Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại - Luận án Tiến sĩ
Khám phá hồi ký tự truyện Việt Nam hiện đại qua lăng kính diễn ngôn thể loại. Phân tích sâu sắc cấu trúc, ngôn ngữ, và ý nghĩa.
Năm xuất bản
Số trang
209
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tổng quan nghiên cứu hồi ký, tự truyện Việt Nam hiện đại
- Số trang:
- 209 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Quỳnh Như
- Năm:
- 2022
Tóm tắt nội dung luận án
I.Tổng quan nghiên cứu hồi ký tự truyện Việt Nam hiện đại
Luận án cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu hồi ký và tự truyện Việt Nam hiện đại. Nó chỉ ra các khoảng trống trong việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào lĩnh vực này. Văn học tự thuật Việt Nam là một mảng phong phú. Nhiều công trình trước đây tập trung vào giá trị lịch sử, xã hội của tác phẩm. Chúng cũng phân tích phong cách nghệ thuật của các tác giả. Tuy nhiên, việc xác định biên giới thể loại giữa hồi ký và tự truyện còn gặp nhiều khó khăn. Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp tiếp cận mới. Nó sử dụng lý thuyết diễn ngôn để phân tích sâu sắc hơn. Mục tiêu là làm rõ bản chất và đặc điểm của hồi ký Việt Nam hiện đại và tự truyện Việt Nam. Luận án nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu liên ngành.
1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn ở Việt Nam
Nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn đang phát triển tại Việt Nam. Nó mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trong văn học. Lý thuyết này giúp phân tích sâu sắc cấu trúc, chức năng của ngôn ngữ. Các công trình trước đây tập trung vào việc định nghĩa diễn ngôn. Một số khác ứng dụng diễn ngôn vào các lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu hồi ký, tự truyện vẫn còn hạn chế. Luận án này lấp đầy khoảng trống đó. Nó mang đến cái nhìn toàn diện về văn học tự thuật.
1.2. Nghiên cứu hồi ký tự truyện Việt Nam Tổng quan tác giả
Hồi ký Việt Nam hiện đại và tự truyện Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các công trình này thường mang tính tổng quan. Chúng liệt kê các tác phẩm tiêu biểu. Một số nghiên cứu sâu hơn về từng tác giả, từng tác phẩm cụ thể. Giới học thuật tập trung vào giá trị lịch sử, xã hội của các tác phẩm. Họ cũng khám phá phong cách nghệ thuật cá nhân. Tuy nhiên, ít công trình xem xét hồi ký, tự truyện từ góc độ diễn ngôn thể loại. Sự phân biệt giữa hai thể loại này thường dựa trên yếu tố nội dung. Khó khăn tồn tại trong việc xác định biên giới thể loại. Luận án này cung cấp một phương pháp mới. Nó giúp phân tích các yếu tố cấu thành diễn ngôn. Từ đó, làm rõ hơn đặc điểm của hồi ký và tự truyện.
II.Cơ sở diễn ngôn thể loại hồi ký và tự truyện Việt Nam
Phần này thiết lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu hồi ký và tự truyện Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại. Nó xem xét các quan điểm truyền thống về thể loại và những hạn chế của chúng. Đặc biệt, luận án đi sâu vào lịch sử phát triển của văn học tự thuật Việt Nam qua các giai đoạn. Nó nhận diện sự thay đổi trong quan niệm về 'sự thật' và 'biên giới thể loại'. Việc phân tích diễn ngôn được đề xuất như một công cụ hiệu quả. Nó giúp giải quyết vấn đề thể loại lai ghép. Từ đó, xây dựng một mô hình nghiên cứu mới. Mô hình này giúp làm rõ các yếu tố cốt lõi của hồi ký và tự truyện.
2.1. Quan điểm thể loại phân loại tác phẩm văn học
Việc phân loại tác phẩm văn học là một vấn đề phức tạp. Các phương pháp truyền thống thường dựa vào nội dung, hình thức. Chúng giúp tạo ra các thể loại cơ bản. Tuy nhiên, nhiều tác phẩm hiện đại có tính lai ghép. Chúng gây khó khăn trong phân loại. Văn học tự thuật Việt Nam thường xuyên vượt qua các ranh giới. Hồi ký và tự truyện là điển hình. Chúng chia sẻ nhiều đặc điểm chung. Quan điểm diễn ngôn thể loại giúp giải quyết vấn đề này. Nó không chỉ nhìn vào 'cái gì' mà còn 'cách thức' một văn bản được kiến tạo. Điều này mở ra cách hiểu mới về bản chất thể loại.
2.2. Hồi ký tự truyện Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
Hồi ký và tự truyện Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn 1900-1945 chứng kiến sự ra đời của nhiều tác phẩm quan trọng. Chúng phản ánh xã hội biến động. Giai đoạn 1945-1975 gắn liền với kháng chiến. Các tác phẩm ghi lại ký ức chiến tranh, anh hùng. Sau 1975, văn xuôi phi hư cấu phát triển mạnh mẽ. Nhiều hồi ký, tự truyện đào sâu vào nội tâm, đời sống cá nhân. Lịch sử phát triển cho thấy sự đa dạng của văn học tự thuật Việt Nam. Nó cũng chỉ ra sự chuyển dịch trong quan niệm về cái tôi.
2.3. Nhận thức sự thật biên giới thể loại trong văn học tự thuật Việt Nam
Sự thật là một yếu tố cốt lõi của hồi ký và tự truyện. Luận án xem xét nhận thức về sự thật trong các tác phẩm này. Sự thật có thể là khách quan (ngoại quan) hoặc chủ quan (nội quan). Ranh giới giữa phi hư cấu và hư cấu luôn là một thách thức. Nhiều tác phẩm tự thuật chứa đựng yếu tố hư cấu. Điều này làm mờ đi biên giới thể loại. Phân tích diễn ngôn giúp hiểu rõ hơn cách tác phẩm kiến tạo 'sự thật' của riêng nó. Nó cũng giúp nhận diện các thể loại lai ghép. Luận án đề xuất mô hình nghiên cứu mới. Mô hình này dựa trên các mã tư tưởng và nghệ thuật.
III.Mã tư tưởng hồi ký tự truyện Cái tôi sự thật
Chương này đi sâu vào phân tích mã tư tưởng của hồi ký và tự truyện Việt Nam. Nó tập trung vào vai trò của 'cái tôi' tác giả-người kể chuyện. Cái tôi này được xem xét như một chứng nhân của quá khứ. Luận án khám phá cách tác phẩm tái hiện bức tranh thời đại và chân dung con người. Đặc biệt, nó phân biệt rõ 'sự thật ngoại quan' trong hồi ký và 'sự thật nội quan' trong tự truyện. Sự khác biệt này là chìa khóa để nhận diện đặc trưng của từng thể loại. Phân tích diễn ngôn làm sáng tỏ cách các tác phẩm xây dựng và trình bày các loại sự thật này. Điều này giúp xác định biên giới thể loại một cách khách quan hơn.
3.1. Cái tôi tác giả Người kể chuyện chứng nhân lịch sử
Cái tôi là trung tâm trong hồi ký và tự truyện. Nó là cái tôi tác giả, đồng thời là người kể chuyện. Trong hồi ký, cái tôi thường đóng vai trò chứng nhân. Nó thuật lại các sự kiện lịch sử. Nó ghi chép lại những gì đã xảy ra. Cái tôi này quan tâm đến thế giới bên ngoài. Nó kể về những người xung quanh. Trong tự truyện, cái tôi tập trung vào nội tâm. Nó tự thú, tự đánh giá về bản thân. Cái tôi thể hiện tài năng, tâm huyết với nghề nghiệp. Sự khác biệt này định hình mã tư tưởng. Nó là yếu tố quan trọng trong phân tích diễn ngôn.
3.2. Bức tranh thời đại chân dung con người qua ký ức
Hồi ký và tự truyện kiến tạo bức tranh thời đại. Chúng phản ánh các biến thiên lịch sử. Đời sống xã hội quá khứ hiện lên rõ nét. Các tác phẩm này cũng vẽ nên chân dung con người. Họ là những người bạn, đồng nghiệp của tác giả. Ký ức được sử dụng để tái hiện nhân vật. Người đọc thấy được nhiều góc cạnh của lịch sử và con người. Đây là giá trị quan trọng của văn học tự thuật Việt Nam.
3.3. Sự thật ngoại quan và nội quan trong thể loại
Sự thật trong hồi ký có tính 'ngoại quan'. Nó tập trung vào các sự kiện khách quan. Nó là sự thật về thế giới bên ngoài. Mục tiêu là ghi lại lịch sử. Sự thật trong tự truyện có tính 'nội quan'. Nó đào sâu vào cảm xúc, suy nghĩ. Nó là sự thật về nội tâm tác giả. Mục tiêu là tự khám phá bản thân. Phân tích diễn ngôn giúp nhận diện hai loại sự thật này. Nó làm rõ hơn đặc trưng của từng thể loại. Biên giới thể loại trở nên rõ ràng hơn qua mã tư tưởng.
IV.Mã nghệ thuật diễn ngôn Hồi ký tự truyện Việt Nam
Chương này khảo sát các mã nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn trong hồi ký, tự truyện Việt Nam. Nó phân tích sự đa dạng của điểm nhìn trần thuật. Từ đó, làm rõ cách các tác phẩm sắp xếp kết cấu. Kết cấu có thể theo trật tự biên niên hoặc phân mảnh. Sự phong phú về giọng điệu cũng được nhấn mạnh. Giọng trữ tình, suy tư, hài hước đều xuất hiện. Đặc biệt, luận án khám phá xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu. Điều này tạo nên các thể loại lai ghép. Nó làm mờ ranh giới giữa hồi ký và tự truyện. Phân tích diễn ngôn nghệ thuật giúp hiểu sâu sắc hơn về cách các tác phẩm này vận hành. Nó cung cấp một cái nhìn toàn diện về văn xuôi phi hư cấu Việt Nam.
4.1. Điểm nhìn trần thuật đa dạng linh hoạt
Điểm nhìn trần thuật là yếu tố then chốt trong diễn ngôn. Hồi ký, tự truyện Việt Nam có điểm nhìn đa dạng. Ưu thế thường thuộc về người kể chuyện ngôi thứ nhất. Đây là điểm nhìn chủ quan. Nó thể hiện cái tôi tác giả. Tuy nhiên, xu hướng đa dạng hóa góc nhìn đang tăng lên. Người kể chuyện ngôi thứ nhất có thể chuyển đổi vai trò. Đôi khi, điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ ba cũng xuất hiện. Điều này làm cho tác phẩm trở nên phong phú hơn. Nó tạo ra nhiều lớp ý nghĩa.
4.2. Kết cấu diễn ngôn Từ biên niên đến phân mảnh
Kết cấu diễn ngôn trong hồi ký và tự truyện rất linh hoạt. Kết cấu theo trật tự biên niên là phổ biến. Nó sắp xếp sự kiện theo thời gian. Đây là cách kể chuyện truyền thống. Tuy nhiên, các tác phẩm hiện đại thường có kết cấu phân mảnh. Chúng đan xen các ký ức. Thời gian không còn tuyến tính. Kết cấu đan cài tuyến truyện cũng xuất hiện. Các câu chuyện phụ được lồng ghép. Điều này thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật. Nó cũng thách thức việc phân loại thể loại.
4.3. Giọng điệu phong phú giao thoa thể loại
Giọng điệu trong hồi ký, tự truyện rất đa dạng. Giọng trữ tình, hoài niệm thường thấy. Nó thể hiện sự tiếc nuối về quá khứ. Giọng suy tư, triết lý đào sâu vào ý nghĩa cuộc đời. Giọng hài hước, giễu nhại mang lại sự dí dỏm. Sự phong phú này tạo nên sức hấp dẫn. Xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu là rõ ràng. Hồi ký có xu hướng 'hư cấu hóa' chi tiết. Tự truyện có xu hướng 'phi hư cấu hóa' trải nghiệm. Lực hút từ hai phía này tạo ra thể loại lai ghép. Ranh giới giữa chúng trở nên mờ nhạt. Đây là đặc điểm nổi bật của văn học tự thuật hiện đại Việt Nam.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (209 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 62 22 01 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN THÀNH THI Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2022 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình từ thầy cô, nhà trường, gia đình và bạn bè. Thông qua luận án, tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến: PGS. TS Nguyễn Thành Thi, Giảng viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm TP.
HCM, GV hướng dẫn trực tiếp – người thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn và định hướng cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận án; Quý thầy (cô) trong Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm TP.HCM, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Tổ Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm TP.HCM, Tổ Thông tin Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, trường Đại học Đà Lạt cùng các anh (chị) lớp Nghiên cứu sinh ngành Văn học Việt Nam đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận án; Gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn khích lệ, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian qua. Đó chính là nguồn động viên, cổ vũ giúp tác giả có thêm động lực và sự cố gắng để hoàn thành luận án của mình. HCM, ngày tháng năm 2022 Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Như LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong Luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Tác giả luận án Nguyễn Thị Quỳnh Như MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Mục đích nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp mới của luận án. Cấu trúc của luận án.
6 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam. Nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn. Nghiên cứu việc vận dụng diễn ngôn vào văn học Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam. Nghiên cứu mang tính tổng quan. Nghiên cứu về tác giả, tác phẩm hồi ký, tự truyện tiêu biểu. 23 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI.
Một số vấn đề thể loại. Quan điểm nghiên cứu loại hình và các phương pháp truyền thống trong việc phân loại tác phẩm văn học. Quan điểm nghiên cứu văn học và thể loại văn học từ góc nhìn diễn ngôn. Cơ sở thực tiễn.
Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn sau 1975. Quan điểm nghiên cứu hồi ký, tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn.
Nhận thức về “sự thật”, “chân lý” trong hồi ký, tự truyện. Lằn ranh “phi hư cấu” - “hư cấu” trong hồi ký, tự truyện. Định hướng xác lập mô hình nghiên cứu của luận án. 68 CHƯƠNG 3: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ TƯ TƯỞNG CỦA THỂ LOẠI.
Cái tôi tác giả - người kể chuyện: cái tôi chứng nhân về “sự thật” của quá khứ. Cái tôi hồi tưởng về tuổi thơ và các mối quan hệ gia đình. Cái tôi tự thú, đánh giá về chính mình. Cái tôi tài năng, tâm huyết với nghề.
Bức tranh thời đại và bức chân dung về con người qua dòng hồi tưởng. Bức tranh đời sống xã hội trong quá khứ qua những biến thiên lịch sử. Những bức vẽ chân dung bằng hữu qua hồi tưởng. Một số biểu hiện khác biệt về mã tư tưởng - “sự thật” giữa hồi ký và tự truyện.
“Sự thật” trong thể hồi ký - sự thật “ngoại quan”. “Sự thật” trong thể tự truyện - sự thật “nội quan”. 118 CHƯƠNG 4: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ LOẠI. Điểm nhìn trần thuật đa dạng trong cấu trúc diễn ngôn hồi ký, tự truyện.
Ưu thế của điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Xu hướng đa dạng hóa góc nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất. Điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ ba. Kết cấu linh hoạt trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện.
Kết cấu theo trật tự biên niên. Kết cấu phân mảnh. Kết cấu đan cài tuyến truyện. Sự phong phú về giọng điệu trong kiến tạo diễn ngôn.
Giọng trữ tình, hoài niệm. Giọng suy tư, triết lý. Giọng hài hước, giễu nhại. Xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu trong hồi ký, tự truyện.
Lực hút từ hai phía hồi ký, tự truyện. Xu hướng “hư cấu hóa” trong hồi ký. Xu hướng “phi hư cấu hóa” trong tự truyện. 178 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ.
182 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài 1. Trong bức tranh văn học Việt Nam, hồi ký và tự truyện là những thể loại văn xuôi nghệ thuật có một giá trị khá đặc biệt. Tuy là hai thể loại khác nhau nhưng giữa chúng có một đường biên động rất khó để phân chia ranh giới cho rạch ròi.
Điểm giống nhau giữa hồi ký và tự truyện là những thể loại văn học mang tính hồi cố, tái hiện quá khứ. Tuy nhiên, mô chuẩn nghệ thuật của mỗi thể loại lại khác nhau. Bản chất nghệ thuật của truyện cho phép tác giả hư cấu tạo nên những hình tượng hoàn chỉnh, còn hồi ký lại đòi hỏi sự chính xác của sự kiện và những đánh giá khách quan của người viết ký. Những mô chuẩn ấy chỉ có tính quy ước, có ý nghĩa tương đối và có khả năng biến đổi.
Chính vì thế, việc tìm hiểu sự tương tác thể loại của hồi ký và tự truyện là vấn đề khá thú vị của người nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm tự truyện, hồi ký của các nhà văn, nhà phê bình, giới văn nghệ sĩ, nhà báo, các tướng lĩnh cách mạng,. Các tác giả đã tạo nên một mảng sinh động trong đời sống văn học mà ở đó hé lộ cho người đọc hiểu hơn nhiều sự kiện văn học quá khứ, nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần, xa,… Tất cả đã được tái dựng theo một cách nhìn mới, không đơn giản, một chiều mà khoan dung, thấu tình đạt lý hơn. Những chuyển động ban đầu đó đã báo hiệu tầm ảnh hưởng sâu rộng của hồi ký, tự truyện đối với đời sống văn học đương đại.
Hiện nay, một mô hình nghiên cứu mới bổ sung mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết phản ánh phát triển khá mạnh mẽ trong các ngành khoa học xã hội nhân văn. Đó là các hiện tượng văn hóa, văn học được định vị trong mạng lưới diễn ngôn xung quanh nó. Khi đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn không chỉ nghiên cứu ngôn từ mà còn nghiên cứu các quy tắc tư tưởng, xã hội chìm sâu, chi phối quá trình sáng tác của nhà văn. Với việc tìm hiểu lý thuyết diễn ngôn, người tiếp nhận sẽ thấy rằng ngôn ngữ không chỉ là công cụ phản ánh mà chính là sự kiến tạo nội dung.
Việc tìm hiểu hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại từ góc nhìn diễn ngôn thể loại là một cách tiếp cận nhiều triển vọng. Không có điều kiện và tham vọng khảo sát toàn bộ hồi ký và tự truyện Việt Nam hiện đại, luận án chủ yếu nghiên cứu những tác phẩm hồi ký, tự truyện trong địa hạt văn học của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình nhận được sự quan tâm và đánh giá cao của giới chuyên môn cũng như độc giả. Từ đó, luận án sẽ đi vào tìm hiểu hồi ký, tự truyện ở phương diện mã tư tưởng và mã nghệ thuật của thể loại. Điều này có thể mang lại sự nhìn nhận và đánh giá toàn diện, khách quan hơn về hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại.
Bên cạnh đó, luận án sẽ góp phần làm sáng rõ hơn bản chất của diễn ngôn, vấn đề ngày càng được quan tâm thảo luận, vận dụng trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam. Với những ý nghĩa ấy, việc nghiên cứu đề tài có thể góp thêm một tài liệu tham khảo thiết thực với những người quan tâm đến lý luận, phê bình văn học, những người dạy - học văn học trong nhà trường các cấp. Mục đích nghiên cứu Luận án hướng đến tìm hiểu sự chi phối của mã thể loại đến diễn ngôn hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại. Với cơ chế tác động kép, mã thể loại vừa quy định nhà văn phải tuân theo những yêu cầu đặc trưng của nòng cốt thể loại vừa có thể mở rộng phạm vi phản ánh để đem lại những hiệu quả nghệ thuật mới.
Từ đó, việc nghiên cứu hồi ký, tự truyện văn học Việt Nam hiện đại từ góc nhìn diễn ngôn thể loại sẽ xác định rõ hơn nội dung, tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm thông qua các mã tư tưởng thể loại và mã nghệ thuật thể loại. Việc lựa chọn hồi ký, tự truyện văn học Việt Nam hiện đại để khảo sát, chúng tôi mong muốn thấy được những khuynh hướng, sắc thái chủ đạo trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện, đồng thời thấy được đóng góp của thể loại hồi ký, tự truyện trong nền văn học Việt Nam, từ đó có được những tư liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hồi ký, tự truyện văn học Việt Nam hiện đại từ góc nhìn diễn ngôn thể loại.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Quỳnh Như (2022). Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/hoi-ky-tu-truyen-hien-dai-viet-nam-tu-goc-nhin-dien-ngon-the-loai
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá hồi ký tự truyện Việt Nam hiện đại qua lăng kính diễn ngôn thể loại. Phân tích sâu sắc cấu trúc, ngôn ngữ, và ý nghĩa.
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2022.
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học.
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" có 209 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.