Luận án Tiến sĩ: Chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov - Nguyễn Thị Bích
Điện ảnh trong tiểu thuyết Nabokov: Khám phá cách ông dùng hình ảnh, cấu trúc tự sự để tạo trải nghiệm đọc như phim.
Văn học nước ngoài
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
196
Thời gian đọc
30 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Tổng quan nghiên cứu Nabokov và chất điện ảnh
Nghiên cứu này trình bày tổng quan học thuật hiện có. Nó phân loại các công trình về Vladimir Nabokov theo nhiều hướng. Các cách tiếp cận bao gồm tiểu sử, thi pháp học, liên văn bản. Cũng có các nghiên cứu kí hiệu học, liên ngành và nữ quyền luận. Một điểm đáng chú ý là sự thiếu hụt trong nghiên cứu. Ít công trình tập trung vào ảnh hưởng của điện ảnh lên văn học. Hầu hết chỉ xem xét tác động ngược lại. Tài liệu này lấp đầy khoảng trống đó. Nó nhấn mạnh việc khám phá các yếu tố điện ảnh trong văn xuôi. Công trình mang đến cái nhìn mới mẻ.
1.1. Các hướng tiếp cận nghiên cứu V. Nabokov
Các nghiên cứu về V. Nabokov rất phong phú. Nhiều công trình tiếp cận tiểu sử của ông. Các nghiên cứu khác đi sâu vào thi pháp học trong tác phẩm. Một số nhà khoa học khám phá khía cạnh liên văn bản. Hướng kí hiệu học cũng được áp dụng rộng rãi. Nghiên cứu liên ngành mở rộng hiểu biết về Nabokov. Một vài tác phẩm được phân tích theo nữ quyền luận. Những phương pháp này đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, góc độ chất điện ảnh vẫn còn ít được khai thác chuyên sâu.
1.2. Nghiên cứu chất điện ảnh trong văn học
Chất điện ảnh trong văn học là một lĩnh vực tương đối mới. Nhiều học giả đã xem xét mối quan hệ này. Họ thường tập trung vào ảnh hưởng của văn học lên điện ảnh. Sự chuyển thể tác phẩm văn học thành phim là ví dụ điển hình. Tuy nhiên, ít công trình đào sâu tác động ngược lại. Điện ảnh đã ảnh hưởng cấu trúc văn học ra sao? Nó định hình phong cách kể chuyện như thế nào? Đây là những câu hỏi cần được khám phá thêm. Nghiên cứu này góp phần lấp đầy khoảng trống đó. Nó thúc đẩy hiểu biết về sự giao thoa nghệ thuật.
1.3. Nghiên cứu chất điện ảnh tiểu thuyết Nabokov
Chất điện ảnh trong tiểu thuyết của V. Nabokov là trọng tâm chính. Các công trình trước đây ít đề cập trực tiếp đến vấn đề này. Có thể có những nhận định sơ bộ, thoáng qua. Tuy nhiên, phân tích chuyên sâu còn rất hạn chế. Luận án này đặt mục tiêu làm rõ. Nó khám phá cách Nabokov sử dụng kỹ thuật điện ảnh. Từ cấu trúc cốt truyện đến điểm nhìn camera. Mối liên hệ giữa đời sống ông và điện ảnh cũng được xem xét. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện và mới mẻ.
II.Tiền đề chất điện ảnh trong tiểu thuyết Nabokov
Nghiên cứu này khám phá những yếu tố cơ bản. Các yếu tố này góp phần tạo nên chất điện ảnh trong tác phẩm của Nabokov. Xu hướng văn học nghệ thuật nửa đầu thế kỷ XX được phân tích. Nó đặt Nabokov vào bối cảnh lịch sử. Sự phát triển của điện ảnh đầu thế kỷ XX cũng rất quan trọng. Mối liên hệ giữa đời sống cá nhân của Nabokov và điện ảnh được làm rõ. Những tiền đề này tạo nền tảng vững chắc. Chúng cho thấy sự giao thoa sâu sắc giữa hai loại hình nghệ thuật.
2.1. Văn học nghệ thuật thế kỷ XX và Nabokov
Đầu thế kỷ XX chứng kiến nhiều biến động lớn. Văn học nghệ thuật có những xu hướng đổi mới mạnh mẽ. Phân mảnh, đa diện là đặc điểm chung của thời kỳ này. Các loại hình nghệ thuật tìm cách hòa quyện và thử nghiệm. Nabokov là một phần của dòng chảy đổi mới này. Ông thể hiện sự sáng tạo trong tiểu thuyết của mình. Tác phẩm của ông phản ánh tinh thần và sự phức tạp của thời đại. Đó là tiền đề quan trọng cho việc tiếp nhận chất điện ảnh. Nó cho phép các kỹ thuật mới được thể hiện.
2.2. Điện ảnh đầu thế kỷ XX và Nabokov
Điện ảnh bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX. Nó nhanh chóng trở thành một loại hình nghệ thuật mới mẻ. Nabokov có mối liên hệ mật thiết với điện ảnh. Ông từng viết kịch bản phim cho các nhà làm phim. Ông cũng là một người xem phim nhiệt thành. Những trải nghiệm này ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của ông. Tư duy hình ảnh của Nabokov được nuôi dưỡng và phát triển. Điện ảnh trở thành một ngôn ngữ biểu đạt quan trọng. Nó hòa nhập vào phong cách viết độc đáo của ông.
2.3. Mối liên hệ cốt truyện với điện ảnh
Nhiều tiểu thuyết của Nabokov thể hiện tính điện ảnh rõ rệt. Phòng thủ Luzhin có cấu trúc kịch tính, gợi hình. Tiếng cười trong bóng tối chứa đựng yếu tố giật gân, hồi hộp. Lolita nổi bật với hình ảnh ám ảnh và phối cảnh độc đáo. Những tác phẩm này có cốt truyện chặt chẽ, gợi liên tưởng đến kịch bản phim. Các sự kiện diễn ra tuần tự, có cao trào. Nhân vật được khắc họa rõ nét, chi tiết. Những mối liên hệ này không phải ngẫu nhiên. Chúng là bằng chứng cho sự ảnh hưởng sâu sắc của điện ảnh lên Nabokov.
III.Cốt truyện phim kết cấu montage trong tiểu thuyết
Chương này phân tích hai yếu tố cốt lõi. Đó là cốt truyện kiểu kịch bản phim và kết cấu kiểu montage. Nabokov áp dụng những kỹ thuật này một cách tinh tế. Cốt truyện không chỉ kể chuyện thông thường. Nó còn tạo hiệu ứng hình ảnh sống động. Kết cấu montage tạo nhịp điệu và sự liên kết chặt chẽ. Những yếu tố này làm phong phú thêm tác phẩm. Chúng chứng minh sự ảnh hưởng sâu sắc của điện ảnh. Các thủ pháp này nâng cao trải nghiệm đọc.
3.1. Cốt truyện kiểu kịch bản phim trong tác phẩm
Tiểu thuyết của Nabokov thường có cốt truyện mang tính điện ảnh. Kiểu kịch bản phim Noir được sử dụng. Nó tạo ra không khí u tối, bí ẩn. Cốt truyện kiểu phim tâm lý tình cảm cũng xuất hiện. Các bi kịch Nga đầu thế kỷ XX được tái hiện rõ nét. Kịch bản phim Hollywood mang tính giải trí cũng được lồng ghép. Nabokov đôi khi trình bày cốt truyện dưới dạng kịch bản phim. Điều này làm nổi bật tính hình ảnh. Nó cho thấy sự cố ý trong cách xây dựng tác phẩm. Kỹ thuật này tạo cảm giác xem phim.
3.2. Kết cấu montage trong tiểu thuyết Nabokov
Kỹ thuật montage là một nét đặc trưng. Nó được Nabokov sử dụng rộng rãi và khéo léo. Montage xuất hiện giữa các chương, đoạn văn. Các phân cảnh khác nhau được cắt ghép nhanh chóng. Điều này tạo ra dòng chảy liên tục, cuốn hút. Kết cấu montage cũng có mặt giữa các câu văn. Những hình ảnh, ý tưởng được nối tiếp nhau. Ngay cả trong mỗi câu văn cũng có kỹ thuật montage. Các từ ngữ, chi tiết được sắp xếp một cách có chủ đích. Điều này tạo hiệu ứng thị giác mạnh mẽ. Nó gợi liên tưởng đến kỹ thuật cắt cảnh trong phim.
IV.Điểm nhìn camera không gian kiểu mise en scène
Chương này tập trung vào điểm nhìn và không gian. Người kể chuyện đóng vai trò như một camera linh hoạt. Nó ghi lại mọi diễn biến, chi tiết. Không gian trong tiểu thuyết được xây dựng tỉ mỉ. Nó mang tính chất mise-en-scène của điện ảnh. Các yếu tố này tạo nên trải nghiệm thị giác sống động. Người đọc cảm thấy như đang xem một bộ phim. Điều này chứng tỏ sự chủ động của Nabokov. Ông đã sử dụng thành công các thủ pháp điện ảnh. Tác phẩm đạt được hiệu quả nghệ thuật cao.
4.1. Người kể chuyện và điểm nhìn kiểu camera
Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nabokov rất độc đáo. Nó thường phân thân như một camera quan sát. Camera này đối diện trực tiếp với nhân vật. Nó ghi lại cử chỉ, biểu cảm, và hành động chi tiết. Điểm nhìn camera thay đổi liên tục. Phối cảnh được điều chỉnh thường xuyên. Điều này tạo ra góc nhìn đa chiều cho người đọc. Độc giả được di chuyển trong không gian truyện. Nó giống như ống kính quay phim linh hoạt. Kỹ thuật này tăng cường tính khách quan. Nó cũng làm tăng sự sống động cho câu chuyện.
4.2. Không gian kiểu mise en scène trong tiểu thuyết
Không gian trong tác phẩm của Nabokov được dàn dựng cẩn thận. Nó gợi nhớ đến kỹ thuật mise-en-scène của điện ảnh. Các chi tiết môi trường được mô tả tỉ mỉ. Bố cục không gian được tính toán kỹ lưỡng. Ánh sáng, màu sắc, vật thể đều có ý nghĩa riêng. Chúng tạo nên một bối cảnh sống động và có chiều sâu. Nhân vật tương tác với không gian này một cách tự nhiên. Điều này tạo ra cảm giác chân thực cho người đọc. Nó cũng tăng cường hiệu ứng thị giác. Độc giả dễ dàng hình dung cảnh phim rõ ràng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (196 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------------------------- NGUYỄN THỊ BÍCH CHẤT ĐIỆN ẢNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VLADIMIR NABOKOV LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI - 2022 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------------------------- NGUYỄN THỊ BÍCH CHẤT ĐIỆN ẢNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VLADIMIR NABOKOV CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI MÃ SỐ: 62 22 02 45 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. PHẠM GIA LÂM TS. NGUYỄN THỊ THU THỦY HÀ NỘI - 2022 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích LỜI CẢM ƠN Tôi xin được cảm ơn hai thầy cô hướng dẫn của mình là PGS. Phạm Gia Lâm và TS. Nguyễn Thị Thu Thủy.
Thầy và cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận án này. Những tài liệu, kiến thức mà các thầy cô đã dịch và cung cấp cho tôi là những nền tảng quan trọng nhất để tôi thực hiện luận án này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô thuộc khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình giảng dạy cho tôi trong thời gian học nghiên cứu sinh tại Khoa. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS.
Hoàng Cẩm Giang vì đã giúp tôi rất nhiều trong việc tìm kiếm thêm những tài liệu tiếng Anh mà nếu không có chúng, luận án này sẽ khó có thể thực hiện với kết quả như mong muốn được. Xin cảm ơn Ban chủ nhiệm và các thầy cô, anh chị em đồng nghiệp ở Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã luôn động viên, giúp đỡ, san sẻ công việc với tôi để tôi có thể hoàn thành luận án này. Do kiến thức và khả năng của bản thân tôi còn hạn chế nên luận án còn nhiều thiết sót. Kính mong các thầy, cô góp ý để luận án của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích Tôi không tƣ duy bằng bất cứ ngôn ngữ nào. Tôi tƣ duy bằng hình ảnh. (I don’t think in any language. I think in images.) (Vladimir Nabokov (1990), Strong Opinions, Vintage Books, New York, pp.14) MỤC LỤC MỞ ĐẦU.
Lý do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Đóng góp mới của luận án. Cấu trúc của luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ V.NABOKOV VÀ CHẤT ĐIỆN ẢNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG. Các hướng nghiên cứu về V.
Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận tiểu sử. Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận thi pháp học. Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận liên văn bản. Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận kí hiệu học.
Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận liên ngành. Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận nữ quyền luận. Nhóm công trình khác. Tình hình nghiên cứu về chất điện ảnh trong tiểu thuyết và chất điện ảnh trong tiểu thuyết của V.
Tình hình nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết. Tình hình nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết của V. 50 Tiểu kết chƣơng 1:. CHẤT ĐIỆN ẢNH TRONG TIỂU THUYẾT V.NABOKOV: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
Xu hướng vận động của văn học nghệ thuật nửa đầu thế kỉ XX. Nabokov trong dòng chảy của tiểu thuyết thế kỉ XX. Sự phát triển của điện ảnh đầu thế kỉ XX và mối liên hệ giữa đời sống của Nabokov với điện ảnh. Sự phát triển của điện ảnh đầu thế kỉ XX.
Mối liên hệ giữa đời sống của Nabokov với điện ảnh. Mối liên hệ cốt truyện của Phòng thủ Luzhin, Tiếng cười trong bóng tối, Lolita với điện ảnh. 82 Tiểu kết chƣơng 2:. 90 Chƣơng 3: CỐT TRUYỆN KIỂU KỊCH BẢN PHIM VÀ KẾT CẤU KIỂU MONTAGE TRONG TIỂU THUYẾT CỦA V.
Cốt truyện kiểu kịch bản phim trong tiểu thuyết V. Cốt truyện kiểu kịch bản phim Noir. Cốt truyện kiểu kịch bản phim tâm lý tình cảm kinh dị bi kịch Nga đầu thế kỉ XX. Cốt truyện kiểu kịch bản phim Hollywood.
Cốt truyện theo hình thức kịch bản phim. Kết cấu kiểu montage trong tiểu thuyết V. Kết cấu montage giữa các chương, đoạn. Kết cấu montage giữa các câu văn.
Kết cấu montage trong mỗi câu văn. 127 Tiểu kết chƣơng 3:. 132 Chƣơng 4: NGƢỜI KỂ CHUYỆN – ĐIỂM NHÌN KIỂU CAMERA VÀ KHÔNG GIAN KIỂU MISE-EN-SCENE TRONG TIỂU THUYẾT CỦA V. Người kể chuyện và điểm nhìn kiểu camera trong tiểu thuyết V.
Người kể chuyện phân thân như camera đối diện với nhân vật. Điểm nhìn camera với phối cảnh thường xuyên thay đổi. Không gian kiểu mise-en-scene trong tiểu thuyết V. 160 2 Tiểu kết chƣơng 4:.
171 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN. 175 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Thế kỉ XIX-XX chứng kiến sự ra đời và phát triển nhanh chóng của loại hình điện ảnh. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thường chỉ chú ý đến sự tác động của các loại hình nghệ thuật cũ như văn học, sân khấu, hội họa, nhiếp ảnh… đến điện ảnh mà chưa quan tâm nhiều đến sự tác động ngược lại.
Vì vậy, thông qua nghiên cứu dấu ấn của điện ảnh trong văn học, luận án muốn góp thêm ý kiến về mối quan hệ rất phức tạp giữa điện ảnh và văn học. Từ thế kỉ XX đến nay, sự làm mờ ranh giới loại hình/thể loại đã và đang là một hiện tượng phổ biển trong nghệ thuật thế giới. Các loại hình/thể loại, vốn thường mang dấu vết của loại hình/thể loại khác (“…media inevitably bear one another‟s traces”)[Geiger. J, 2013, 1], lại càng trở nên gần gũi với nhau.
Điều này đã góp phần tạo nên tính chất hậu hiện đại cho nghệ thuật thời gian này. Đồng thời, sau sự xuất hiện của hiện tượng này, nhiều thể loại lai ghép đã ra đời, làm cho nghệ thuật thế kỉ XX phát triển phong phú, đa dạng hơn. Do đó, việc nghiên cứu chất điện ảnh trong văn chương, tức là sự hiện diện của loại hình này trong loại hình khác, là một việc làm phù hợp và cần thiết; tạo tiền đề cho những nghiên cứu về các thể loại lai ghép. Đồng thời, việc làm này cũng giúp hiểu rõ hơn về khuynh hướng phát triển của nghệ thuật thế kỉ XX nói chung và sự phát triển của tiểu thuyết thế kỉ XX nói riêng.
Thực hiện luận án này, chúng tôi cũng muốn xem xét lại quan niệm về chất/tính điện ảnh – khái niệm thường được nhắc đến trong nghiên cứu chuyển thể thời gian gần đây. Trong nghiên cứu chuyển thể văn học - điện ảnh, các nhà nghiên cứu thường cho rằng tính điện ảnh của một tác phẩm văn học, đặc biệt là tiểu thuyết, thường hấp dẫn các nhà làm phim và khiến họ tìm cách chuyển thể tác phẩm đó. Tuy nhiên, gần đây, có ý kiến cho rằng hầu như các tác phẩm văn học đều có thể chuyển thể [Đào Lê Na, 2017, 149]. Vì vậy, thông qua luận án này, chúng tôi muốn tìm câu trả lời cho các vấn đề: tính điện ảnh có hoàn toàn gắn với vấn đề chuyển thể 4 và là một yếu tố hấp dẫn các nhà làm phim? Liệu có phải chỉ những tác phẩm có tính điện ảnh mới có thể chuyển thể? Tính điện ảnh trong tác phẩm văn chương có giúp tác phẩm dễ dàng được chuyển thể hay không? Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu các tiểu thuyết của V.Nabokov, bởi ông là một nhà văn hàng đầu của văn học Nga hải ngoại, một hiện tượng của văn chương thế giới thế kỉ XX.
Ông thành công trong việc sáng tác song ngữ, bằng tiếng Nga – tiếng mẹ đẻ, và bằng cả tiếng Anh. Thậm chí, những sáng tác bằng tiếng Anh của ông còn được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của văn học Anh ngữ ở nhiều thể loại. Kể từ khi ra đời cho đến nay, các tác phẩm của ông luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của giới nghiên cứu bởi tính phức tạp của chúng. Thực hiện luận án này, chúng tôi đọc các tiểu thuyết của Nabokov từ các kĩ thuật điện ảnh, cách tư duy và quan niệm thẩm mỹ của điện ảnh.
Qua đó, chúng tôi hy vọng có thể góp thêm một cách đọc mới cho các tiểu thuyết vốn rất phức tạp này: giúp người đọc giải mã được sự phá vỡ đại tự sự, thủ pháp trò chơi, kiểu người kể chuyện không đáng tin… Từ đó, luận án giúp người đọc hiểu hơn về tài năng, vị trí của Nabokov trong văn học nghệ thuật thế kỉ XX. Xuất phát điểm ban đầu của các nghiên cứu về chất điện ảnh thường gắn với vấn đề chuyển thể. Vì vậy, luận án chọn nghiên cứu về Nabokov bởi ông cũng là tác giả có nhiều tác phẩm được làm thành phim. Hơn 10 phim đã được làm từ các tác phẩm của ông, đưa nhà văn vào nhóm các tác giả được chuyển thể nhiều của thế kỉ XX [Mazierska E.
Luận án chọn nghiên cứu 3 tiểu thuyết của V. Nabokov là Phòng thủ Luzhin (1930), Tiếng cười trong bóng tối (1932) và Lolita (1955). Lí do thứ nhất, đây là ba tiểu thuyết đặc sắc của Nabokov, đại diện cho những giai đoạn sáng tác, các ngôn ngữ sáng tác khác nhau của ông. Phòng thủ Luzhin và Tiếng cười trong bóng tối là các tiểu thuyết sáng tác bằng tiếng Nga, được Nabokov viết khi sống ở châu Âu.
Hai tác phẩm này thể hiện rõ đặc điểm của tiểu thuyết Nabokov thời kì đầu. Tiếng cười trong bóng tối được Nabokov viết bằng tiếng Nga, nhưng 5 sau đó được chính ông dịch sang tiếng Anh. Chính vì vậy, đây sẽ là một trường hợp thú vị để nghiên cứu sự vận động trong tư duy, quan niệm sáng tác của Nabokov, trong đó có sự vận động do chịu sự tác động của điện ảnh. Phòng thủ Luzhin là một tiểu thuyết tương đối phức tạp được kể từ góc nhìn của một người tự kỷ có tài năng và đam mê môn cờ vua.
Tiếng cười trong bóng tối là một tiểu thuyết có đề tài độc đáo. Đây cũng là một tiểu thuyết được chính Nabokov tiết lộ rằng ông viết nó như viết một kịch bản phim [Appel A.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" nghiên cứu về vấn đề gì?
Điện ảnh trong tiểu thuyết Nabokov: Khám phá cách ông dùng hình ảnh, cấu trúc tự sự để tạo trải nghiệm đọc như phim.
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2022.
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài. Danh mục: Lý Luận Văn Học.
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" có 196 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu chất điện ảnh trong tiểu thuyết Vladimir Nabokov" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.