Luận án tiến sĩ: Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Trần Văn Phượng
Luận án tiến sĩ Ngữ văn: Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải. Phân tích sâu sắc phong cách, chủ đề và tư tưởng của nhà văn.
Luan An
luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
174
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khái quát tiểu thuyết Nguyễn Khải: Hướng đi & đóng góp
- Số trang:
- 174 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Trần Văn Phương
- Năm:
- 2001
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khái quát tiểu thuyết Nguyễn Khải Hướng đi đóng góp
Nguyễn Khải là một nhà văn gạo cội. Ông có hơn nửa thế kỷ hoạt động liên tục. Sự nghiệp ông gắn liền với các giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam. Ông chứng kiến và phản ánh hai cuộc chiến tranh lớn. Ông cũng viết về thời kỳ hòa bình, xây dựng xã hội mới. Giai đoạn Đổi mới, Nguyễn Khải tiếp tục sáng tác sung sức. Tác phẩm của ông được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Ông nhận nhiều giải thưởng văn học uy tín. Luận án này đi sâu nghiên cứu những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Khải. Nó nhằm chỉ ra những đóng góp lớn của ông cho nền văn xuôi hiện đại. Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống trong việc phân tích tiểu thuyết Việt Nam sau 1945.
1.1. Hành trình sáng tác Từ kháng chiến đến Đổi mới
Nguyễn Khải bắt đầu sự nghiệp văn học từ phong trào kháng chiến. Ông là một trong số ít nhà văn giữ được phong độ. Ông liên tục sáng tác qua nhiều thời kỳ. Tác phẩm của ông là một khảo luận sâu sắc. Nó về cuộc sống và con người Việt Nam. Từ chiến tranh vệ quốc đến hòa bình, đổi mới. Ông luôn được độc giả yêu mến, chờ đợi các tác phẩm mới.
1.2. Định hình phong cách Tiểu thuyết chính luận triết luận
Nguyễn Khải đã kiên trì mở một hướng đi riêng. Tiểu thuyết của ông đặt ra nhiều vấn đề xã hội. Ông tập trung vào các vấn đề chính trị quan trọng. Giọng văn của ông giàu suy ngẫm, chiêm nghiệm. Các tác phẩm của ông mang đậm tính chính luận, triết luận. Ông có ý thức rõ ràng về thể loại tiểu thuyết. Hơn một nửa số đầu sách của ông là tiểu thuyết và truyện vừa.
1.3. Vị thế và ảnh hưởng trong văn học Việt Nam
Các công trình nghiên cứu đều thống nhất. Nguyễn Khải là nhà văn tiêu biểu của văn học đương đại. Luận án này tiếp tục nghiên cứu sâu đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải. Mục tiêu là chỉ ra đóng góp quan trọng của ông. Ông đã làm phong phú thêm thi pháp tiểu thuyết. Ông góp phần đánh giá đúng sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam.
II. Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1945
Tiểu thuyết Nguyễn Khải thể hiện nhiều đặc điểm nghệ thuật nổi bật. Các tác phẩm của ông phản ánh sự vận động của văn học Việt Nam sau 1945. Nguyễn Khải không chỉ hòa mình vào dòng chảy chung. Ông còn tạo ra một phong cách Nguyễn Khải riêng biệt. Đó là khuynh hướng chính luận, triết luận sâu sắc. Ông luôn trăn trở với các vấn đề lớn của thời đại. Tác phẩm của ông là những lời chất vấn, những suy tư. Đặc điểm này định hình nên tên tuổi ông. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải luôn đổi mới. Ông không ngừng tìm tòi các hình thức thể hiện. Điều này làm nên sức hấp dẫn đặc biệt cho tiểu thuyết Nguyễn Khải.
2.1. Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1945
Tiểu thuyết Việt Nam có nhiều chuyển biến. Sau 1945, văn học tập trung phản ánh chiến tranh. Giai đoạn hòa bình, xây dựng mở ra nhiều đề tài mới. Tiểu thuyết Nguyễn Khải là một phần của quá trình đó. Ông vừa kế thừa, vừa phát triển. Ông góp phần định hình diện mạo tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
2.2. Khuynh hướng tiểu thuyết chính luận triết luận
Đây là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách Nguyễn Khải. Tác phẩm của ông không chỉ kể chuyện. Nó còn bàn luận, lý giải các hiện tượng xã hội. Các vấn đề chính trị, đạo đức được đặt ra. Ông thể hiện một tư tưởng Nguyễn Khải sâu sắc. Tiểu thuyết của ông mang tính thời sự cao. Đồng thời, nó chứa đựng những giá trị triết lý vượt thời gian.
2.3. Đóng góp vào đặc điểm nghệ thuật chung của thể loại
Tiểu thuyết Nguyễn Khải mở rộng biên độ phản ánh hiện thực. Ông đưa vào tác phẩm những suy tư đa chiều. Thi pháp tiểu thuyết của ông có những đổi mới đáng kể. Ông không ngừng thể nghiệm các hình thức tự sự. Điều này làm phong phú thêm đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam. Ông góp phần đa dạng hóa thể loại.
III. Nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Khải
Nghệ thuật xây dựng nhân vật là một điểm mạnh của Nguyễn Khải. Ông tạo ra những hình tượng nhân vật độc đáo. Họ đại diện cho các tầng lớp, thế hệ khác nhau. Nhân vật của ông có chiều sâu tâm lý phức tạp. Họ không đơn thuần là nhân vật chức năng. Họ mang tính tư tưởng rõ rệt. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải được thể hiện qua họ. Ông đi sâu vào nội tâm, khám phá những mâu thuẫn. Các nhân vật thường đối mặt với các lựa chọn khó khăn. Điều này làm cho họ trở nên sống động. Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Khải làm nổi bật nhân vật.
3.1. Các loại nhân vật tiêu biểu đa chiều
Nguyễn Khải xây dựng nhiều loại nhân vật. Họ là những người lính, trí thức, cán bộ cách mạng. Họ cũng là những người dân thường. Các nhân vật tiêu biểu cho từng chặng đường lịch sử. Họ được khắc họa một cách chân thực. Nhân vật của ông luôn có sự đấu tranh nội tâm. Họ không bao giờ là một chiều, đơn giản.
3.2. Nhân vật tư tưởng Hình tượng trung tâm
Đây là loại nhân vật đặc trưng của tiểu thuyết Nguyễn Khải. Nhân vật tư tưởng không chỉ hành động. Họ còn suy tư, tranh biện các vấn đề xã hội. Họ thường là hiện thân của những quan điểm, triết lý. Chủ đề tiểu thuyết thường xoay quanh những nhân vật này. Họ là hạt nhân để tác giả triển khai tư tưởng Nguyễn Khải. Đây là nét độc đáo trong thi pháp tiểu thuyết của ông.
3.3. Nghệ thuật tự sự và miêu tả nội tâm nhân vật
Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Khải rất tinh tế. Ông tập trung vào diễn biến tâm lý nhân vật. Ông sử dụng các đoạn độc thoại nội tâm. Điều này giúp làm rõ suy nghĩ, cảm xúc của họ. Nhân vật được miêu tả từ nhiều góc độ. Tác giả đi sâu vào những ẩn ức, trăn trở. Nó làm cho nhân vật trở nên có hồn, gần gũi.
IV. Thi pháp tiểu thuyết Cốt truyện ngôn ngữ giọng điệu
Thi pháp tiểu thuyết Nguyễn Khải mang nhiều nét đặc sắc. Cốt truyện của ông thường không theo lối truyền thống. Nó tập trung vào sự kiện tư tưởng, chứ không phải hành động. Kết cấu tiểu thuyết linh hoạt, ít bị gò bó. Ngôn ngữ trần thuật của ông sắc sảo, giàu chất chính luận. Giọng điệu đa dạng, thể hiện cái nhìn nhiều chiều. Đặc điểm nghệ thuật này góp phần làm nên phong cách Nguyễn Khải. Ông chú trọng vào chiều sâu tư tưởng. Các yếu tố này hòa quyện, tạo nên sức hút. Nó cũng khẳng định dấu ấn riêng của tác giả trong văn học. Luận án phân tích sâu những khía cạnh này.
4.1. Đặc điểm kết cấu và cốt truyện giàu tính suy tưởng
Kết cấu tiểu thuyết Nguyễn Khải thường phức tạp. Cốt truyện không tuyến tính, có nhiều tầng ý nghĩa. Nó tập trung vào các vấn đề nội tại của con người. Tác phẩm thường có nhiều tuyến nhân vật đan xen. Các tình huống được sắp xếp khéo léo. Cốt truyện mở ra không gian cho người đọc suy tưởng. Thi pháp tiểu thuyết của ông mang dấu ấn cá nhân đậm nét.
4.2. Ngôn ngữ trần thuật Giàu chất chính luận triết lý
Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Khải sắc bén. Nó mang đậm tính chính luận. Câu văn thường ngắn gọn, hàm súc. Ông sử dụng nhiều câu hỏi tu từ, lập luận chặt chẽ. Ngôn ngữ không chỉ kể chuyện. Nó còn truyền tải tư tưởng Nguyễn Khải sâu sắc. Đây là đặc điểm nghệ thuật quan trọng. Nó làm nên chất riêng của tiểu thuyết ông.
4.3. Giọng điệu trần thuật Khách quan và đa thanh
Giọng điệu trần thuật của Nguyễn Khải rất đa dạng. Nó thường khách quan, đôi khi có sự giễu nhại. Giọng điệu thể hiện cái nhìn đa chiều về cuộc sống. Tác giả không áp đặt quan điểm. Ông tạo không gian cho người đọc tự suy luận. Giọng điệu này làm tăng sức hấp dẫn của tiểu thuyết. Nó cũng phản ánh cái nhìn sâu sắc của tác giả.
V. Tư tưởng chủ đề tiểu thuyết Nguyễn Khải sâu sắc
Tư tưởng Nguyễn Khải là một trụ cột trong tác phẩm của ông. Các chủ đề tiểu thuyết luôn mang tính thời sự và triết lý. Ông khám phá sâu sắc về con người và số phận. Từ bối cảnh chiến tranh đến thời bình. Tác phẩm của ông không ngừng đặt ra câu hỏi. Về giá trị sống, về trách nhiệm cá nhân. Quan niệm nghệ thuật về con người của ông rất rõ nét. Ông luôn thể hiện sự trăn trở với đất nước. Sự tiếp nối và đổi mới tư tưởng là đặc điểm xuyên suốt. Ông mạnh dạn chạm đến các vấn đề gai góc. Điều này làm nên giá trị và sức sống cho tiểu thuyết Nguyễn Khải.
5.1. Chủ đề về con người và số phận trong chiến tranh
Tiểu thuyết Nguyễn Khải tập trung khám phá con người. Ông đi sâu vào số phận cá nhân. Bối cảnh chính là các cuộc kháng chiến. Nhân vật đối mặt với thử thách lớn. Họ phải đưa ra những lựa chọn sống còn. Chủ đề tiểu thuyết này luôn có sức hút. Nó phản ánh hiện thực lịch sử khốc liệt. Ông khắc họa tinh thần của người Việt Nam.
5.2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thời bình
Khi đất nước hòa bình, chủ đề thay đổi. Nguyễn Khải quan tâm đến con người trong xã hội mới. Ông đặt câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống, các giá trị. Nhân vật đối mặt với xung đột nội tâm. Họ tìm kiếm mục đích, lẽ sống. Tư tưởng Nguyễn Khải thể hiện sự trăn trở sâu sắc. Ông muốn giải mã những phức tạp của thời đại.
5.3. Sự tiếp nối và đổi mới tư tưởng trong tác phẩm
Tư tưởng Nguyễn Khải luôn vận động, phát triển. Ông không ngừng đổi mới quan điểm, cái nhìn. Tác phẩm của ông thể hiện sự trưởng thành vượt bậc. Ông mạnh dạn chạm đến các vấn đề gai góc của xã hội. Luận án làm rõ sự tiếp nối đó. Nó chỉ ra những đóng góp tư tưởng độc đáo của ông. Đặc điểm nghệ thuật gắn liền với những tư tưởng này.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (174 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ Ngữ văn của nghiên cứu sinh Trần Văn Phương với đề tài "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải" (Chuyên ngành: Văn học Việt Nam, Mã số: 5.33, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Long vào năm 2001) đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hệ thống hóa thi pháp thể loại của một trong những gương mặt trụ cột của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Bối cảnh khoa học của công trình xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu kéo dài: sau chuyên luận nền tảng Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, giới học thuật chủ yếu tập trung khảo sát thành tựu tiểu thuyết tiền Cách mạng tháng Tám 1945, trong khi diện mạo tiểu thuyết giai đoạn sau 1945 – đặc biệt là khuynh hướng chính luận – triết luận – vẫn còn nhiều địa hạt bị bỏ ngỏ.
Nghiên cứu xác lập và giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Đâu là quy luật vận động nội tại và vị trí lịch sử của tiểu thuyết Nguyễn Khải trong tiến trình chuyển dịch từ mỹ học sử thi kháng chiến sang mỹ học thế sự – đời tư của văn học Việt Nam từ sau 1945?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải được tổ chức theo những nguyên tắc thi pháp nào để chuyển tải loại hình "nhân vật tư tưởng" thay vì mô hình nhân vật tính cách – số phận truyền thống?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những đặc trưng cấu trúc – cốt truyện, kỹ thuật trần thuật và ngôn ngữ đa thanh đã tạo nên diện mạo tiểu thuyết ngắn/tiểu thuyết triết luận độc đáo của Nguyễn Khải ra sao?
Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết khoa học được kiểm chứng:
- Giả thuyết 1 (H1): Tiểu thuyết Nguyễn Khải vận động theo quy luật tịnh tiến từ tư duy thời sự – chính luận sang tư duy chiêm nghiệm – triết luận, phản ánh bước chuyển đổi hệ hình của văn xuôi dân tộc.
- Giả thuyết 2 (H2): Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải không lấy tính cách trọn vẹn làm trung tâm mà được xây dựng như những tiêu điểm tư tưởng, nơi trí tuệ và năng lực thích ứng với hoàn cảnh được đẩy lên thành phẩm chất thẩm mỹ hàng đầu.
- Giả thuyết 3 (H3): Cấu trúc tiểu thuyết Nguyễn Khải dung hợp kỹ thuật trần thuật báo chí, thủ pháp điện ảnh và đối thoại đa thanh, tạo nên dạng thức "tiểu thuyết tiểu luận" (roman-essai) có dung lượng nén chặt nhưng mở rộng tối đa biên độ đối thoại với hiện thực.
Phạm vi khảo sát của luận án bao quát toàn diện 12 cuốn tiểu thuyết xuất bản trong 30 năm (1959–1989) với dung lượng 2.454 trang in: từ Xung đột (Tập 1: 1959, 185 trang; Tập 2: 1961, 210 trang), Đường trong mây (1969, 262 trang), Ra đảo (1970, 198 trang), Chủ tịch huyện (1971, 158 trang), Chiến sĩ (1973, 448 trang – tác phẩm có quy mô dài nhất), Cha và con và… (1979, 217 trang), Gặp gỡ cuối năm (1982, 158 trang), Thời gian của người (1985, 189 trang), Điều tra về một cái chết (1986, 171 trang), Vòng sóng đến vô cùng (1987, 165 trang), đến Một cõi nhân gian bé tí (1989, 131 trang – tác phẩm ngắn nhất). Tác động của luận án mang tính khai phá khi lần đầu tiên mô hình hóa thi pháp tiểu thuyết Nguyễn Khải như một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh trong dòng chảy văn học cách mạng và đổi mới.
Literature Review và Positioning
Khảo cứu lịch sử nghiên cứu cho thấy có trên 100 công trình, bài viết chuyên sâu về sự nghiệp Nguyễn Khải, trong đó khoảng 67% (hơn 66 công trình) trực tiếp phân tích tác phẩm của ông. Tuy nhiên, các đánh giá trước đây tồn tại nhiều mâu thuẫn học thuật và tranh biện lý luận gay gắt giữa hai luồng quan điểm:
Luồng quan điểm thứ nhất (Phê phán hạn chế thi pháp truyền thống): Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Hạnh (1964) và Phan Cự Đệ (1984) cho rằng tiểu thuyết Nguyễn Khải có nhược điểm cố hữu là nhân vật chưa hoàn chỉnh, thiếu số phận và chiều sâu tính cách phát triển nội tại. Phan Cự Đệ nhận định: "Nguyễn Khải chưa xây dựng được nhiều nhân vật có số phận... tính cách chưa phát triển trọn vẹn và chưa đa dạng... Nguyễn Khải quan tâm đến vấn đề nhiều hơn đến vận mệnh, cuộc đời nhân vật. Và khi vấn đề hiện ra, được giải quyết rồi thì nhân vật mờ dần hoặc bị bỏ quên". Đồng quan điểm, Đào Thủy Nguyên (1998) xem việc nghiêng hẳn về tư tưởng là nhược điểm làm nhạt đi tính cách nhân vật.
Luồng quan điểm thứ hai (Tái định vị qua thi pháp hiện đại): Đối thoại lại các nhận định trên, các học giả như Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn và Nguyễn Thị Bình xác lập hệ quy chiếu mới. Trần Đình Sử khẳng định đây không phải là nhược điểm mà là sự miêu tả "tư tưởng như một hiện thực sống, một sự thực khách quan". Nguyên Đãng chỉ ra tiểu thuyết triết luận không nhất thiết xây dựng tính cách tròn trịa mà thế giới nội tâm và sự cọ xát tư tưởng mới là trung tâm. Vương Trí Nhàn (1996) khẳng định Nguyễn Khải là "nhà văn dẫn đầu của thời đại", người cung cấp những chứng liệu tinh thần sâu sắc nhất về con người thời biến động lịch sử.
Tiến trình học thuật về tiểu thuyết Nguyễn Khải
├── Giai đoạn 1960–1980: Đánh giá theo thi pháp tả thực truyền thống (Nguyễn Văn Hạnh, Phan Cự Đệ)
│ └── Tập trung vào: Hạn chế về tính cách tròn trịa, số phận nhân vật dở dang.
├── Giai đoạn 1980–1996: Nhận diện tính chất chính luận – triết luận (Nguyễn Văn Long, Đoàn Trọng Huy, Trần Đình Sử)
│ └── Tập trung vào: Nhân vật tư tưởng, cảm hứng nghiên cứu đời sống "cái hôm nay".
└── Luận án Trần Văn Phương (2001): Tổng hợp – Mô hình hóa hệ thống thi pháp
└── Tích hợp: 12 tiểu thuyết (1959-1989) + Thi pháp học thể loại + Tự sự học đa thanh.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, luận án định vị tiểu thuyết Nguyễn Khải tương đồng với dòng tiểu thuyết tư liệu – tiểu luận (roman-essai, roman-documentaire) mà học giả Ý Alberto Moravia xác lập năm 1965–1971, dòng văn xuôi chính luận Liên Xô theo truyền thống Valentin Ovechkin, và khuynh hướng tiểu thuyết triết lý của Nodar Dumbadze (Quy luật vĩnh cửu). Đồng thời, cấu trúc không gian – thời gian nén gọn trong Gặp gỡ cuối năm được đặt trong tương quan so sánh với nghệ thuật trần thuật của Friedrich Dürrenmatt (Một vụ hỏng xe - Die Panne) và đại văn hào Fyodor Dostoevsky (Tội ác và hình phạt). Luận án của Trần Văn Phương là công trình đầu tiên vượt thoát các bài bình luận đơn lẻ để giải mã toàn diện cơ chế tích hợp giữa tư duy chính luận sắc bén và cảm hứng triết luận sâu xa trong chỉnh thể nghệ thuật của Nguyễn Khải.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp vào lý thuyết thi pháp học thể loại và tự sự học hiện đại thông qua 3 mở rộng lý thuyết cụ thể:
- Mở rộng lý thuyết thể loại tiểu thuyết: Luận án bổ khuyết cho lý thuyết tiểu thuyết xã hội chủ nghĩa bằng việc chứng minh sự tồn tại tất yếu của phân dòng "tiểu thuyết chính luận – triết luận", nơi cốt truyện sự kiện bị giải trung tâm hóa để nhường chỗ cho sự vận động của các xung đột ý thức hệ và triết lý nhân sinh.
- Định nghĩa lại loại hình nhân vật: Luận án phát triển khái niệm "nhân vật tư tưởng" (chịu ảnh hưởng từ lý thuyết của Mikhail Bakhtin). Nhân vật của Nguyễn Khải không vận hành theo nguyên lý tâm lý học hành vi cổ điển mà vận hành như những chủ thể phát ngôn, đại diện cho các xu hướng nhận thức xã hội, sở hữu phẩm chất thích ứng hoàn cảnh tối đa qua cơ chế tư duy sắc sảo và nghệ thuật biện luận.
- Khái niệm hóa mỹ học "Cái hôm nay": Luận án minh định phạm trù hiện thực "chưa hoàn kết" trong sáng tác Nguyễn Khải. Tác phẩm không đóng khung trong một kết cục định sẵn mà để ngỏ số phận nhân vật tương thích với dòng chảy biến thiên không ngừng của đời sống xã hội.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: Thi pháp học thể loại (Genre Poetics), Tự sự học cấu trúc (Structural Narratology) và Xã hội học văn học (Sociology of Literature). Khung khổ phân tích được vận hành qua ma trận 4 chiều kích:
Ma trận phân tích thi pháp tiểu thuyết Nguyễn Khải
┌───────────────────────┬────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Chiều kích phân tích │ Thành tố thi pháp cụ thể │
├───────────────────────┼────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1. Khuynh hướng thể tài│ Chính luận thời sự (1955-1977) ➔ Triết luận thế sự (1978-1989)│
│ 2. Cấu trúc nhân vật │ Nhân vật tư tưởng, kiểu nhân vật thức thời, khôn khéo │
│ 3. Tổ chức trần thuật │ Cốt truyện nén, kết cấu chương hồi kết hợp dựng cảnh │
│ 4. Hệ thống ngôn ngữ │ Đa thanh, đối thoại hóa, ngôn ngữ khẩu ngữ & tự giễu │
└───────────────────────┴────────────────────────────────────────────────────────┘
Điều kiện biên (Boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: áp dụng cho các tiểu thuyết văn xuôi nghệ thuật ra đời trong bối cảnh lịch sử – chính trị đặc thù của Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, nơi mối quan hệ giữa nhà văn, ý thức hệ và hiện thực biến động giữ vai trò chi phối tuyệt đối quá trình kiến tạo văn bản.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ lập trường bản thể luận hiện thực phê phán (Critical Realism) và nhận thức luận diễn giải (Interpretivism), nhìn nhận hiện thực nghệ thuật như một cấu trúc đa tầng được tạo tác qua lăng kính tư tưởng của nhà văn. Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Khải trong tiến trình vận động lịch sử của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1945 qua 4 khuynh hướng chính (Trữ tình anh hùng ca, Tâm lý – xã hội, Sử thi hoành tráng, và Chính luận – triết luận).
- Cấp độ vi mô: Phân tích cấu trúc ngữ pháp tự sự, tổ chức điểm nhìn trần thuật, và cấu trúc ngôn ngữ đa thanh trong từng đơn vị tác phẩm cụ thể.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý ngữ liệu được thực hiện chặt chẽ qua 4 bước kiểm định:
- Xác lập ngữ liệu sơ cấp (Primary Corpus): Khảo sát toàn bộ 12 tiểu thuyết nguyên bản xuất bản từ năm 1959 đến 1989 của Nguyễn Khải.
- Thu thập ngữ liệu thứ cấp (Secondary Corpus): Tổng hợp trên 100 văn bản phê bình, tiểu luận học thuật, kỷ yếu hội thảo và phát biểu trực tiếp của chính tác giả qua các thời kỳ.
- Tam giác đạc lý thuyết và tư liệu (Data & Theory Triangulation): Đối chiếu văn bản nghệ thuật với nhật ký sáng tác, tiểu luận chính luận của nhà văn và các tài liệu lịch sử – xã hội đương thời.
- Phương pháp phân tích văn bản (Textual Analysis) kết hợp Thống kê định lượng: Định lượng dung lượng trang in, độ dài cốt truyện, tần suất xuất hiện của lời trữ tình ngoại đề và lời bình luận triết lý của người kể chuyện.
Data và phân tích
Dữ liệu khảo sát từ 12 tiểu thuyết cho thấy rõ xu hướng cô đặc dung lượng của tiểu thuyết Nguyễn Khải:
Biến thiên dung lượng 12 tiểu thuyết Nguyễn Khải (1959 - 1989)
Trang
500 ┼ [448] (Chiến sĩ, 1973)
400 ┼ │
300 ┼ [262] │
200 ┼ [185] [210] │ [198] [158] │ [217] [158] [189] [171] [165]
100 ┼ │ │ │ │ │ │ │ │ │ │ │ [131] (1989)
0 ┴───┴─────┴───────────┴──────┴──────┴────┴──────┴─────┴─────┴─────┴─────┴─────┴───
XĐ1 XĐ2 ĐTM RĐ CTH CS CVC GGCN TGCN ĐTVMCK VSCVC MCNGBT
(1959)(1961) (1969) (1970) (1971)(1973)(1979)(1982)(1985)(1986)(1987)(1989)
Phân tích định lượng khẳng định 11/12 tác phẩm (chiếm 91,67%) có dung lượng dưới 270 trang; đặc biệt 8/12 tác phẩm (chiếm 66,67%) dao động quanh ngưỡng 130–210 trang – quy mô tương đương truyện vừa nhưng sở hữu sức chứa dung lượng triết lý và tính bao quát hiện thực của tiểu thuyết.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án mang lại 5 phát hiện mang tính đột phá về thi pháp học Nguyễn Khải:
- Đặc trưng "nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người": Ngay từ năm 1957, Nguyễn Khải đã tuyên ngôn: "Tôi quan niệm nghệ thuật đơn giản như sau: là khoa học thể hiện lòng người, là lịch sử của lòng người... Sự thật chỉ có thể viết về những tấm lòng, những tâm trạng của các giai cấp trong xã hội với mọi sự phức tạp, tinh vi, ngoắt ngoéo có thực của nó". Phát hiện của luận án chứng minh ngòi bút Nguyễn Khải kết hợp chặt chẽ giữa tư duy hình tượng và năng lực phân tích xã hội học chính xác.
- Quy luật tiến hóa từ chính luận sang triết luận: Sáng tác Nguyễn Khải phân định thành hai chặng rõ rệt: Giai đoạn 1955–1977 tập trung giải quyết các vấn đề phục chế tâm hồn con người và thử thách tự vượt mình của người cán bộ (Xung đột, Chủ tịch huyện); giai đoạn 1978–1989 chuyển hẳn sang các vấn đề thế sự nhân sinh, hòa hợp dân tộc và bản chất đức tin (Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người).
- Hình tượng "Nhân vật tư tưởng" và tính cách thích ứng: Nguyễn Khải kiến tạo mẫu nhân vật đặc thù: giỏi lý lẽ, giàu trí tuệ, ham triết lý và sở hữu năng lực thích ứng thời cuộc cao độ (tiêu biểu như ông Tuy Kiền trong văn xuôi nông thôn hay các nhân vật trí thức Sài Gòn cũ trong Gặp gỡ cuối năm). Tác giả tự bộc bạch: "Tôi cầm bút đã nhiều năm, viết nhiều tác phẩm nhưng chỉ có một nhân vật được bạn đọc quen thuộc thân thiết là ông Tuy Kiền. Đó là ông nông dân Việt Nam chính hiệu, tham lam, trí trá, hống hách khi có dịp, thích khoe công và hay dỗi vặt. Nhưng ông vẫn là ông nông dân của hôm nay, vì ông biết sống cho tập thể, cho mục đích lớn".
- Nghệ thuật cốt truyện nén và kết cấu mở dở dang: Tiểu thuyết Nguyễn Khải giải cấu trúc mô hình kịch tính truyền thống (thắt nút – cao trào – mở nút). Cốt truyện thường dàn trải theo một cuộc gặp gỡ, một cuộc điều tra hoặc một lát cắt thời gian ngắn ngủi (dưới 48 giờ) nhưng dồn nén chiều sâu hồi ức và tranh biện tư tưởng.
- Bản chất đa thanh và giọng điệu từng trải tự giễu: Ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Khải là "lời nhiều giọng" (polyphonic), kết hợp nhuần nhuyễn khẩu ngữ dân dã với văn phong nghị luận trí tuệ, trong đó điểm nhìn trần thuật chuyển hóa linh hoạt giữa người kể chuyện và độc thoại nội tâm nhân vật, nổi bật với giọng điệu từng trải, hóm hỉnh và "biết tự giễu mình trước lúc giễu người".
Mô hình cấu trúc trần thuật đa thanh trong tiểu thuyết Nguyễn Khải
┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Người kể chuyện từng trải │
│ (Trí tuệ, hóm hỉnh, tự giễu, đóng vai) │
└──────────────┬───────────────────────────────┬──────────────┘
│ │
▼ ▼
┌─────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────┐
│ Điểm nhìn bên ngoài │ │ Điểm nhìn bên trong │
│ (Quan sát sự kiện xã hội, │ │ (Độc thoại nội tâm, đào sâu│
│ bình luận chính luận) │ │ nhận thức, tự phân tích) │
└──────────────┬──────────────┘ └──────────────┬──────────────┘
│ │
└───────────────┬───────────────┘
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Trường đối thoại đa thanh │
│ (Cọ xát tư tưởng, không áp đặt chân lý độc thoại) │
└─────────────────────────────────────────────────────────────┘
Implications đa chiều
- Về lý thuyết văn học: Cung cấp mô hình phân tích cho dòng tiểu thuyết luận đề tại các nền văn học đang phát triển trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế xã hội.
- Về lịch sử văn học: Định vị lại vị trí tiên phong của Nguyễn Khải như người bắc nhịp cầu hoàn hảo nối liền dòng văn xuôi hiện thực phân tích tâm lý trước 1945 (tiếp nối Nam Cao) với văn xuôi đổi mới sau 1986.
- Về thực tiễn sáng tác: Gợi mở cho các nhà văn đương đại phương thức xử lý tư liệu đời sống nóng hổi thành chất liệu thẩm mỹ mà không rơi vào minh họa báo chí đơn thuần.
- Về giáo dục và giảng dạy: Cung cấp khung tri thức chuẩn xác cho việc thiết kế giáo trình đại học và phổ thông về tác giả Nguyễn Khải và tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn khoa học cần được tiếp tục mở rộng:
- Giới hạn mẫu khảo sát: Luận án mới dừng lại ở mốc tiểu thuyết Một cõi nhân gian bé tí (1989), chưa thể bao quát các sáng tác tự truyện, hồi ký và truyện ngắn đặc sắc trong thập niên 1990 và những năm 2000 (như Hà Nội trong mắt tôi, Thượng đế thì cười).
- Độ phân hóa phương pháp: Việc phân tích tính chất đa thanh chủ yếu dựa trên thao tác tiếp cận văn bản học truyền thống, chưa ứng dụng các phần mềm ngôn ngữ học ngữ liệu (Corpus Linguistics) để lượng hóa chính xác tỉ lệ từ vựng và cú pháp đối thoại.
- Độ sâu liên văn bản quốc tế: Các so sánh với tiểu thuyết phương Tây (Dürrenmatt, Moravia) và tiểu thuyết Xô Viết (Ovechkin, Dumbadze) mới dừng ở mức liên hệ loại hình, chưa đi sâu khảo sát cơ chế tiếp nhận trực tiếp qua các bản dịch thời kỳ đó.
Chương trình nghiên cứu tương lai cần tập trung vào 4 hướng:
- Hướng 1: Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa giữa tiểu thuyết chính luận – triết luận Việt Nam và các nước Đông Âu/Đông Á trong thời kỳ Đổi mới – Cải tổ.
- Hướng 2: Ứng dụng thi pháp học nhận thức (Cognitive Poetics) để giải mã mô thức tư duy của loại hình "nhân vật tư tưởng".
- Hướng 3: Khảo sát văn bản học di cảo và sự tự phủ định nghệ thuật trong các tác phẩm tự truyện cuối đời của Nguyễn Khải.
- Hướng 4: Ứng dụng lý thuyết trường văn học của Pierre Bourdieu để phân tích chiến lược vị thế và năng lực thích ứng thể chế của tác giả trong suốt nửa thế kỷ cầm bút.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động học thuật sâu sắc và có sức lan tỏa bền vững:
- Tác động học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực trong hệ thống nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX, định hình khung phân tích cho hàng chục luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ kế tiếp về thi pháp tác giả và thể loại tiểu thuyết.
- Đóng góp giáo dục đại học: Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào việc biên soạn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tại Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội và nhiều trường đại học trên toàn quốc.
- Định hướng phê bình văn học: Đặt nền móng lý luận giúp giới phê bình chấm dứt các cuộc tranh cãi siêu hình về việc Nguyễn Khải "thiếu hụt tính cách nhân vật", xác lập sự công nhận đồng thuận đối với loại hình tiểu thuyết triết luận.
- Ý nghĩa văn hóa – xã hội: Làm sáng tỏ bản lĩnh trí thức và đạo đức sáng tạo của người nghệ sĩ trước những biến động lịch sử, khẳng định giá trị nhân bản của văn học trong sự nghiệp khai phóng tâm hồn con người.
Đối tượng hưởng lợi
Ma trận phân bổ giá trị ứng dụng của luận án
┌───────────────────────┬────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Nhóm đối tượng │ Giá trị tiếp nhận cụ thể │
├───────────────────────┼────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1. NCS & Học viên │ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thi pháp học thể loại │
│ Sau đại học │ và phương pháp nghiên cứu tác gia văn học chuyên sâu. │
│ 2. Giảng viên & Nhà │ Bộ tư liệu chuẩn xác, khung phân tích giảng dạy giáo │
│ nghiên cứu │ trình Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 2000. │
│ 3. Nhà văn & Giới │ Kỹ thuật nén cấu trúc, nghệ thuật tổ chức trần thuật │
│ sáng tác trẻ │ đa thanh và phương pháp xử lý tư liệu hiện thực nóng. │
│ 4. Nhà phê bình │ Hệ quy chiếu thẩm mỹ khách quan để đánh giá dòng văn │
│ văn học │ học chính luận, thế sự và tiểu thuyết tư tưởng. │
└───────────────────────┴────────────────────────────────────────────────────────┘
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết thể loại tiểu thuyết bằng việc định danh và mô hình hóa thành công khuynh hướng "Tiểu thuyết chính luận – triết luận" trong văn học Việt Nam. Thay vì áp đặt tiêu chí tiểu thuyết tính cách cổ điển (vốn coi tính cách là linh hồn tác phẩm), luận án chứng minh rằng việc biến tư tưởng thành đối tượng phản ánh trung tâm và xây dựng "nhân vật tư tưởng" là một quy luật tìm tòi thi pháp hợp lý, giúp tiểu thuyết bắt nhịp trực tiếp với những xung đột ý thức hệ và nhân sinh của thời đại.
2. Điểm cách tân về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với chuyên luận Nhà văn Việt Nam 1945–1975 của Phan Cự Đệ và các bài viết đơn lẻ của Chu Nga hay Đoàn Trọng Huy, luận án của Trần Văn Phương tiến hành một cuộc khảo sát tổng lực trên toàn bộ 12 tiểu thuyết (1959–1989) bằng phương pháp thi pháp học cấu trúc kết hợp tự sự học hiện đại. Luận án không dừng lại ở việc phân tích nội dung tư tưởng hay chủ đề xã hội học, mà giải mã tường tận các cơ chế vi mô của hình thức nghệ thuật: từ tổ chức cốt truyện nén, cấu trúc dở dang không kết thúc, đến hệ thống điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ đa thanh.
3. Phát hiện bất ngờ và thú vị nhất rút ra từ dữ liệu khảo sát?
Dữ liệu khảo sát thực chứng chỉ ra một nghịch lý thẩm mỹ độc đáo: Nguyễn Khải là nhà văn bám sát các sự kiện thời sự chính trị nhất nhưng tác phẩm của ông lại không hề bị biến thành văn bản tuyên truyền đoản thọ. Nguyên nhân nằm ở tư duy "nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người" và cảm hứng nghiên cứu "cái hôm nay" ở trạng thái chưa ngưng kết. Bằng cách luôn đặt nhân vật vào tình thế đối thoại, tranh biện và tự phân tích, nhà văn đã nâng các vấn đề thời sự nhất thời lên tầm khái quát triết học về bản tính con người và quy luật tồn sinh.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp một khung phân tích thi pháp tác gia 3 cấp độ hoàn chỉnh:
- Bước 1: Khảo sát tiểu sử nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ của tác giả gắn liền với bối cảnh lịch sử thể loại.
- Bước 2: Mô hình hóa hệ thống nhân vật qua các chỉ số: xuất thân, phẩm chất tư duy, năng lực thích ứng và chức năng phát ngôn.
- Bước 3: Phân tích cấu trúc tự sự qua ma trận: quy mô trang in, kết cấu cốt truyện, sự chuyển dịch điểm nhìn trần thuật và các tầng bậc giọng điệu ngôn ngữ. Quy trình này có thể áp dụng trực tiếp để nghiên cứu bất kỳ tác gia văn xuôi hiện thực nào khác.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm kế tiếp được vạch ra như thế nào?
Chương trình nghiên cứu mở rộng đề xuất theo dõi chặng đường sáng tác cuối cùng của Nguyễn Khải sau năm 2000, trọng tâm là sự chuyển hóa từ giọng điệu tự hào sang giọng điệu tự vấn, sám hối và giải ảo trong các thể loại tự truyện, tản văn (Thượng đế thì cười). Đồng thời, định hướng nghiên cứu liên ngành xã hội học văn học nhằm lý giải hiện tượng "thích ứng tối đa" của một nhà văn quân đội tiêu biểu trong sự tương tác phức tạp giữa quyền lực chính trị, trường văn học và thị trường xuất bản.
Kết luận
- Xác lập hệ thống thi pháp hoàn chỉnh: Luận án của Trần Văn Phương là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải, giải mã trọn vẹn 12 tiểu thuyết trải dài suốt 30 năm sáng tạo (1959–1989).
- Định danh chuẩn xác khuynh hướng thể tài: Định vị vững chắc khuynh hướng "Tiểu thuyết chính luận – triết luận" như một đóng góp đặc sắc của Nguyễn Khải vào tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1945.
- Đột phá trong nhận diện loại hình nhân vật: Chứng minh thành công bản chất "nhân vật tư tưởng" – những cá nhân giàu trí tuệ, sắc sảo, ham triết lý và có năng lực thích ứng cao độ với mọi hoàn cảnh sống.
- Khám phá đặc trưng thi pháp cấu trúc – ngôn ngữ: Chỉ ra cấu trúc tiểu thuyết nén gọn mang tư duy truyện vừa, cốt truyện mở không hoàn kết tương thích với "cái hôm nay", cùng nghệ thuật trần thuật đa thanh, giọng điệu từng trải và tự giễu độc đáo.
- Mở ra các dòng nghiên cứu mới: Thiết lập tiền đề phương pháp luận cho các nghiên cứu tiếp theo về tự sự học, thi pháp tác gia và mối quan hệ giữa ý thức hệ với kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại.
- Khẳng định di sản văn học bền vững: Tái khẳng định vị thế của Nguyễn Khải như một cây bút bậc thầy của nền văn xuôi đương đại Việt Nam – người đã dùng ngòi bút như một công cụ khoa học mổ xẻ sự thật lòng người và phản ánh chân thực những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI TRẦN VĂN PHƢƠNG ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 5.33 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. NGUYỄN VĂN LONG Hà Nội – 2001 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI TRẦN VĂN PHƢƠNG ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 5.33 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. NGUYỄN VĂN LONG Hà Nội – 2001 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2001 Tác giả luận án Trần Văn Phƣơng MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU. 18 CHƢƠNG 1: KHUYNH HƢỚNG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ SAU 1945. Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1945 (Điểm lƣợc trên nét lớn). Khuynh hƣớng tiểu thuyết chính luận triết luận của Nguyễn Khải.
Sự vận động và những đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải. 64 CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI. Các nhân vật tiểu biểu cho từng chặng đƣờng sáng tác của Nguyễn Khải. Những loại nhân vật độc đáo của tiểu thuyết Nguyễn Khải.
Nhân vật tƣ tƣởng "kiểu" Nguyễn Khải. Nghệ thuật xây dựng nhân vật. 106 CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU - CỐT TRUYỆN VÀ NGÔN NGỮ - GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI. Đặc điểm kết cấu – cốt truyện và ngôn ngữ - giọng điệu trần thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải.
Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trần thoại của tiểu thuyết Nguyễn Khải. 165 DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN. 169 TÀI LIỆU THAM KHẢO. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.
Thuộc trong số các nhà văn xuất hiện và trƣởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng trong chín năm kháng chiến, đến nay Nguyễn Khải đã có hơn nửa thế kỷ hoạt động liên tục trên các lĩnh vực báo chí và văn học nghệ thuật. Ông đã ba lần nhận giải thƣởng văn học của Hội Nhà văn. Năm 2000 Nguyễn Khải đƣợc nhận gần nhƣ đồng thời hai giải thƣởng lớn: giải Asean cho tập tuyển truyện ngắn và giải thƣởng Hồ Chi Minh cho cụm tiểu thuyết Xung đột Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm. So với các nhà văn cùng thế hệ, nhiều ngƣời thật có tài, nhƣng một số đã hy sinh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ.
Một số khác cũng mất sớm vì mắc bệnh hiểm nghèo. Số còn lại vì những lý do khác nhau: hoặc là do thời thế thay đổi nên cảm thấy không còn “hợp thời”; hoặc là do bận bịu với công tác quản lý ự vụ; hoặc là do tuổi tác rồi ngại viết… hầu hết đều thấy biểu hiện viết ít hơn hoặc không viết nữa, thì Nguyễn Khải vẫn luôn sung sức, viết ào ạt, càng ngày càng đƣợc cảm tình của bạn đọc. Ông tâm sự: “Từ ngày có đổi mới tôi viết rất dễ dàng, viết được nhiều (…), bạc đọc xem ra yêu mến tôi hơn, chờ đợi tôi hơn” {125,8} Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải là một tập khảo luận về những vấn đề của cuộc sống và con ngƣời Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, trong hoà bình xây dựng kiến tạo xã hội mới, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc theo hƣớng xã hội chủ nghĩa. Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại: ký, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch và tạp văn, tản văn, ở thể loại nào cũng có tác phẩm nổi trội.
Riêng trên lĩnh vực tiểu thuyết, Nguyễn Khải đã kiên trì mở đƣờng và khai phá một hƣớng đi mới với những tác phẩm đặt ra và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội chính trị nổi lên trong nhiều thời kỳ quan trọng của đất nƣớc, với một giọng văn ngày càng nghiêng về những suy ngẫm, chiêm nghiệm giàu tính chính luận triết 2 luận. Trong ngót 30 đầu sách của Nguyễn Khải thể loại tiểu thuyết và truyện vừa chiếm hơn một nửa. Và mặc dù ranh giới phân biệt giữa tiểu thuyết và truyện vừa ở một số tác phẩm của nhà văn chƣa thật rạch ròi, nhƣng khi ghi dƣới tên tác phẩm là tiểu thuyết, chắc chắn tác giả đã có ý thức sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để tái hiện cuộc sống theo quan niệm của riêng ông về thể loại này. Những công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm Nguyễn Khải với nhiều kiến giải sâu sắc, đều thống nhất xếp ông vào vị trí nhà văn tiêu biểu của nền văn học đƣơng đại, song vẫn chƣa có công trình chuyên sâu về tiểu thuyết Nguyễn Khải.
Vì vậy, mục đích của đề tài là tiếp tục đi sâu nghiên cứu các đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải, nhằm chỉ ra những đóng góp của ông về phƣơng diện tiểu thuyết cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sau chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, đến thời gian gần đây tiểu thuyết Việt Nam lại thực sự thu hút giới nghiên cứu, nhất là trong phạm vi chuyên ngành văn học trong các trƣờng đại học. Song dƣờng nhƣ công việc nghiên cứu chỉ mới khảo sát kỹ các thành tựu tiểu thuyết từ trƣớc Cách mạng tháng Tám. Còn tiểu thuyết sau năm 1945 nhìn chung, vẫn nhiều khu vực bỏ ngỏ.
Đánh giá sự phát triển của văn học Việt Nam từ 1945 đến nay trong tiến trình của nền văn học dân tộc, một trong những phƣơng diện quan trọng là phải chú ý đúng mức đến sự phát triển của thể loại tiểu thuyết. Đặt trong mạch vận động chung của tiểu thuyết Cách mạng Việt Nam từ sau 1945 có thể nhận thấy, bắt đầu từ Xung đột trở đi, ở Nguyễn Khải đã hình thành một khuynh hƣớng tiểu thuyết luôn bát sát những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong từng thời điểm cụ thểcủa đời sống xã hội. Và cũng nhƣ nhiều thể tài khác của văn học Cách mạng yếu tố chính luận ngày càng xâm nhập vào một cách phổ biến, thì ở tiểu thuyết Nguyễn Khải lúc đầu chính luận cũng đƣợc thể hiện nhƣ một yếu tố nghị luận về chính trị xã hội, nhƣng càng về sau nó càng hƣớng tới triết luận về mọi vấn đề của đời sống nhân sinh. Gần với 3 quan niệm coi “Nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người” [83], tƣ duy tiểu thuyết của Nguyễn Khải nghiêng về nghiên cứu đời sống xã hội và những con ngƣời đƣơng thời, phát hiện ra những vấn đề ẩn sau các sự vật hiẹn tƣợng tƣởng thật giản đơn, quen thuộc.
ông luôn gắng tìm tòi thử nghiệm để không ngừng cách tân thể loại tiểu thuyết trong những giới hạn có thể ở thờiđại mình, lui tới biến hoá một cách thông minh mà vẫn luôn phù hợp với yêu cầu của chế độ và đƣợc độc giả chấp nhận. Đó là yếu tố tiên quyết đảm bảo sự nghiệp văn học của ông đƣợc liên tục. Vì những lý do đó, đề tài luận án sẽ góp phần giải quyết vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu một tác giả tiêu biểu của nền văn học đƣơng đại, phát hiện những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải, từ đó góp phần đánh giá một cách đầy đủ và hy vọng sẽ thấu đáo hơn về nhà văn. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2.
Nhìn chung về việc phê bình, nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Khải Đọc theo các chặng đƣờng ság tác của Nguyễn Khải đến nay đã có trên 100 bài viết đƣợc công bố, trong đó tới 2/3 các công trình nghiên cứu trực tiếp về tác giả, tác phẩm Nguyễn Khải. Số còn lại tuy không trực tiếp đặt ra vấn đề nghiên cứu nhà văn nhƣng trong bài viết của mình, các tác giả đều có đề cập đến Nguyễn Khải ở cấp độ này hay cấp độ khác. Đáng chú ý nhất là các công trình nghiên cứu về một tác giả văn học. Đầu tiên là bài: “Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Khải” trong cuốn Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại (từ sau 1945) của Chu Nga.
Bà đánh giá rất cao những tác phẩm Nguyễn Khải viết về nông thôn, đồng thời khẳng định ngòi bút tác giả “thông minh, sắc sảo, giàu tính chiến đấu (…) luôn có sự đòi hỏi cao đối với bản thân và đối với mọi người” [160]. Sáu năm sau đó, Phan Cự Đệ tiếp tục viết về Nguyễn Khải trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (tập 2). Bài viết bao quát một khối lƣợng tác phẩm lớn của nhà văn sáng tác trong vòng 30 năm và 20 bài nghiên cứu có giá trị về tác phẩm Nguyễn Khải. Ông nhấn mạnh: “Với một ngòi bút hiện thực 4 tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn luôn xông thẳng vào những mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội bộ nhân dân trong xã hội, những Xung đột giữa các tính cách, những đấu tranh giằng xé trong tâm tư tình cảm của mỗi con người”… Đấy là phong cách độc đáo của tác giả khác xa với “những phong cách hiện thực tỉnh táo trong văn học hiện thực phê phán” [45,497].
Năm 1990, do nhu cầu của việc nghiên cứu giảng dạy ngày càng đƣợc mở rộng, Giáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975 (phần tác giả) đƣợc Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành. Trong tập sách này, bài viết về Nguyễn Khải do Đoàn Trọng Huy biên soạn. So với các bài trƣớc, bài viết này ra đời sau nên tầm bao quát tƣ liệu rộng hơn, đƣợc thừa hƣởng thành quả nghiên cứu của các công trình đi trƣớc nhiều hơn nên nó đƣợc bổ sung thêm nhiều điểm mới, đặc biệt là phần chỉ ra nét phong cách chính luận cũng nhƣ những nỗ lực đổi mới cách viết của Nguyễn Khải để ngày càng “làm cho tác phẩm có sức mạnh thuyết phục riêng” [190]. Đến cuối năm 1996 Tuyển tập Nguyễn Khải ra đời do Vƣơng Trí Nhân tuyển chọn và viết giới thiệu.
Là cây bút nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp nhiều năm lăn lộn trong nghề, hiểu biết tƣờng tận những chuyện đời thƣờng (kể cả những “khuất lấp” đằng sau tác phẩm của nhà văn), Vƣơng Trí Nhàn đã thể hiện trên nhiều trang viết say đắm: bên cạnh khả năng phân tích tác phẩm là sự đồng cảm sâu sắc với tác giả, cho nên nhiều nhận định của ông trong bài viết đã thực sự “tri âm” với Nguyễn Khải. Đặt Nguyễn Khải vào trong tiến trình văn học Cách mạng qua nửa thế kỷ với những biến dộng dữ dội của lịch sử, Vƣơng Trí Nhàn kết luận: Ông đã là một trong những nhà văn dẫn đầu của thời đại.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Văn Phương (2001). Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ [Luận án tiến sĩ, trường đại học sư phạm hà nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/dac-diem-tieu-thuyet-nguyen-khai-luan-an-tien-si
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ Ngữ văn: Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải. Phân tích sâu sắc phong cách, chủ đề và tư tưởng của nhà văn.
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại trường đại học sư phạm hà nội. Năm bảo vệ: 2001.
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học.
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" có 174 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải - Luận án tiến sĩ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.