Vai trò của xạ hình SPECT-CT trong đánh giá sống còn cơ tim ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ

Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim giúp chẩn đoán chính xác tình trạng tưới máu cơ tim sau nhồi máu.

Chuyên ngành

Tim mạch / Y học hạt nhân & Chẩn đoán hình ảnh

Tác giả

Luan An

Thể loại

Đề tài nghiên cứu

Số trang

138

Thời gian đọc

21 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

Bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) ảnh hưởng trên 110 triệu người trên toàn thế giới và đã gia tăng 73,3% từ năm 1990 đến 2015 [26], với số bệnh nhân mới mắc mỗi năm đến 5,7 triệu ca [70]. Thêm vào đó, bệnh này tạo ra gánh nặng đáng kể lên nguồn lực và chi phí chăm sóc y tế, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và gia tăng chi phí an sinh xã hội [70], [120]. Theo hội tim châu Âu (ESC) và hội phẫu thuật lồng ngực - tim châu Âu (EACTS) khuyến cáo việc phát hiện vùng cơ tim sống còn là một phần trong tiến trình chẩn đoán để quyết định điều trị tái tưới máu mạch vành, và những bệnh nhân không có bằng chứng cho tính sống còn cơ tim không nên được thực hiện điều trị tái tưới máu [133]. Để xem xét bằng chứng cho vùng cơ tim nhiều tiềm năng còn sống, đã có nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh cả xâm lấn lẫn không xâm lấn được phát triển như chụp cắt lớp vi tính (CT) tim, xạ hình tim, siêu âm tim với dobutamine và cộng hưởng từ (MRI) tim đã được nghiên cứu toàn diện với nỗ lực nhằm xác định được biện pháp tốt nhất để nghiên cứu cơ tim [48]. Trong đó, đánh giá tưới máu cơ tim trên xạ hình cắt lớp đơn photon (SPECT) hoặc xạ hình cắt lớp đơn photon kết hợp với CT (SPECT-CT) là những phương pháp phổ biến đang được sử dụng do có nhiều ưu điểm như độ nhạy cao, tính hiệu quả và chi phí thấp hơn so với xạ hình cắt lớp positron (PET) hoặc xạ hình cắt lớp positron kết hợp với CT

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tổng quan xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim
Số trang:
138 trang
Chuyên ngành:
Tim mạch / Y học hạt nhân & Chẩn đoán hình ảnh
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tổng quan xạ hình SPECT CT đánh giá sống còn cơ tim

Bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu. Hàng triệu ca mắc mới xuất hiện mỗi năm. Chi phí chăm sóc y tế tăng cao tạo gánh nặng lớn cho xã hội. Hoạt động của tế bào cơ tim đòi hỏi nguồn cung cấp oxy liên tục. Khi mạch vành bị hẹp hoặc tắc, lưu lượng máu giảm sút nhanh chóng. Cơ tim rơi vào tình trạng thiếu dưỡng khí và suy giảm chức năng co bóp. Kỹ thuật xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán. Phương pháp này hỗ trợ bác sĩ xác định mô cơ tim còn khả năng hồi phục. Người bệnh tránh được các can thiệp không cần thiết. Xạ hình tưới máu cơ tim giúp định hình lộ trình điều trị an toàn và chuẩn xác.

1.1. Sinh lý bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim

Cơ tim tiêu thụ lượng lớn oxy ngay cả khi nghỉ ngơi. Mức chiết xuất oxy từ máu đạt từ 70% đến 80%. Tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim xảy ra khi lưu lượng mạch vành suy giảm. Vùng cơ tim bị ảnh hưởng giảm dần hoạt động chuyển hóa hiếu khí. Chức năng tâm thu và tâm trương bị biến đổi nhanh chóng. Nhiều trường hợp thiếu máu cơ tim diễn ra trong im lặng, không có triệu chứng đau ngực rõ rệt. Cơn nhồi máu cơ tim có thể xuất hiện đột ngột nếu không được phát hiện sớm. Tế bào tim bị hoại tử vĩnh viễn nếu mạch máu không được tái thông kịp thời. Việc phát hiện sớm vùng cơ tim bị tổn thương giúp bảo toàn chức năng tim mạch lâu dài.

1.2. Phân biệt cơ tim đông miên và cơ tim choáng váng

Tổn thương cơ tim được chia thành nhiều mức độ khác nhau sau biến cố thiếu máu. Cơ tim đông miên là tình trạng giảm co bóp kéo dài do lưu lượng máu suy giảm mạn tính. Tế bào tim chủ động giảm hoạt động để duy trì sự sống. Chức năng tim sẽ hồi phục hoàn toàn nếu được tái tưới máu mạch vành kịp thời. Ngược lại, cơ tim choáng váng là tình trạng rối loạn chức năng cơ bóp sau đợt thiếu máu cấp tính. Lưu lượng máu đã phục hồi nhưng cơ tim vẫn chưa hoạt động bình thường ngay. Phân biệt chính xác hai trạng thái này giúp định hướng phác đồ can thiệp phù hợp. Đánh giá sống còn cơ tim là chìa khóa để phân loại các tổn thương này.

II. Ý nghĩa xạ hình SPECT CT đánh giá sống còn cơ tim mạch

Quyết định can thiệp tái tưới máu đòi hỏi cơ sở chẩn đoán vững chắc. Hướng dẫn y khoa khuyến cáo chỉ nên can thiệp khi còn mô tim sống. Bệnh nhân không còn mô cơ tim sống sót sẽ không hưởng lợi từ phẫu thuật bắc cầu hoặc đặt stent. Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim cung cấp hình ảnh khách quan và chuẩn xác. Kỹ thuật này giúp phân biệt mô sẹo xơ hóa sau nhồi máu cơ tim với vùng cơ tim còn sống. Bác sĩ đưa ra chỉ định phẫu thuật an toàn hơn cho người bệnh. Tỷ lệ biến chứng giảm đi rõ rệt. Quá trình hồi phục sau can thiệp diễn ra thuận lợi hơn.

2.1. Khuyến cáo quốc tế về đánh giá sống còn cơ tim

Hội Tim Mạch Châu Âu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định mô sống trước can thiệp. Thủ thuật tái tưới máu xâm lấn luôn đi kèm các rủi ro nhất định. Bệnh nhân chỉ nên phẫu thuật khi vùng cơ tim sống còn chiếm tỷ lệ đáng kể. Đánh giá sống còn cơ tim giúp cân nhắc giữa lợi ích điều trị và nguy cơ tai biến. Kỹ thuật SPECT-CT tim mạch là công cụ không xâm lấn vượt trội trong việc lượng hóa tổn thương. Dữ liệu hình ảnh hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật bắc cầu mạch vành chính xác. Phương pháp này giảm thiểu chi phí y tế không cần thiết cho bệnh nhân không có chỉ định.

2.2. Tối ưu hóa điều trị tái tưới máu động mạch vành

Tái tưới máu mạch vành nhằm mục tiêu khôi phục dòng máu nuôi tim. Vùng cơ tim đông miên sẽ cải thiện co bóp sau khi được cung cấp đủ dưỡng khí. Bệnh nhân cải thiện rõ rệt phân suất tống máu và chất lượng cuộc sống. Ngược lại, việc tái thông mạch máu nuôi vùng mô sẹo xơ hoại tử không đem lại lợi ích lâm sàng. Thủ thuật xâm lấn trong trường hợp này chỉ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch. Xạ hình tưới máu cơ tim giúp định vị chính xác phân vùng cần tái thông. Hiệu quả điều trị nhờ đó được nâng cao rõ rệt.

III. Kỹ thuật xạ hình SPECT CT đánh giá sống còn cơ tim chuẩn

Kỹ thuật SPECT-CT tim mạch kết hợp đồng thời hình ảnh chức năng và hình ảnh giải phẫu. Hệ thống ghi nhận bức xạ gamma phát ra từ các đồng vị phóng xạ trong cơ tim. Đồng thời, đầu dò cắt lớp vi tính quét cấu trúc lồng ngực với độ phân giải cao. Sự kết hợp này mang lại độ nhạy và độ đặc hiệu vượt trội so với máy SPECT truyền thống. Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim có chi phí hợp lý hơn nhiều so với PET-CT. Kỹ thuật này dễ dàng triển khai tại các trung tâm y tế lớn. Kết quả hình ảnh giúp bác sĩ chẩn đoán nhanh chóng và chính xác.

3.1. Ứng dụng dược chất phóng xạ Tc 99m MIBI và Thallium 201

Đồng vị phóng xạ đóng vai trò chất chỉ điểm sinh học trong quá trình ghi hình. Dược chất phóng xạ Tc-99m MIBI được sử dụng phổ biến nhờ cơ chế hấp thu tại ty thể tế bào sống. Lượng gắn kết Tc-99m MIBI phản ánh độ toàn vẹn của màng tế bào cơ tim. Trong khi đó, Thallium-201 là chất tương tự ion kali, thâm nhập tế bào qua bơm Na+/K+-ATPase. Sự phân bố của Thallium-201 cho phép phát hiện chính xác vùng cơ tim thiếu máu có khả năng hồi phục. Kết hợp linh hoạt các chất phóng xạ này nâng cao giá trị chẩn đoán xạ hình tưới máu cơ tim.

3.2. Vai trò của hiệu chỉnh hấp thụ SPECT CT tim mạch

Hiện tượng suy giảm chùm tia gamma do mô mềm lồng ngực thường gây ra ảnh giả. Thành ngực, mô vú và cơ hoành dễ tạo nên hình ảnh khuyết xạ giả tạo ở thành dưới và thành bên thất trái. Kỹ thuật hiệu chỉnh hấp thụ SPECT-CT sử dụng bản đồ tỷ trọng từ hình ảnh cắt lớp vi tính. Thuật toán xử lý sẽ bù trừ chính xác sự suy giảm photon năng lượng. Nhờ đó, tỷ lệ chẩn đoán âm tính giả và dương tính giả giảm đi đáng kể. Hình ảnh xạ hình SPECT-CT tim mạch đạt độ tương phản cao và độ tin cậy vượt bậc.

IV. Lợi ích xạ hình SPECT CT đánh giá sống còn cơ tim rõ rệt

Phương pháp xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim đem lại nhiều giá trị thực tiễn cho y học hiện đại. Kỹ thuật này không chỉ đánh giá tưới máu mà còn định lượng chi tiết chức năng thất trái. Dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được tích hợp đầy đủ. Bác sĩ xác định được mức độ lan rộng của tổn thương nhồi máu cơ tim. Tiên lượng sống còn và nguy cơ biến cố tim mạch trong tương lai được dự báo chuẩn xác. Đây là công cụ đắc lực giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân bệnh mạch vành.

4.1. Định lượng diện tích sống còn cơ tim bằng chỉ số SDS

Chỉ số điểm tưới máu chênh lệch (SDS) đóng vai trò then chốt trong đánh giá sống còn cơ tim. Tỷ lệ %SDS lớn hơn hoặc bằng 10% chứng tỏ có vùng thiếu máu cơ tim diện rộng còn khả năng phục hồi. Người bệnh trong nhóm này hưởng lợi nhiều nhất từ can thiệp tái thông mạch vành. Chức năng tim sau mổ cải thiện đáng kể so với điều trị nội khoa đơn thuần. Xạ hình tưới máu cơ tim cho phép tính toán tự động chỉ số này trên phần mềm chuyên dụng. Phép đo định lượng giúp tiêu chuẩn hóa quy trình ra quyết định điều trị lâm sàng.

4.2. Tiên lượng biến cố tim mạch và cải thiện chức năng thất

Đánh giá chính xác mô tim sống giúp dự đoán khả năng phục hồi phân suất tống máu thất trái. Bệnh nhân có cơ tim đông miên được can thiệp kịp thời sẽ giảm nguy cơ suy tim tiến triển. Nguy cơ đột tử do rối loạn nhịp tim cũng suy giảm đáng kể. Ngược lại, người bệnh có diện tích mô hoại tử lớn được duy trì điều trị nội khoa tối ưu để tránh nguy cơ tai biến do phẫu thuật. Phương pháp xạ hình SPECT-CT tim mạch mang lại cái nhìn toàn diện về tiên lượng bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Bệnh tim thiếu máu cục bộ
1.1.1. Sinh lý bệnh
1.1.1.1. Ảnh hưởng của thiếu máu cục bộ đối với quá trình chuyển hóa trong tế bào cơ tim
1.1.1.2. Hậu quả của thiếu máu cục bộ trên hoạt động cơ tim
1.2. Tính sống còn cơ tim
1.2.1. Cơ tim choáng váng
1.2.2. Cơ tim ngủ đông
1.2.3. So sánh giữa cơ tim choáng váng và cơ tim ngủ đông
1.3. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đánh giá tính sống còn cơ tim về mặt tế bào và mô học
1.4. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đánh giá tính sống còn cơ tim trên lâm sàng
1.4.1. Chụp mạch vành qua da
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật spect ct trong đánh giá tính sống còn cơ tim

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (138 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 MỞ ĐẦU Bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) ảnh hưởng trên 110 triệu người trên toàn thế giới và đã gia tăng 73,3% từ năm 1990 đến 2015 [26], với số bệnh nhân mới mắc mỗi năm đến 5,7 triệu ca [70]. Thêm vào đó, bệnh này tạo ra gánh nặng đáng kể lên nguồn lực và chi phí chăm sóc y tế, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và gia tăng chi phí an sinh xã hội [70], [120]. Theo hội tim châu Âu (ESC) và hội phẫu thuật lồng ngực - tim châu Âu (EACTS) khuyến cáo việc phát hiện vùng cơ tim sống còn là một phần trong tiến trình chẩn đoán để quyết định điều trị tái tưới máu mạch vành, và những bệnh nhân không có bằng chứng cho tính sống còn cơ tim không nên được thực hiện điều trị tái tưới máu [133]. Để xem xét bằng chứng cho vùng cơ tim nhiều tiềm năng còn sống, đã có nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh cả xâm lấn lẫn không xâm lấn được phát triển như chụp cắt lớp vi tính (CT) tim, xạ hình tim, siêu âm tim với dobutamine và cộng hưởng từ (MRI) tim đã được nghiên cứu toàn diện với nỗ lực nhằm xác định được biện pháp tốt nhất để nghiên cứu cơ tim [48].

Trong đó, đánh giá tưới máu cơ tim trên xạ hình cắt lớp đơn photon (SPECT) hoặc xạ hình cắt lớp đơn photon kết hợp với CT (SPECT-CT) là những phương pháp phổ biến đang được sử dụng do có nhiều ưu điểm như độ nhạy cao, tính hiệu quả và chi phí thấp hơn so với xạ hình cắt lớp positron (PET) hoặc xạ hình cắt lớp positron kết hợp với CT (PET-CT). Các phương pháp xạ hình thường được sử dụng trong hướng dẫn quyết định điều trị khi cần xác định đối tượng bệnh nhân được hưởng lợi từ chụp mạch vành và tái tưới máu mạch vành [61]. Việc quyết định những bệnh nhân có thiếu máu cơ tim cần được điều trị tái tưới máu mạch vành đặc biệt quan trọng [45] vì hiệu quả lâu dài của điều trị tái tưới máu mạch vành, nên được cân nhắc cẩn trọng với những nguy cơ của các biện pháp điều trị xâm lấn này [125], [126]. 2 Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim (XHTMCT) bằng kỹ thuật SPECT-CT trong việc xác định tính sống còn cơ tim và hướng dẫn chiến lược điều trị ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ.

Dữ liệu hình ảnh CT trong kỹ thuật xạ hình SPECT giúp hiệu chỉnh tia bức xạ gamma từ các đồng vị phóng xạ giúp giảm thiểu hình ảnh âm tính giả ở các tổn thương thiếu máu cơ tim như ở thành bên và thành dưới. Xạ hình SPECT-CT cho độ chính xác cao trong chẩn đoán bệnh mạch vành và cung cấp những dữ liệu tiên lượng quan trọng ở bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ bệnh tim thiếu máu cục bộ [40], [60]. Hơn nữa, phương pháp này cũng có lợi là không xâm lấn và thường sẵn có ở các trung tâm tim mạch lớn. Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về XHTMCT bằng kỹ thuật SPECT trên bệnh nhân bệnh mạch vành mà chủ yếu đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của kỹ thuật hoặc đánh giá biến đổi hình ảnh XHTMCT trước và sau tái tưới máu động mạch vành.

Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu về vai trò của XHTMCT bằng kỹ thuật SPECT/CT trong đánh giá sống còn cơ tim, nhằm định hướng chọn lựa và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị ở bệnh nhân BTTMCB. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim SPECT-CT trong đánh giá tính sống còn cơ tim” với các mục tiêu sau: Mục tiêu chuyên biệt: 1. Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân có sống còn cơ tim ở vùng thiếu máu trên hình ảnh xạ hình tưới máu cơ tim bằng kĩ thuật SPECT – CT (%SDS  10%). Xác định giá trị của đánh giá tính sống còn cơ tim ở vùng thiếu máu dựa trên SPECT-CT trên điều trị can thiệp mạch vành.

Bệnh tim thiếu máu cục bộ 1. Sinh lý bệnh Cơ tim hoạt động nhờ năng lượng tạo ra chủ yếu từ quá trình chuyển hóa hiếu khí. Ngay cả khi ở trạng thái nghỉ ngơi, tế bào cơ tim cũng đã chiết xuất từ 70 – 80% oxy từ máu động mạch vành. Do vậy khi gắng sức, cơ tim khó có thể chiết xuất thêm oxy và để đáp ứng tình trạng tăng nhu cầu này thì chỉ còn một cách duy nhất là phải làm tăng lưu lượng động mạch vành.

Ở người, lưu lượng động mạch vành cần thiết cho:  Trạng thái hoạt động căn bản là 60 - 90ml/phút/100g cơ tim.  Khi làm giảm rõ hoạt động cơ học và nhu cầu chuyển hóa (như trong trường hợp hạ thân nhiệt với rung thất hoặc vô tâm thu, sử dụng các dẫn xuất nitơ để làm giảm tiền tải và hậu tải, hoặc dùng chất chẹn thụ thể  làm giảm tần số tim và co bóp cơ tim): thì chỉ cần khoảng 10- 20ml/phút/100g cơ tim hoặc thậm chí có thể ngưng hoàn toàn tình trạng tưới máu trong vòng 100 phút mà vẫn duy trì được sự sống của tế bào cơ tim. Do chưa có một phương pháp nào có hiệu quả trên lâm sàng để xác định lưu lượng mạch vành, vì vậy tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ được nhận biết bằng các hậu quả của nó (đau ngực, thay đổi điện tâm đồ và chuyển hóa, giảm chức năng tâm trương và tâm thu của cơ tim…). Tuy nhiên, triệu chứng không có, cũng chưa thể loại trừ được bệnh này.

Ví dụ hiện nay tại Hoa Kỳ có 2 – 4% nam giới ở tuổi trung niên bị bệnh tim thiếu máu cục bộ nhưng không có triệu chứng lâm sàng, và tình trạng này được gọi là “thiếu máu cơ tim im lặng”. Mô cơ tim bị thiếu máu biểu hiện tối thiểu 3 bất thường về sinh lý: 4  Tình trạng giảm oxy ở mô, không đủ để cung cấp cho chuyển hóa hiếu khí.  Tích tụ độc chất hậu quả của chuyển hóa yếm khí.  Sự xuất hiện của toan máu (hoặc sự tích tụ H+ được tạo ra bởi các phản ứng dị hóa khi không có đầy đủ các chất kết hợp với electron).

Ảnh hưởng của thiếu máu cục bộ đối với quá trình chuyển hóa trong tế bào cơ tim Hoạt động bình thường của tế bào cơ tim dựa chủ yếu vào sự cung cấp các phức hợp phosphate giàu năng lượng được tạo ra từ Adenosine Diphosphate (ADP) tại ty lạp thể như quá trình phosphoryl oxy hóa. Khi có giảm oxy tại tế bào, quá trình phosphoryl oxy hóa bị ức chế và khả năng dự trữ ATP trong tế bào giảm (tế bào chỉ có khả năng tạo một lượng ATP rất ít) đưa đến sự tích tụ các chất chuyển hóa có tác dụng ức chế trên quá trình tạo năng lượng trong điều kiện yếm khí. Tế bào cơ tim được tưới máu bình thường chủ yếu sử dụng năng lượng từ sự oxy hóa các acid béo để duy trì hoạt động co bóp cơ tim và năng lượng dùng để điều hòa hoạt động màng tế bào được cung cấp từ sự chuyển hóa yếm khí của glucose. Ngược lại, khả năng oxy hóa các acid béo của tế bào cơ tim thiếu máu cục bộ bị giảm nặng nề do đây là quá trình chuyển hóa ái khí, các acid béo sẽ được ester hóa để tạo triglycerid và phospholipide.

Lúc này tế bào sẽ tạo năng lượng chủ yếu từ việc chuyển hóa glucose yếm khí, và đưa đến hậu quả:  Hoạt động co bóp cơ tim sẽ ngưng rất nhanh do thiếu ATP.  Năng lượng hiếm hoi sẽ được sử dụng để duy trì hoạt động màng tế bào, khi hoạt động này bị chấm dứt thì cũng là dấu hiệu của sự chết tế bào. 5 Để hiểu rõ sự thay đổi về chuyển hóa, ta khảo sát chi tiết các đường chuyển hóa của từng chất trong tế bào cơ tim ở hai trạng thái: tưới máu bình thường và thiếu máu cục bộ. Hậu quả của thiếu máu cục bộ trên hoạt động cơ tim 1.

Hoạt động điện học Cơ tim bình thường và mô cơ tim thiếu máu cục bộ có sự khác biệt rõ rệt về tính chất điện học. Ở giai đoạn sớm có tình trạng giảm của:  Điện thế nghỉ màng tế bào  Biên độ, tốc độ và thời gian hoạt động điện học của tế bào Giai đoạn muộn hơn:  Hoạt động điện của tế bào có khuynh hướng kéo dài  Xuất hiện thời kỳ trơ sau khử cực, và thời gian này kéo dài hơn cả giai đoạn tái cực hoàn toàn.  Thời gian khử cực bất thường và sự không đồng nhất về thời gian khử cực của vùng thiếu máu so với vùng cơ tim bình thường làm xuất hiện tình trạng block một chiều tại vùng thiếu máu và đó là nguyên nhân gây rối loạn nhịp do cơ chế vào lại. Ảnh hưởng trên huyết động  Hậu quả trên chức năng tâm thu Tình trạng giảm oxy mô làm cho quá trình chuyển hóa tại tế bào được thực hiện trong hoàn cảnh yếm khí và hậu quả là không cung cấp đủ các hợp chất phosphate giàu năng lượng cần thiết cho hoạt động co bóp cơ tim.

Bởi vì quả tim hầu như không có những nguồn dự trữ oxygen để bù đắp tình trạng thiếu hụt chất này ở giai đoạn rất sớm của thiếu máu cục bộ, hơn nữa các vùng cơ tim không bị nhồi máu, sau khi được tái tưới máu lại có 6 tình trạng tiêu thụ oxy có thể trên cả mức bình thường (trong khi khả năng tạo ATP chỉ ở mức vừa phải) và gây ra sự bất thường trong hoạt động co bóp. Có 4 dạng co bóp bất thường của cơ tim:  Không đồng bộ: sự co bóp không phối hợp giữa các vùng cơ tim khác nhau.  Giảm động: giảm khả năng co ngắn của một vùng cơ tim  Vô động: hoàn toàn không co ngắn của một vùng cơ tim  Loạn động: dãn (phình) nghịch thường của một vùng cơ tim Cùng với tình trạng rối loạn vận động của vùng cơ tim bị thiếu máu (hoặc nhồi máu) thì các vùng cơ tim bình thường lại có tình trạng tăng động, có thể là do cơ chế bù trừ trong giai đoạn cấp (hậu quả của tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm và do cơ chế Frank-Starling). Nếu vùng cơ tim bị tổn thương rộng thì các rối loạn vận động có thể gây giảm cung lượng tim, lưu lượng tim, phân suất tống máu, trong khi đó áp lực và thể tích tâm thất cuối kỳ tâm trương lại tăng.

Khi vùng rối loạn vận động chiếnm 20-25% thất trái sẽ gây suy thất trái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/noi-khoa/xa-hinh-spect-ct-danh-gia-song-con-co-tim

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" nghiên cứu về vấn đề gì?

Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim giúp chẩn đoán chính xác tình trạng tưới máu cơ tim sau nhồi máu.

Luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" thuộc chuyên ngành Tim mạch / Y học hạt nhân & Chẩn đoán hình ảnh. Danh mục: Nội Khoa.

Luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" có bao nhiêu trang?

Luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" có 138 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Xạ hình SPECT-CT đánh giá sống còn cơ tim" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter