trọng cho việc phân loại văn bản. Khế ước là sự cam kết ngầm giữa tác giả và độc giả về tính chân thực. Người viết xác nhận danh tính thực tế trùng khớp với người kể chuyện và nhân vật chính. Tuy vậy, bối cảnh văn hóa Việt Nam đặt ra nhiều thách thức cho mô hình Lejeune. Tính chất tập thể truyền thống tạo ra áp lực lên sự bộc lộ cá nhân. Nhiều tác giả chọn hình thức tự truyện tiểu thuyết hoặc hồi ký tự thuật để giảm thiểu rủi ro xã hội. Điều này chứng minh thể loại luôn vận động linh hoạt theo ngữ cảnh văn hóa.
2.2. Phương pháp tiếp cận xã hội học đối với văn bản tự sự
Phương pháp xã hội học văn học khảo sát tự truyện như một hiện tượng xã hội tổng thể. Hướng nghiên cứu này kết hợp phân tích văn bản với khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu và thống kê số liệu. Nhà nghiên cứu xem xét vị thế xã hội của người viết cùng mục đích công bố tác phẩm. Quá trình tạo tác văn bản tự sự gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị và truyền thông. Phân tích xã hội học giúp bóc tách các tầng ý nghĩa ẩn sau câu chuyện cá nhân. Tác phẩm tự sự phản ánh những giằng co quyền lực biểu tượng trong đời sống tinh thần.
III. Điều kiện xã hội và sự bộc lộ căn tính cá nhân mới
Sự bộc lộ căn tính cá nhân trong tự truyện phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện xã hội. Truyền thống văn hóa Á Đông từng xem nhẹ việc phô bày đời tư. Quan niệm cộng đồng và đạo Khổng từng tạo nên rào cản tâm lý lớn đối với người cầm bút. Khi xã hội hiện đại hóa, không gian riêng tư được nhìn nhận lại và tôn trọng hơn. Cá nhân có nhu cầu khẳng định bản sắc độc lập và tiếng nói riêng biệt. Tự truyện trở thành phương tiện biểu đạt căn tính cá nhân hiệu quả nhất. Tác phẩm phản ánh sự chuyển hóa từ con người bổn phận sang con người cá nhân tự ý thức.
3.1. Các hình thức biểu đạt cái tôi trong tự truyện
Cái tôi trong tự truyện Việt Nam đương đại xuất hiện qua nhiều chiều kích phong phú. Tác phẩm không chỉ phản ánh cái tôi nghề nghiệp mà còn bộc lộ cái tôi khác biệt. Nhiều cuốn tự truyện đào sâu vào những tổn thương cá nhân, hành trình vượt khó và khủng hoảng căn tính. Người viết dám đối diện với những góc khuất tâm lý và sai lầm trong quá khứ. Ngôn ngữ tự sự trở nên trực diện, giàu tính đối thoại và giảm bớt tính ước lệ. Các hình thức biểu đạt đa dạng này giúp phá vỡ các định kiến xã hội cứng nhắc về chuẩn mực đạo đức.
3.2. Giới hạn xã hội và sự lựa chọn của chủ thể viết
Chủ thể viết tự truyện luôn đối mặt với những giới hạn đạo đức và pháp lý của cộng đồng. Sự bộc lộ sự thật cá nhân dễ dẫn đến va chạm với người thân, đồng nghiệp và xã hội. Người viết buộc phải đưa ra những lựa chọn chiến lược trong việc che giấu hoặc phơi bày thông tin. Một số tác giả chọn cách làm mờ ranh giới nhân vật để tránh xung đột đời tư. Sự thỏa hiệp giữa tự do cá nhân và chuẩn mực xã hội chi phối trực tiếp cấu trúc văn bản. Đây là minh chứng rõ nét cho sự tương tác giữa chủ thể sáng tạo và môi trường văn hóa.
IV. Trường văn học Pierre Bourdieu và thiết chế xuất bản
Khái niệm trường văn học của Pierre Bourdieu giải thích sinh động cơ chế vận hành của tự truyện hiện đại. Văn học không vận động biệt lập mà chịu tác động từ vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn biểu tượng. Thiết chế văn học bao gồm nhà xuất bản, cơ quan quản lý và các công ty phát hành sách tư nhân. Sự tham gia của các công ty sách tư nhân đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện xuất bản. Hoạt động in ấn và phát hành tự truyện trở thành một ngành kinh doanh sôi động. Nhu cầu thị trường định hình sâu sắc chiến lược xuất bản và lựa chọn đề tài của các đơn vị làm sách.
4.1. Vai trò của thiết chế xuất bản trong lưu thông tự sự
Thiết chế xuất bản đóng vai trò tuyển chọn và định hướng thị hiếu công chúng. Số liệu thống kê giai đoạn từ 1986 đến 2014 cho thấy sự gia tăng đột biến của số lượng tự truyện xuất bản. Các nhà xuất bản áp dụng nhiều kỹ thuật truyền thông hiện đại để quảng bá tác phẩm. Tự truyện của người nổi tiếng trở thành mặt hàng văn hóa có giá trị thương mại cao. Thiết chế xuất bản vừa là bộ lọc kiểm duyệt, vừa là động lực thúc đẩy thể loại lan tỏa. Mối quan hệ giữa tác giả, đơn vị xuất bản và thị trường tạo nên một mạng lưới sản xuất văn hóa chặt chẽ.
4.2. Vốn biểu tượng và sự cạnh tranh trong trường văn học
Trong trường văn học Pierre Bourdieu, tự truyện là công cụ tích lũy và chuyển hóa các dạng tư bản. Người viết sử dụng tự truyện để khẳng định uy tín, xác lập vị thế và xây dựng thương hiệu cá nhân. Vốn biểu tượng của tác giả ngoài đời thực quyết định trực tiếp đến sức hút ban đầu của tác phẩm. Sự cạnh tranh giữa tự truyện văn nghệ sĩ và tự truyện của các nhóm xã hội khác diễn ra sôi nổi. Trường văn học thiết lập các quy tắc công nhận mới, nơi tính chân thực của đời sống thực tế cạnh tranh với giá trị thẩm mỹ truyền thống.
V. Ký ức cá nhân và ký ức tập thể trong hoạt động đọc
Hoạt động tiếp nhận tự truyện diễn ra tại điểm giao thoa giữa ký ức cá nhân và ký ức tập thể. Độc giả tìm đến tự truyện không chỉ vì tính hiếu kỳ về đời tư người nổi tiếng. Tiếp nhận tự sự là quá trình người đọc soi chiếu trải nghiệm của chính mình vào câu chuyện của người khác. Ký ức cá nhân trong văn bản giúp bổ khuyết những khoảng trống của lịch sử chính thống. Quá trình đọc kích hoạt sự đồng cảm xã hội và tái cấu trúc nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu tiếp nhận từ góc độ xã hội học văn học giúp xác định thị hiếu và động cơ đọc của các nhóm công chúng khác nhau.
5.1. Động cơ và hành vi tiếp nhận của người đọc hiện đại
Khảo sát thực tế chỉ ra nhiều mục đích đọc tự truyện khác nhau của công chúng đương đại. Độc giả tìm kiếm bài học cuộc sống, kinh nghiệm vượt khó và sự đồng cảm tinh thần. Nhóm người đọc trẻ tuổi thường quan tâm đến tự truyện của người thành đạt và văn nghệ sĩ. Hành vi tiếp nhận không mang tính thụ động. Độc giả chủ động tranh luận, phản biện và diễn giải tác phẩm trên các diễn đàn mạng xã hội. Phản ứng đa chiều của người đọc tạo nên đời sống thứ hai cho tác phẩm. Tiếp nhận tự sự trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng đặc trưng.
5.2. Các mô hình diễn giải văn bản tự sự trong cộng đồng
Cộng đồng tiếp nhận tự truyện thông qua nhiều mô hình diễn giải khác nhau. Mô hình luân lý đạo đức tập trung đánh giá tư cách nhân vật và tác động đạo đức của câu chuyện. Mô hình xã hội học nhìn nhận văn bản như một tài liệu nhân chứng về bối cảnh thời đại. Mô hình thi pháp học đi sâu khám phá cấu trúc trần thuật và nghệ thuật xây dựng hình tượng. Sự va chạm giữa các mô hình diễn giải cho thấy tính chất mở của tự truyện Việt Nam đương đại. Tác phẩm tự sự trở thành tấm gương phản chiếu những chuyển dịch sâu sắc trong nhận thức xã hội.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (193 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong Luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Tác giả luận án Hoàng Thị Tâm LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận án luận này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía Thầy Cô, đồng nghiệp và người thân.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới Thầy hướng dẫn khoa học: PGS. Thầy đã tận tình góp ý, định hướng nghiên cứu và gợi mở những ý tưởng khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện luận án. Tôi xin được cảm ơn các Thầy cô giáo Khoa Văn học, Học viện Khoa học Xã hội, đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai cơ quan là Trường Đại học Hồng Đức và Học viện Quản lý giáo dục đã tạo điều kiện về thời gian để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và học tập.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đặc biệt tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên tôi trong suốt thời gian qua, đã động viên, khích lệ, tạo động lực, niềm tin và sự kiên nhẫn để tôi có thể hoàn thành luận án của mình. Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2016 Tác giả Hoàng Thị Tâm MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại. Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài.
Những nghiên cứu tự truyện từ các khía cạnh xã hội học. 20 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại. Quan niệm về tự truyện. Hướng nghiên cứu xã hội học về tự truyện.
Những chặng đường của tự truyện Việt Nam. 54 Chương 3: Những điều kiện tự truyện và sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện. Những điều kiện tự truyện. Sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện.
Các hình thức biểu đạt chủ thể trong tự truyện. Giới hạn xã hội và lựa chọn của chủ thể. 112 Chương 4: Hoạt động tiếp nhận tự truyện. Tiếp nhận tự truyện nhìn từ hoạt động xuất bản.
Tiếp nhận tự truyện nhìn từ người đọc. Tiếp nhận tự truyện nhìn từ các mô hình diễn giải. 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 180 DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 1: Số lượng tự truyện và hồi ký xuất bản từ 1986 đến 1996 chia theo nguồn gốc .120 Bảng 2: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1997 - 2014 chia theo nguồn gốc 122 Bảng 3: Lý do đọc tự truyện.
130 Bảng 4: Mục đích đọc tự truyện. 130 Bảng 5: Mức độ đọc tự truyện Việt Nam. 131 Bảng 6: Mức độ đọc tự truyện nước ngoài. 131 Bảng 7: Anh/chị thích đọc tự truyện của nhóm tác giả nào.
132 Biểu đồ 1: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1986 đến 1996. 119 Biểu đồ 2: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1997 đến 2014. 121 Biểu đồ 3: Số lượng tự truyện được tái bản từ 1986 đến 2014. 123 Biều đồ 4: Tác phẩm và số lần xuất bản.
124 DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT HKVN: Hồi ký Việt Nam TTVN: Tự truyện Việt Nam KHNN: Hồi ký nước ngoài TTNN: Tự truyện nước ngoài PV sâu số 1: Phỏng vấn nhà văn Phan Việt PV sâu số 2: Phỏng vấn nhà văn Ma Văn Kháng PV sâu số 3: Phỏng vấn nhà văn Bùi Ngọc Tấn PV sâu số 4: Phỏng vấn nhà văn Tô Hoài MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Quan sát chặng đường lịch sử của tự truyện Việt Nam, có thể thấy một số dấu hiệu khá đặc biệt đòi hỏi phải được giải thích. Cụ thể là: Tự truyện mặc dù xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 với Giấc mộng lớn của Tản Đà năm 1929 và tương đối sôi nổi vào giai đoạn 1930 - 1945 nhưng sau đó lại hầu như vắng bóng trên diễn đàn văn học cho đến tận những năm cuối thế kỷ 20 mới xuất hiện trở lại và đến những thập niên đầu của thế kỷ 21, thì nở rộ như một phong trào.Tuy nhiên, so với đầu thế kỷ, tự truyện giai đoạn này có nhiều nét khác: Các dấu hiệu thể loại không bộc lộ tập trung mà khi đậm đặc, khi mờ nhạt trong từng tác phẩm.
Nếu quan sát diễn tiến của tự truyện có thể thấy, kể từ 2006, sau sự xuất hiện của Yêu và Sống của nữ nghệ sĩ Lê Vân, nó bắt đầu chuyển hướng. Tính chất tiểu thuyết giảm đi, tính chất phi hư cấu tăng lên. Đặc biệt, cái Tôi được bộc lộ ở nhiều chiều kích hơn như cái tôi nghề nghiệp, cái tôi khác biệt, cái tôi vượt khó…, song cũng vì thế mà các dấu hiệu đặc trưng của tự truyện theo quan niệm của P. Lejeune - nhà nghiên cứu tự truyện Pháp - lại trở thành khung hình quá chật hẹp và luôn xuất hiện các biến thể như tự truyện - tiểu thuyết, tự truyện - hồi ký, tự truyện - du ký… Chúng tạo nên dáng vẻ không thuần nhất của thể loại.
Nếu đặt những dấu hiệu này trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ đến nay sẽ thấy đó chính là những hình ảnh phản chiếu khá rõ sự chuyển biến của tinh thần xã hội. Về đặc điểm này của tự truyện Việt Nam, nhà nghiên cứu Đoàn Cầm Thi (2008) cho rằng “truyền thống văn hóa vốn đề cao dân tộc, cộng đồng”, “Đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể là những ý thức hệ cản trở sự bộc lộ cá nhân” [174, 247] đã cản trở sự phát triển thể loại. Tiếc rằng những nhận định ấy lại chưa được triển khai một cách hệ thống hoặc chỉ quan sát từ những vận động nội tại của tự sự văn học mà chưa có sự phân tích mối quan hệ này một cách cặn kẽ. Hơn nữa, bản thân tự truyện, cũng giống như các thể loại văn học nói chung, để có thể lý giải được những đặc điểm nội tại của chúng không thể chỉ quan sát từ một thành tố riêng lẻ bởi văn học, như quan điểm của J.Sartre (1948) trong tác phẩm Văn học là gì: “Chính sự kết hợp giữa hành động của nhà văn và của độc giả sẽ làm xuất hiện một 1 tác phẩm tinh thần là một vật vừa cụ thể, vừa chỉ tồn tại trong tưởng tượng”.
Điều đó có nghĩa văn học phải được coi là một quá trình xã hội, được tạo thành bởi hai chủ thể tác giả và người đọc. Giá trị văn học sẽ thành tạo nên từ những tương tác giữa hai chủ thể của quá trình này. Như vậy, việc lý giải những đặc điểm của tự truyện cần được đặt vào hệ thống và quá trình của nó. Hay nói cách khác, là phải quan sát cặn kẽ mối quan hệ giữa xã hội và thể loại.
Theo mô tả của Sidonie Smith và Julia Watson (2002) trong Reading Autobiography: Aguide for Interpresting Narratives, lịch sử nghiên cứu tự truyện từ hướng tiếp cận xã hội đã từng được đặt ra. Trong đó, yếu tố giới được các nhà nghiên cứu lấy làm điểm xuất phát cho những giải thích về đặc trưng tự sự của tự truyện, họ cho rằng: tự truyện, đặc biệt tự truyện của giới nữ là một hành động tái lập sự cân bằng đối với xã hội thông qua sự bộc lộ thế giới nhận thức của phụ nữ. Từ đây, họ tập trung phân tích những dấu hiệu làm nên sự khác biệt về kỹ thuật tự sự trong tự truyện của phụ nữ và tự truyện của nam giới. Những cảm nhận về thế giới từ góc nhìn của người nữ như: sự miêu tả bản thân, những cấu trúc bất bình đẳng hiện diện trong nội dung văn bản có ý nghĩa như là một phương thức tồn tại của giới nữ trong một xã hội trọng nam quyền.
Việc khuôn các quan hệ xã hội vào mối quan hệ giới này đã phần nào cho thấy cái nhìn chú trọng những tác động từ phía xã hội lên nhận thức và hành vi của các chủ thể tự truyện song lại hạn chế sự quan sát trong chỉ một khâu của quá trình văn học là khâu tạo lập mà bỏ qua khâu tiếp nhận - một quá trình xã hội quan trọng góp phần không nhỏ trong việc thành tạo các giá trị văn học của một thể loại. Trong các nghiên cứu xã hội học văn học, mối quan hệ xã hội - văn học đã từng được quan sát từ nhiều góc độ khác nhau tùy theo sự thay đổi trọng tâm của nghiên cứu văn học. Nếu phương pháp của R. Esacrpit nhấn mạnh quá trình phản hồi và tiếp nhận thì phương pháp của P.
Bourdieu lại chú trọng vai trò chủ động, tích cực của chủ thể văn học. Đặc biệt là mối quan tâm tới những yếu tố xã hội tạo thành những cơ hội để chủ thể thực hiện những hoạt động chủ động của mình. Mỗi phương pháp gắn liền với một phương diện được quan tâm vì thế mà hoặc là chỉ nhìn thấy người đọc, hoặc lại chỉ có thể lý giải hành động của chủ thể mà hạn chế sự quan sát thể loại với tư cách là kết quả của một quá trình. Bởi vậy, theo chúng 2 tôi, để có thể quan sát tự truyện trong trạng thái sinh tồn của nó, không gì khác, phải vận dụng tổng hợp các quan điểm lý thuyết trên.
Đặc biệt là quan niệm coi tự truyện là hoạt động tương tác giữa một bên là hành động tạo lập của tác giả và một bên là hành động tiếp nhận của người đọc mới có thể thống nhất toàn bộ quá trình xã hội của thể loại và lý giải một cách đầy đủ đặc điểm hiện trạng của thể loại. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ xã hội học, đề tài nhằm mục đích lý giải các đặc điểm hiện tại của tự truyện Việt Nam đương đại, từ đó bao quát toàn bộ diện mạo của nó. Bên cạnh đó, nghiên cứu xã hội về tự truyện là hướng nghiên cứu còn mới mẻ và chưa có tiền lệ vì vậy, thông qua đề tài này, chúng tôi đề xuất một khung lý thuyết nghiên cứu xã hội học về tự truyện nói riêng và văn học nói chung nhằm bổ khuyết cho các nghiên cứu từ các phương diện nội dung phản ánh hay tự sự học.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Hoàng Thị Tâm (2016). Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/ly-luan-van-hoc/luan-an-van-hoc-tu-truyen-viet-nam-duong-dai-nghien-cuu-xa-hoi-hoc
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá những tự truyện đương đại Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học văn học, phân tích xu hướng sáng tác và tác động xã hội.
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2016.
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" thuộc chuyên ngành Văn học. Danh mục: Lý Luận Văn Học.
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" có 193 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ Xã hội học Văn học" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.