Luận án tiến sĩ: Đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh Việt Nam - Vũ Phương Nhung

Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh. Phân tích tần suất alen và ứng dụng lâm sàng.

Chuyên ngành

Di truyền dược học / Y học cá thể / Dược lý học di truyền

Tác giả

Luan An

Số trang

156

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tổng quan hệ enzyme Cytochrome P450 và đa hình gen CYP
Số trang:
156 trang
Chuyên ngành:
Di truyền dược học / Y học cá thể / Dược lý học di truyền
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tổng quan hệ enzyme Cytochrome P450 và đa hình gen CYP

Hệ enzyme Cytochrome P450 (CYP450) là siêu họ protein-heme giữ vai trò trung tâm trong quá trình sinh học. Nhóm enzyme này xúc tác phản ứng oxy hóa nhiều hợp chất nội sinh và ngoại sinh. Cơ thể người sở hữu 57 gen chức năng CYP450 được phân thành 18 họ và 44 phân họ khác nhau. Trong đó, khoảng 12 enzyme thuộc các họ CYP1, CYP2 và CYP3 chịu trách nhiệm chuyển hóa 60-80% thuốc kê đơn trong điều trị lâm sàng. Đa hình nucleotide đơn (SNP) và biến thể số bản sao (CNV) tạo nên sự đa dạng di truyền sâu sắc giữa các cá thể. Những đột biến này làm thay đổi cấu trúc không gian của chuỗi polypeptide. Hoạt tính xúc tác của enzyme bị biến đổi mạnh mẽ, dẫn tới sự chênh lệch lớn về dược động học giữa các bệnh nhân khi dùng cùng một liều thuốc chuẩn.

1.1. Vai trò sinh học của hệ enzyme Cytochrome P450 CYP450

Hệ enzyme Cytochrome P450 (CYP450) tham gia trực tiếp vào con đường sinh tổng hợp acid mật, steroid và eicosanoid. Hệ thống này phân bố tập trung chủ yếu ở màng lưới nội chất tế bào gan và niêm mạc ruột non. Các enzyme xúc tác quá trình khử độc chất lạ, chuyển hóa thuốc và đào thải độc tố ra khỏi tuần hoàn. Trong dược động học, CYP450 quyết định tốc độ thanh thải và nồng độ khả dụng sinh học của hoạt chất. Khi chức năng enzyme bị ức chế hoặc cảm ứng do tương tác ngoại cảnh, nồng độ thuốc trong huyết tương sẽ biến động mạnh. Sự tích lũy hoạt chất quá mức có thể dẫn tới ngộ độc mô nghiêm trọng. Ngược lại, chuyển hóa quá nhanh làm thuốc mất hoàn toàn hiệu lực điều trị. Do đó, hoạt tính CYP450 quyết định trực tiếp độ an toàn và hiệu quả lâm sàng của mọi phác đồ dùng thuốc.

1.2. Phân loại các kiểu hình chuyển hóa thuốc PM IM NM UM

Kiểu hình chuyển hóa thuốc (PM, IM, NM, UM) được xác lập dựa trên tổ hợp alen di truyền của từng người. Nhóm chuyển hóa thuốc yếu (Poor Metabolizer - PM) mang hai alen mất chức năng hoàn toàn. Nhóm này đào thải hoạt chất rất chậm, làm tăng nồng độ thuốc trong máu và dễ gây phản ứng có hại. Nhóm chuyển hóa thuốc trung bình (Intermediate Metabolizer - IM) có hoạt tính enzyme giảm một phần so với mức tiêu chuẩn. Nhóm chuyển hóa thuốc bình thường (Normal/Extensive Metabolizer - NM/EM) sở hữu kiểu hình đáp ứng thuốc tối ưu nhất. Nhóm chuyển hóa thuốc cực nhanh (Ultrarapid Metabolizer - UM) mang các alen tăng cường chức năng hoặc hiện tượng nhân đôi gen. Bệnh nhân nhóm UM thanh thải thuốc cực nhanh, khiến liều điều trị thông thường mất hiệu lực bảo vệ.

II. Đa hình gen CYP2C9 và CYP2C19 ở quần thể người Kinh

Gen CYP2C9 và CYP2C19 nằm kế cận nhau trên nhiễm sắc thể số 10 của người. Hai gen này mã hóa cho các enzyme giữ vai trò thiết yếu trong chuyển hóa nhiều nhóm thuốc quan trọng như thuốc chống đông, thuốc tim mạch và thuốc ức chế tiết acid dạ dày. Đa hình gen CYP2C9 (alen *2, *3) và đa hình gen CYP2C19 (alen *2, *3, *17) xuất hiện với tần số đáng chú ý trong cộng đồng người Kinh. Những biến thể này làm thay đổi cấu trúc acid amin của enzyme hoặc gây sai hỏng quá trình biểu hiện gen. Hậu quả trực tiếp là khả năng chuyển hóa thuốc của người mang gen đột biến khác biệt rõ rệt so với người mang alen bình thường. Việc phát hiện sớm các alen này giúp phòng tránh nguy cơ ngộ độc thuốc.

2.1. Tác động của đa hình gen CYP2C9 alen 2 3

Đa hình gen CYP2C9 (alen 2, 3) làm suy giảm nghiêm trọng hoạt tính xúc tác của enzyme CYP2C9 trong gan. Biến thể CYP2C92 mang đột biến R144C, trong khi biến thể CYP2C93 mang đột biến I359L trên chuỗi polypeptid. Enzyme CYP2C9 chịu trách nhiệm chuyển hóa đồng phân S-warfarin, phenytoin và nhiều thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Bệnh nhân mang alen *2 hoặc *3 có tốc độ chuyển hóa S-warfarin giảm từ 30% đến 80%. Nồng độ thuốc chống đông tự do trong huyết tương tăng cao kéo dài, làm tăng mạnh nguy cơ xuất huyết tiêu hóa và xuất huyết nội sọ đe dọa tính mạng. Vì vậy, xác định chính xác kiểu gen CYP2C9 là điều kiện tiên quyết để tính toán liều khởi đầu an toàn cho người bệnh.

2.2. Đặc điểm đa hình gen CYP2C19 alen 2 3 17

Đa hình gen CYP2C19 (alen 2, 3, 17) phân bố với tỷ lệ rất cao ở các quần thể Đông Á. Biến thể CYP2C192 và CYP2C193 là các đột biến vô nghĩa hoặc sai lệch khung đọc mã, tạo ra protein mất hoạt tính hoàn toàn. Người mang kiểu gen đồng hợp tử của hai alen này thuộc nhóm chuyển hóa yếu (PM). Khi điều trị bằng clopidogrel sau đặt stent mạch vành, người bệnh PM không thể chuyển hóa tiền dược chất thành dạng có hoạt tính sinh học. Tình trạng này dẫn đến thất bại điều trị và làm tăng nguy cơ huyết khối tắc mạch. Ngược lại, alen CYP2C1917 làm tăng mức biểu hiện gen, thúc đẩy quá trình chuyển hóa các thuốc ức chế bơm proton (PPI) diễn ra quá nhanh, làm giảm hiệu quả diệt Helicobacter pylori.

III. Đặc điểm đa hình gen CYP3A5 và CYP2D6 tại Việt Nam

CYP3A5 và CYP2D6 là hai enzyme quan trọng trong chuyển hóa các nhóm thuốc ức chế miễn dịch, tim mạch và thần kinh trung ương. Nghiên cứu trên quần thể người Kinh cho thấy tính đa hình di truyền rất phong phú và phức tạp tại hai locus gen này. Đa hình gen CYP3A5 (alen *3) và đa hình gen CYP2D6 (alen *4, *10, *41) chi phối mạnh mẽ nồng độ điều trị của nhiều hoạt chất có khoảng trị liệu hẹp. Sự phân bố tần số alen ở người Việt mang tính đặc thù riêng biệt so với người da trắng hay người châu Phi. Việc khảo sát toàn diện các biến thể này cung cấp bằng chứng dịch tễ học di truyền chính xác, làm cơ sở khoa học cho công tác xây dựng hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn.

3.1. Phân bố đa hình gen CYP3A5 alen 3 trong chuyển hóa thuốc

Đa hình gen CYP3A5 (alen *3) là biến thể thay thế nucleotide g.6986A>G nằm tại intron 3 của gen. Đột biến này tạo ra vị trí cắt nối giả trong quá trình xử lý tiền mRNA, dẫn đến xuất hiện mã kết thúc sớm và phân hủy protein. Người mang kiểu gen *3/*3 không biểu hiện enzyme CYP3A5 chức năng và có kiểu hình không chuyển hóa. Thuốc ức chế miễn dịch tacrolimus dùng trong phẫu thuật ghép tạng phụ thuộc rất lớn vào hoạt tính enzyme này. Bệnh nhân mang kiểu gen *1/*1 hoặc *1/3 biểu hiện enzyme mạnh, đòi hỏi liều tacrolimus cao gấp 1,5 đến 2 lần để đạt nồng độ đáy mục tiêu trong máu. Việc xác định alen CYP3A53 giúp ngăn ngừa nguy cơ thải ghép cấp tính do thiếu liều hoặc độc tính trên thận do quá liều.

3.2. Ảnh hưởng của đa hình gen CYP2D6 alen 4 10 41

Đa hình gen CYP2D6 (alen 4, 10, 41) tạo nên tính đa dạng kiểu hình phức tạp bậc nhất trong hệ enzyme CYP450. Biến thể CYP2D64 làm mất đoạn nucleotide, dẫn tới mất hoàn toàn hoạt tính xúc tác. Biến thể CYP2D610 mang hai đột biến P34S và S486T, làm giảm tính bền nhiệt của protein và suy giảm chức năng enzyme. Alen CYP2D610 là alen đột biến phổ biến nhất ở người Việt Nam và cộng đồng Đông Á. Biến thể CYP2D6*41 gây giảm lượng enzyme chức năng được tổng hợp. Đa hình CYP2D6 quyết định trực tiếp hiệu lực giảm đau của codein, tramadol và khả năng chuyển hóa tamoxifen thành endoxifen có hoạt tính trong điều trị trúng đích ung thư vú.

IV. Ứng dụng dược lý di truyền giúp cá thể hóa điều trị

Dược lý di truyền (Pharmacogenomics) là ngành khoa học kết hợp giữa di truyền học phân tử và dược lý học lâm sàng. Mục tiêu trọng tâm là cá thể hóa điều trị (Personalized Medicine), lựa chọn đúng thuốc và đúng liều cho từng bệnh nhân cụ thể. Nghiên cứu tần số alen và kiểu gen ở người Việt cung cấp nền tảng số liệu khoa học chính xác cho y tế nước nhà. Phân tích kiểu gen trước khi kê đơn giúp dự đoán trước đáp ứng trị liệu và hạn chế tối đa các phản ứng có hại của thuốc (ADR). Phương pháp này giúp loại bỏ hoàn toàn quy trình thử sai liều dùng nguy hiểm trong thực hành lâm sàng, nâng cao chất lượng điều trị và bảo vệ tính mạng người bệnh.

4.1. Hướng dẫn lâm sàng từ hiệp hội CPIC và tối ưu hóa liều dùng

Hiệp hội ứng dụng Di truyền dược học lâm sàng (CPIC) đã công bố nhiều hướng dẫn thực hành dựa trên bằng chứng di truyền vững chắc. Các hướng dẫn phân loại cụ thể phác đồ điều trị cho từng cặp gen - thuốc nhằm bảo đảm an toàn tối đa. Ví dụ, bệnh nhân mang kiểu gen chuyển hóa yếu của CYP2C19 được khuyến cáo chuyển sang dùng kháng kết tập tiểu cầu thế hệ mới thay cho clopidogrel. Bệnh nhân mang alen CYP2C9*3 cần được chủ động giảm liều khởi đầu của warfarin từ 30% đến 50% ngay từ đầu. Việc áp dụng đúng các khuyến cáo chuẩn quốc tế của CPIC giúp giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân bị xuất huyết hoặc huyết khối, đồng thời rút ngắn thời gian nằm viện điều trị.

4.2. Triển vọng cá thể hóa điều trị Personalized Medicine tại Việt Nam

Cá thể hóa điều trị (Personalized Medicine) tại Việt Nam đang có bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ các nghiên cứu di truyền quần thể. Đề tài khảo sát trên 136 người Kinh không quan hệ huyết thống bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger đã xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền đáng tin cậy. Nghiên cứu đã xác định tần số các alen đã biết và phân tích chức năng của nhiều biến thể mới. Kết hợp kỹ thuật Sanger với phương pháp MLPA giúp phát hiện chính xác cả các đột biến điểm lẫn biến thể số bản sao (CNV). Thiết lập cơ sở dữ liệu kiểu gen người Việt là tiền đề cốt lõi để triển khai xét nghiệm gen thường quy, giảm chi phí y tế phát sinh từ biến cố ADR.

Mục lục chi tiết luận án

1. MỞ ĐẦU
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Xây dựng cơ sở dữ liê ̣u về đa hình/đô ̣t biế n của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 ở người Kinh Viê ̣t Nam
2.1.2. Xác định kiểu gen và tần số các allele của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 trên người Kinh ở Việt Nam đồ ng thời phân tích và dự đoán chức năng của các biế n thể mới
3. Cách tiếp cận nghiên cứu
3.1. Những đóng góp mới của luận án
4. CYP450 và chuyển hóa thuốc trong gan
5. Đa dạng di truyền các gen mã hóa cho enzyme CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc
5.1. Đa dạng di truyền các gen CYP450 và vai trò trong chuyển hóa thuốc
5.2. Gen CYP2C9
5.2.1. Cơ chất đặc hiệu của CYP2C9
5.2.2. Đa hình di truyền của CYP2C9 và sự phân bố giữa các quần thể trên thế giới
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đa hình đột biến gen cyp2c9 cyp2c19 cyp3a5 và cyp2d6 cytochrome p450 ở người kinh việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (156 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 MỞ ĐẦU Các enzyme cytochrome P450 (CYP450) thuộc một họ protein-heme lớn, những enzyme này có vai trò thiết yếu đối với các quá trình chuyển hóa hợp chất nội sinh và ngoại sinh. Ở người, có 57 gen chức năng và 58 gen giả đã được báo cáo, trong đó các CYP450 được phân loại thành 18 họ và 44 phân họ. Hầu hết các gen trong nhóm này đều mang những chức năng sinh học trong chuyển hóa các chất nội sinh như acid mật, eicosanoid và steroid. Tuy nhiên, khoảng 12 enzyme CYP450 thuộc các phân họ CYP1, CYP2 và CYP3 là tham gia chuyển hóa thuốc chính.

Phần lớn các loại thuốc được kê đơn trong lâm sàng được chuyển hóa bởi các enzyme CYP450, ngoài ra cũng có rất nhiều loại thuốc chỉ được chuyển hóa bởi một CYP450 duy nhất. Có thể thấy, những yếu tố nội sinh và ngoại sinh gây ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme của CYP450 đóng vai trò rất quan trọng đến dược động học của các loại thuốc được đưa vào cơ thể. Đối với một số các CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc như CYP2C9, CYP2C19 và CYP2D6, các biến thể di truyền trong các gen mã hóa cho protein có ảnh hưởng nhiều đến sự khác biệt trong hoạt tính của enzyme, trong khi đó đối với những CYP450 khác (CYP1A2, CYP3A4) thì tỉ lệ này không đáng kể. Các gen mã hóa cho các enzyme CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc có tính đa hình rất cao.

Sự đa dạng di truyền này được thể hiện ở những đa hình đơn nucleotide (Single nucleotide polymorphism-SNP) xuất hiện với tần số hiếm (rare) hoặc phổ biến (common), ngoài ra còn có các biến thể số bản sao (Copy number variant-CNV) bao gồm các mất/lặp đoạn. Chức năng của biến thể được phân loại từ không chức năng đến tăng cường chức năng, từ đó mà kiểu hình chuyển hóa được chia thành các cấp độ: chuyển hóa thuốc yếu (Poor Metabolizer-PM), chuyển hóa thuốc trung bình (Intermediate Metabolizer-IM), chuyển hóa thuốc bình thường (Extensive Metabolizer-EM) và chuyển hóa thuốc cực nhanh (Ultrarapid Metaolizer- UM). Những CYP450 tham gia vào chuyển hóa nhiều loại thuốc trên thị trường nhất hiện nay là CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A4/5. Năm gen CYP450 nói trên mã hóa cho các enzyme tham gia vào chuyển hóa 60-80% các loại thuốc thường được kê đơn.

2 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu: Sự khác nhau trong đáp ứng thuốc giữa các cá nhân là điều khó tránh khỏi trong điều trị, trong đó có các phản ứng có hại của thuốc (Adverse drugs reaction/ADR). Các ADR là một trong những nguyên nhân chính của các trường hợp bệnh nhân phải nhập viện, một số có thể dẫn tới tử vong. Ingelman-Sunberg và cộng sự đã ước tính ADR làm tiêu tốn khoảng 100 tỉ đô la Mỹ, đây cũng là nguyên nhân dẫn tới 100.000 ca tử vong mỗi năm tại Mỹ. Khoảng 7% các ca nhập viện tại Anh và Thụy Điển cũng có nguyên nhân từ các ADR.

Từ năm 2009, Hiệp hội ứng dụng Di truyền dược học lâm sàng (Clinical Pharmacogenetics Implementation Consortium- CPIC) đã cung cấp các thông tin về việc xét nghiệm di truyền có thể được sử dụng trong tối ưu hóa phác đồ sử dụng thuốc. Đối với một vài loại cặp gen-thuốc, CPIC cũng đã đưa ra những chỉ dẫn về liều dùng cụ thể. Như đã trình bày ở trên, các gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 là 4 trong số các gen CYP450 có tính đa hình cao mà các dạng đa hình của chúng khiến cho bệnh nhân có khả năng chuyển hóa từng loại thuốc cụ thể rất khác nhau, từ mạnh tới yếu. Cho tới nay, các hiểu biết về đa dạng di truyền của nhóm gen CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc ở người Việt Nam còn rất hạn chế.

Ngày nay, vai trò của dược lý học di truyền liên quan đến chuyển hóa thuốc và tương tác thuốc trong lâm sàng mang tính cấp bách và rất cần đầu tư nghiên cứu. Hiểu biết về tính đa dạng di truyền của các gen tham gia chuyển hóa thuốc ở người Việt Nam được coi là tiền đề để phát triển lĩnh vực này. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát hiện các allele đã biết cũng như xác định cả những allele mới ở người Việt Nam. Do vậy, số liệu thu được từ nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin khoa học về đa dạng di truyền của các gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 trên người Việt Nam.

Đây cũng là những tiền đề có ý nghĩa và đóng góp một phần cho sự phát triển của lĩnh vực di truyền dược học và y học cá thể. Mục tiêu nghiên cứu: - Xây dựng cơ sở dữ liê ̣u về đa hình/đô ̣t biế n của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 ở người Kinh Viê ̣t Nam. - Xác định kiểu gen và tần số các allele của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 trên người Kinh ở Việt Nam đồ ng thời phân tích và dự đoán chức năng của các biế n thể mới. 3 Cách tiếp cận nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là 136 người Kinh khỏe mạnh không có quan hệ huyết thống.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp giải trình tự Sanger nhằm xác định tất cả các biến thể nằm trong vùng promoter cùng với tất cả 9 exon và vùng biên của 03 gen CYP2C9, CYP2C19 và CYP2D6. Đối với gen CYP3A5, phương pháp giải trình tự Sanger cũng được áp dụng nhằm xác định các biến thể đã được công bố là có ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme bao gồm: *3, *6, *8 và *9. Các CNV của các gen nghiên cứu được xác định bằng phương pháp khuếch đại đa đầu dò phụ thuộc phản ứng ghép nối (Multiplex ligation-dependent probe amplification-MLPA). Những mẫu được xác định là có bất thường số bản sao được kiểm tra lại bằng phương pháp Long range PCR hoặc real-time PCR.

Các biến thể sau khi đã được xác định sẽ tiếp tục được tổng hợp số liệu để tính toán tần số allele cũng như tần số kiểu gen trên tổng số mẫu nghiên cứu đối với mỗi gen. Tiến hành so sánh về tần số và phân bố của các allele của mỗi gen ở quần thể người Kinh Việt Nam so với các quần thể người khác. Bên cạnh đó, những biến thể mới được tiến hành phân tích in silico nhằm dự đoán ảnh hưởng của các biến thể này đến chức năng của protein tương ứng. Những đóng góp mới của luận án: Xác định được một số biến thể mới trong promoter và intron của các gen CYP450, cụ thể: 5 biến thể mới trong in tron của CYP2C9, 3 biến thể mới trong intron của CYP2C19, 3 biến thể mới trong promoter và 2 biến thể mới trong intron của CYP2D6 và 3 biến thể mới thuộc vùng mã hóa của 2 gen CYP2C9 và CYP2D6.

Đã phân tích in silico cho thấy những biến thể này gây ảnh hưởng có hại đến chức năng của protein. Các biến thể CYP2D6*5, CYP2D6*10, CYP2D6*13 và CYP2D6*36-*10 đã được xác định trên người Kinh ở Việt Nam là những biến thể làm giảm hoặc mất hoạt tính của enzyme đã được xác định với tỉ lệ lần lượt là: 8,09%, 43,75%, 1,547% và 12,13%. CYP450 và chuyển hóa thuốc trong gan Thuốc là những chế phẩm có chứa dược chất dùng với mục đích phòng-chữa bệnh hay điều trị giảm nhẹ. Enzyme chuyển hóa thuốc được biết đến nhiều nhất là các enzyme CYP450, đây là những enzyme tham gia vào các quá trình oxi hóa khử và thủy phân.

Mục tiêu chính của quá trình chuyển hóa thuốc đó là giúp đào thải thuốc ra khỏi cơ thể. Ví dụ như các tiền chất (không có hoạt tính dược lý) sau khi được hấp thụ vào cơ thể sẽ được chuyển đổi thành thuốc có hoạt tính. Mặt khác đa số các loại thuốc sau khi chuyển hóa sẽ chuyển sang trạng thái kém hoạt động hơn. Quá trình chuyển hóa thuốc xảy ra ở nhiều cơ quan trong cơ thể như gan, thành ruột, phổi, thận và huyết tương.

Trong số đó, gan là cơ quan chuyển hóa thuốc đầu tiên, đóng vai trò như vị trí thải độc và loại thải các chất ngoại lai bằng cách biến đổi các hợp chất tan trong lipid trở nên ưa nước hơn, quá trình này có sự tham gia của các enzyme. Quá trình chuyển hóa thuốc tại gan trải qua 3 giai đoạn: pha I, pha II và pha III. Trong đó pha I có sự tham gia của các enzyme CYP450, pha II được thực hiện bởi các enzyme vận chuyển acid glucuronic của UDP (UDP-glucuronosyltransferase) (chuyển hóa 40-70% các loại thuốc) và trong pha III thì các enzyme vận chuyển thuốc (drug transporter) sẽ giúp đưa sản phẩm chuyển hóa thuốc tới mật. Klingenberg lần đầu tiên phát hiện ra CYP450 vào năm 1954 trong nghiên cứu về chuyển hóa hoocmon steroid, khi ông trích xuất một loại protein mới từ tế bào gan [1].

Gần một thập kỷ sau, chức năng và tầm quan trọng của CYP450 đã được xác định. Năm 1963, Estabrook và cộng sự đã mô tả vai trò của CYP450 như một chất xúc tác trong quá trình tổng hợp hormone steroid và chuyển hóa thuốc. Cooper và các đồng nghiệp sau đó đã xác nhận CYP450 là một enzyme chủ chốt liên quan đến phản ứng hydroxyl hóa thuốc và steroid [2]. Nhiều protein CYP450 đã được phát hiện rộng khắp cơ thể, chứng tỏ sự tham gia đáng kể vào hoạt hóa hóa học, khử hoạt tính và gây ung thư [3].

Các enzyme CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc pha I là các protein biểu hiện chủ yếu trên mạng lưới nội chất trơn và ti thể của các tế bào gan và biểu mô ruột non (ngoài ra cũng còn ở một số cơ quan khác). Ở người, có 115 gen CYP450 bao gồm 5 cả các gen giả, được đặt tên bắt đầu từ CYP1A1 và kết thúc bởi CYP51P3. Các protein được mã hóa bởi các CYP450 được phân loại dựa trên mức độ tương đồng về trình tự của các amino acid thành các cấp độ từ họ (ví dụ: họ CYP1, CYP2…), phân họ (ví dụ: phân họ CYP1A, CYP2B…) và từng enzyme riêng lẻ (ví dụ: enzyme CYP1A1, CYP2D6…). Trong số các CYP450 biểu hiện trong gan thì CYP3A4 có mức độ biểu hiện mạnh nhất (chiếm 22,1%), tiếp theo là 2 enzyme CYP2E1 (15,3%) và CYP2C9 (14,6%) tính trên tổng số protein trong gan.

Các enzyme CYP450 tham gia xúc tác cho nhiều loại phản ứng như: oxi hóa, oxi hóa sulpho (lưu huỳnh), hydroxyl hóa vòng (nhân) thơm, hydroxy hóa hợp chất không vòng, khử (tách) nhóm N-alkyl, khử (tách) nhóm O-alkyl (alkoxy). Trong số các phản ứng này, phản ứng oxi hóa là phản ứng giúp thêm một nguyên tử oxy vào phân tử thuốc, được biểu diễn bằng phương trình sau: NADPH + H+ + O2 + RH → NADP+ + H2O + ROH Về mặt cấu trúc, CYP450 là những protein có khoảng 400-500 amino acid và chứa một nhóm heme với nguyên tử Fe ở trung tâm. Tất cả các CYP450 đều có chung cấu trúc bảo thủ được tạo nên bởi bốn vòng xoắn D, L, I và E.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/duoc-hoc/duoc-ly-hoc/nghien-cuu-da-hinh-gen-cyp2c9-cyp2c19-cyp3a5-cyp2d6-o-nguoi-kinh-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh. Phân tích tần suất alen và ứng dụng lâm sàng.

Luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" thuộc chuyên ngành Di truyền dược học / Y học cá thể / Dược lý học di truyền. Danh mục: Dược Lý Học.

Luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" có 156 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu đa hình gen CYP2C9, CYP2C19, CYP3A5, CYP2D6 ở người Kinh" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter