Luận án nghiên cứu động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng Tây Bắc - Trường Đại học Kinh tế
"Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Bắc."
Luan An
Số trang
212
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Động Lực Kinh Doanh Nữ
- Số trang:
- 212 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Động Lực Kinh Doanh Nữ
Động lực kinh doanh nữ là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Phụ nữ trở thành doanh nhân và theo đuổi con đường tự chủ kinh tế đã nổi lên như một xu hướng toàn cầu.
1.1. Tầm Quan Trọng Của Doanh Nghiệp Nữ
Doanh nghiệp nữ đóng góp công sức vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua việc tham gia vào hoạt động thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp của họ trong khu vực DNNVV.
1.2. Thách Thức Của Doanh Nghiệp Nữ
Doanh nghiệp nữ phải đối mặt với những trở ngại nhất định, bao gồm việc tiếp cận vốn, chấp nhận phụ nữ là chủ doanh nghiệp và phụ nữ tại nơi làm việc.
II. Yếu Tố Thúc Đẩy Kinh Doanh Nữ
Yếu tố thúc đẩy kinh doanh nữ bao gồm sự hỗ trợ từ các cố vấn, đào tạo chính thức, và việc tiếp cận vốn.
2.1. Vai Trò Của Chính Sách Phát Triển Doanh Nghiệp Nữ
Chính sách phát triển doanh nghiệp nữ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
2.2. Tác Động Của Văn Hóa Vùng Miền
Văn hóa vùng miền có thể đem lại kết quả khác biệt trong việc thúc đẩy kinh doanh nữ.
III. Cơ Hội Kinh Doanh Nữ Vùng Tây Bắc
Vùng Tây Bắc có nhiều cơ hội kinh doanh nữ, đặc biệt là trong lĩnh vực DNNVV.
3.1. Tiềm Năng Của Doanh Nghiệp Nữ Vùng Tây Bắc
Doanh nghiệp nữ vùng Tây Bắc có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của vùng.
3.2. Thách Thức Của Doanh Nghiệp Nữ Vùng Tây Bắc
Doanh nghiệp nữ vùng Tây Bắc phải đối mặt với những thách thức nhất định, bao gồm việc tiếp cận vốn và thị trường.
IV. Hỗ Trợ DNNVV Nữ Chủ
Hỗ trợ DNNVV nữ chủ là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy kinh doanh nữ.
4.1. Vai Trò Của Các Tổ Chức Hỗ Trợ
Các tổ chức hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hỗ trợ tài chính, đào tạo và tư vấn cho doanh nghiệp nữ.
4.2. Tác Động Của Hỗ Trợ DNNVV Nữ Chủ
Hỗ trợ DNNVV nữ chủ có thể giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp nữ.
V. Phát Triển Kinh Tế Vùng Tây Bắc
Phát triển kinh tế vùng Tây Bắc là một mục tiêu quan trọng của chính phủ.
5.1. Vai Trò Của Doanh Nghiệp Nữ
Doanh nghiệp nữ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế vùng Tây Bắc.
5.2. Thách Thức Của Phát Triển Kinh Tế Vùng Tây Bắc
Phát triển kinh tế vùng Tây Bắc phải đối mặt với những thách thức nhất định, bao gồm việc thiếu vốn và cơ sở hạ tầng.
VI. Lý Thuyết Động Lực Kinh Doanh
Lý thuyết động lực kinh doanh là một框 khổ quan trọng trong việc hiểu rõ về động lực kinh doanh nữ.
6.1. Khái Niệm Động Lực Kinh Doanh
Động lực kinh doanh là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy kinh doanh nữ.
6.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Động Lực Kinh Doanh
Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh bao gồm sự hỗ trợ, đào tạo và việc tiếp cận vốn.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (212 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài ĐLKD qua việc tạo lập và duy trì DN là động lực cho phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế phát triển được là nhờ phát triển về cả số lượng và chất lượng các DN. Carree and Thurik (2003) chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc tạo lập DN mới với tăng trưởng kinh tế vùng và địa phương.
Những nơi có tỷ lệ thành lập và duy trì DN cao thường có tốc độ phát triển kinh tế cao. Các DN được thành lập, duy trì và phát triển ngoài việc đóng góp vào GDP của nền kinh tế còn tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, và làm giàu cho bản thân chủ DN. Chính vì lẽ đó, chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc bắt đầu và điều hành DN trong giới trẻ, đặc biệt là giới nữ khuyến khích họ không đi làm thuê mà tự tạo việc làm, gia tăng cả về số lượng và chất lượng DN cho phát triển kinh tế (Estrin và cộng sự, 2009). Trong một vài thập kỷ gần đây, phụ nữ trở thành doanh nhân và theo đuổi con đường tự chủ kinh tế đã nổi lên như một xu hướng toàn cầu.
Các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới luôn tìm cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước và vấn đề này liên quan đến phụ nữ - một nửa dân số thế giới - là giải pháp giúp giải phóng tất cả tiềm năng cho từng quốc gia. Phụ nữ ngày càng trở nên quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các đang phát triển, họ chiếm tỷ lệ đáng kể trong khu vực DNNVV. Theo ước lượng của IFC (2011) có từ 31 đến 38% tổng số DNNVV trong khu vực chính thức ở các nền kinh tế mới nổi do phụ nữ làm chủ. Họ đóng góp công sức vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua việc tham gia vào hoạt động thành lập, duy trì và phát triển DN của họ trong khu vực DNNVV.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy DN do phụ nữ làm chủ có xu hướng tăng nhanh hơn về số lượng so với các DN do nam giới làm chủ và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các DNNVV (IFC, 2017). Theo GEM (2012) có 6,3% phụ nữ trên thế giới trong độ tuổi lao động có tham gia các hoạt động quản lý DN, trong khi đó có 19% các DNNVV được quản lý bởi phụ nữ. Với tầm quan trọng của DNNVV do phụ nữ làm chủ, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các DN này là xu hướng chung của tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Doanh nhân nữ ở các nước phát triển có lợi thế hơn so với các nước đang phát triển, họ được tiếp cận với sự hỗ trợ lớn hơn từ các cố vấn là hình mẫu phụ nữ và dễ dàng tiếp cận đào tạo chính thức hơn trong quá trình quản trị: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.
Hơn nữa, việc tiếp cận vốn không khó, chấp nhận phụ nữ là chủ DN và phụ nữ tại nơi làm việc đã cải thiện đáng kể số lượng phụ nữ tại các quốc gia 2 phát triển (Bussey and Bandura, 1999). Tuy nhiên, phụ nữ ở các nước phát triển cũng phải đối mặt với những trở ngại nhất định, đây là những xã hội dựa trên các quy tắc cũ và để thay đổi nó cần một khoảng thời gian đủ dài. Trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam là nền kinh tế đang chuyển và vận hành bởi cơ chế kinh tế thị trường chưa lâu, các nguồn hỗ trợ tài chính cho DN mới không phong phú và rất khó tiếp cận, các điều kiện về văn hóa - xã hội cũng khác biệt so với các nước phát triển và một số nước khác trong khu vực, môi trường kinh doanh và thể chế cũng như nhận thức có nét đặc trưng riêng của một nước đang phát triển, ngoài ra thay đổi tư duy từ bao cấp sang kinh tế thị trường còn khá nặng nề, thích nghi chưa cao, nhất là ở các vùng miền kém phát triển. Các nghiên cứu về động lực để bắt đầu và điều hành một DN được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng rất ít trong khi rõ ràng có sự khác biệt rất lớn về môi trường, hoàn cảnh bắt đầu kinh doanh ở các nền kinh tế chuyển đổi (Baughn và cộng sự, 2006).
Đặc biệt, vị trí xã hội của doanh nhân ở các nước phương Tây không được nhìn nhận giống như ở các nước phương Đông, nhất là đối với doanh nhân nữ. Do vậy nhân tố tác động tới động lực để bắt đầu một DN ở Việt Nam có thể có điểm khác biệt so với các nước phát triển. Bên cạnh đó, văn hóa vùng miền, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội khác nhau giữa miền núi, vùng nông thôn và thành thị cũng có thể đem lại kết quả khác biệt. Các DN do phụ nữ làm chủ và các doanh nhân nữ ở Việt Nam cũng được công nhận là động lực phát triển kinh tế.
Ở đây, có tới 72% phụ nữ tham gia lực lượng lao động (ILO, 2013). DNNVV do phụ nữ làm chủ nói riêng cũng có tầm ảnh hưởng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của ADB và HAWASME (2016) cho thấy DNNVV do phụ làm chủ chiếm ¼ số DNNVV đang hoạt động ở Việt Nam, một tỷ trọng cao hơn nhiều so với các nước ở khu vực Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi và Cận Sahara. Các DN này có đóng góp tích cực trong giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động đặc biệt là lao động nữ đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ở khía cạnh xã hội DNNVV do phụ nữ làm chủ đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động nữ giúp nâng cao vị thế người phụ nữ, DNNVV do phụ nữ làm chủ thực hiện chính sách và trách nhiệm xã hội thường tốt hơn các DN khác. Tuy nhiên, việc bắt đầu và điều hành một DN đối với phụ nữ ở Việt Nam còn thấp, phần lớn phụ nữ có xu hướng làm công ăn lương và “rất ít phụ nữ mong muốn thành lập doanh nghiệp mới” nếu có nhu cầu kinh doanh thì họ thường đăng ký mô hình hộ kinh doanh (Hà Thị Thúy, 2018). Luận giải cho tình trạng chỉ thích làm thuê, không thích làm chủ ở phụ nữ, có ý kiến cho rằng, mặc dù ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh 3 doanh, nhưng phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản khi bắt đầu và điều hành công việc kinh doanh của mình. Ở Việt Nam không ngoại lệ, phụ nữ Việt Nam có khuynh hướng tham vấn ý kiến gia đình khi cần đưa ra những quyết định kinh doanh quan trọng và coi sự nặng nề về trách nhiệm gia đình là trở ngại lớn đối với việc bắt đầu và điều hành trong kinh doanh.
Nhìn chung, phụ nữ cảm thấy yếu tố giới làm cho việc bắt đầu và điều hành công việc kinh doanh của họ trở nên khó khăn hơn nhiều (UNIDO và VCCI, 2010). Bên cạnh đó, phần lớn nữ sinh đến tuổi trưởng thành thay vì cần năng động sáng tạo để lập nghiệp, khởi nghiệp và tự chủ về kinh tế thì phần lớn họ lại đặt mình vào thế bị động là tìm kiếm “một chỗ dựa vững chãi”, “một bờ vai đủ rộng”, một nơi để nương tựa cho cuộc sống tương lai, vì lẽ đó đã kìm hãm sự thúc đẩy việc bắt đầu và điều hành một DN hay tự làm chủ của các nữ sinh. Hơn nữa, để bắt đầu công việc kinh doanh, một DN cần rất nhiều thứ để làm, khác xa với việc làm công ăn lương, nếu làm công chỉ lo một mảng công việc cụ thể thì khi làm chủ ngoài yếu tố chuyên môn còn đòi hỏi tố chất hay kiến thức, kỹ năng quản lý, tổ chức điều hành, đối ngoại, nhất là vấn đề về vốn, cần một môi trường kinh doanh thuận lợi, vượt qua rào cản về kinh tế, xã hội và văn hóa để thành công (Bùi Duy Hoàng và Trần Thị Minh Sơn, 2018). Đặc biệt, luận giải thêm cho vấn đề nhiều phụ nữ không thích tự làm chủ tại một bối cảnh cụ thể như Tiểu vùng TB, những phụ nữ nơi đây đối mặt với nhiều rào cản hơn các vùng miền có điều kiện trong việc bắt đầu và điều hành một DN (thông qua nghiên cứu sơ bộ), họ gặp nhiều trở ngại khi hoạt động thực tế, phần lớn xuất phát từ định kiến xã hội khiến họ chưa thực sự phát huy hết tiềm năng vốn có.
Bản thân là phụ nữ họ rất khó tiếp cận nguồn vốn do thiếu thông tin, thiếu kỹ năng lập kế hoạch, thiếu tài sản thế chấp, thiếu sự ủng hộ, hậu thuẫn từ chồng và gia đình; thiếu kỹ năng, kiến thức quản lý; trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và công nghệ còn hạn chế; khó khăn trong tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng. Những rào cản này phần lớn là do hệ quả của việc trọng nam hơn nữ trong các gia đình, nhất là các gia đình người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phụ nữ, nữ doanh nhân Tiểu vùng TB cũng biết cách phát huy truyền thống dân tộc, khả năng thiên bẩm của người phụ nữ là cần cù, chịu khó và sáng tạo để thúc đẩy động lực trong việc bắt đầu và điều hành một DN cho bản thân, họ luôn hướng tới mục tiêu cao nhất và tận dụng mọi nguồn lực để hoàn thành mục tiêu đó. Bên cạnh đó, họ luôn có tinh thần lạc quan về cuộc sống, công việc, nền kinh tế và họ hướng về những hình mẫu nữ doanh nhân trong cộng đồng, những người có khả năng dẫn dắt, chỉ bảo họ trên con đường lập nghiệp và thay đổi nhìn nhận từ gia 4 đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng đối với doanh nhân nữ, nhất là người dân tộc thiểu số và cùng hòa nhập vào xã hội văn minh, hiện đại.
Tiểu vùng TB bao gồm 04 tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, nơi phát triển DNNVV là một trong những giải pháp để tạo động lực phát triển cho cả vùng được nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra. Song sự phát triển của DNNVV khu vực này chưa tương xứng với tiềm năng vốn có phần lớn do những khó khăn trong điều kiện địa hình, xuất phát điểm thấp.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nghiên cứu động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV vùng Tây Bắc (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/quan-tri-kinh-doanh/quan-tri-nguon-nhan-luc/luan-an-nghien-cuu-dong-luc-kinh-doanh-nu-chu-doanh-nghiep-nho-va-vua-tay-bac
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV vùng Tây Bắc" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Bắc."
Luận án "Nghiên cứu động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV vùng Tây Bắc" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV vùng Tây Bắc" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV vùng Tây Bắc" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.