Luận án tiến sĩ: Điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco - Trường Đại học Y
Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco mang lại hiệu quả cao, cải thiện thị lực rõ rệt cho bệnh nhân.
Luan An
Số trang
166
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric tối ưu
- Số trang:
- 166 trang
- Chuyên ngành:
- Nhãn khoa
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric tối ưu
Phẫu thuật phaco hiện đại không chỉ loại bỏ thể thủy tinh đục. Kỹ thuật này còn hướng tới mục tiêu điều chỉnh tật khúc xạ toàn diện. Khoảng 25% đến 30% mắt phẫu thuật thể thủy tinh có kèm loạn thị giác mạc từ 1 Diop trở lên. Tình trạng loạn thị chưa điều chỉnh gây giảm chất lượng thị giác. Mắt xuất hiện hiện tượng nhìn mờ nhòe, lóa sáng và nhức mỏi.
Phương pháp đặt kính nội nhãn toric mang lại nhiều ưu thế vượt trội so với các kỹ thuật rạch giác mạc truyền thống. Thấu kính giúp giải quyết đồng thời tình trạng đục thể thủy tinh và loạn thị sẵn có. Thị lực sau mổ phục hồi nhanh. Bệnh nhân giảm đáng kể mức độ phụ thuộc vào kính gọng nhìn xa. Phẫu thuật viên kiểm soát tốt trục khúc xạ, bảo toàn tối đa cấu trúc sinh học của nhãn cầu.
1.1. Cơ chế quang học của tật loạn thị giác mạc
Loạn thị là tật khúc xạ quang học phổ biến. Các tia sáng song song đi vào mắt không hội tụ tại một điểm duy nhất trên võng mạc. Hệ thống quang học tạo thành hai tiêu tuyến vuông góc trong không gian. Khoảng cách giữa hai tiêu tuyến này xác định mức độ loạn thị. Hình dạng quang học đặc trưng này gọi là chóp Sturm.
Giác mạc là thành phần chính tạo nên độ cong khúc xạ của mắt. Độ cong không đều giữa các kinh tuyến giác mạc dẫn đến hiện tượng tán xạ ánh sáng. Thể thủy tinh cũng tham gia tạo nên loạn thị toàn phần của nhãn cầu. Tuy nhiên, sau phẫu thuật lấy thể thủy tinh, giác mạc trở thành yếu tố quyết định độ loạn thị còn lại. Việc xác định đúng trục loạn thị giác mạc là chìa khóa để đạt thị lực tối đa.
1.2. Hạn chế của các đường rạch giác mạc truyền thống
Các phương pháp rạch giác mạc từng được ứng dụng rộng rãi nhằm giảm độ cong kinh tuyến dốc. Kỹ thuật bao gồm rạch giảm căng vùng rìa hoặc rạch trên kinh tuyến cong. Mặc dù dễ thực hiện, các vết rạch này mang lại độ chính xác hạn chế. Hiệu quả điều chỉnh không ổn định và khó tiên đoán kết quả khúc xạ lâu dài.
Ngoài ra, vết rạch sâu trên bề mặt làm suy yếu cấu trúc giác mạc. Mắt có nguy cơ cao bị biến chứng sẹo biểu mô, khô mắt kéo dài hoặc nhiễm trùng vết mổ. Đối với loạn thị trên 1.5 Diop, phương pháp rạch gần như không thể triệt tiêu hết độ loạn. Do đó, thấu kính nội nhãn toric (Toric IOL) dần thay thế hoàn toàn kỹ thuật này trong phẫu thuật hiện đại.
II. Đo bản đồ giác mạc Pentacam tính công suất toric IOL
Khảo sát bề mặt khúc xạ trước mổ đóng vai trò then chốt khi điều trị loạn thị. Thiết bị đo bản đồ giác mạc Pentacam sử dụng camera Scheimpflug xoay 360 độ. Hệ thống cung cấp hình ảnh cắt lớp chi tiết từ mặt trước đến mặt sau giác mạc. Nhờ đó, phẫu thuật viên đánh giá chính xác tính chất loạn thị đều hay bất thường.
Độ chính xác của dữ liệu Pentacam hỗ trợ đắc lực cho quy trình tính công suất kính Toric. Máy phân tích độ cong giác mạc thực tế và phát hiện sớm các bệnh lý giác mạc tiềm ẩn như giác mạc chóp. Kết quả đo đạc chuẩn xác giúp hạn chế tối đa sai số khúc xạ, tạo nền tảng vững chắc cho phẫu thuật phaco thành công.
2.1. Phân tích giác mạc mặt sau bằng hệ thống Pentacam
Mặt sau giác mạc đóng góp một phần quan trọng vào tổng công suất loạn thị của mắt. Nhiều phương pháp đo truyền thống thường bỏ qua khúc xạ mặt sau. Điều này gây ra sai lệch đáng kể khi chọn kính toric cho bệnh nhân. Pentacam đo lường trực tiếp độ cong mặt sau một cách độc lập và chính xác.
Dữ liệu mặt sau giúp phẫu thuật viên tránh hiện tượng chỉnh thiếu hoặc chỉnh quá mức loạn thị. Loạn thị mặt sau thường có xu hướng ngược trục so với mặt trước. Khi tính toán đầy đủ cả hai bề mặt, độ chính xác của khúc xạ đạt mức tối ưu. Mắt sau phẫu thuật duy trì thị giác sắc nét và giảm thiểu quang sai bậc cao.
2.2. Đánh giá tính chất loạn thị đều trước phẫu thuật
Kính toric chỉ phát huy hiệu quả tối đa trên những mắt có loạn thị giác mạc đều. Bản đồ Pentacam hiển thị rõ nét trục loạn thị đối xứng dạng hình cánh bướm. Phẫu thuật viên dễ dàng phân biệt giữa loạn thị xuôi, loạn thị ngược và loạn thị chéo.
Nếu phát hiện loạn thị bất đối xứng hoặc giác mạc biến dạng, chỉ định đặt kính toric cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Đo bản đồ giác mạc Pentacam giúp loại trừ các trường hợp sẹo giác mạc hoặc thoái hóa bề mặt. Sự sàng lọc cẩn thận này bảo đảm kết quả điều chỉnh tật khúc xạ đạt độ chuẩn xác cao nhất.
III. Ứng dụng công thức Barrett Toric Calculator chuẩn xác
Tính toán công suất thấu kính là bước chuẩn bị quan trọng hàng đầu trong phẫu thuật khúc xạ. Công thức Barrett Toric Calculator hiện được công nhận là một trong những công cụ tính toán chính xác nhất. Công thức này tích hợp mô hình lý thuyết mắt hoàn chỉnh và tính toán tự động tác động của giác mạc mặt sau.
Phần mềm trực tuyến cho phép nhập liệu nhiều thông số sinh trắc học mắt. Hệ thống đưa ra gợi ý chính xác về mẫu kính, công suất trụ cần đặt và trục định vị tối ưu trong bao thể thủy tinh. Nhờ thuật toán thông minh, công thức giúp giảm thiểu sai số dự báo và nâng cao chất lượng thị giác hậu phẫu.
3.1. Tính toán loạn thị thực tế và khúc xạ mặt sau
Công thức Barrett Toric Calculator sử dụng thuật toán dự đoán loạn thị giác mạc thực tế dựa trên nguyên lý quang học nâng cao. Thay vì giả định giác mạc có tỷ lệ cố định, công thức phân tích tương quan sinh trắc học riêng biệt của từng cá nhân.
Cách tiếp cận này giải quyết triệt để sự khác biệt giữa khúc xạ mặt trước và mặt sau giác mạc. Kết quả tính công suất kính Toric đạt độ tương thích hoàn hảo với giải phẫu mắt. Phẫu thuật viên tự tin lựa chọn đúng thông số trụ của thấu kính nội nhãn toric (Toric IOL), mang lại thị lực nhìn xa không kính vượt trội.
3.2. Tối ưu hóa trục đặt kính và vị trí vết mổ phaco
Vết rạch trong phẫu thuật phaco luôn tạo ra một lượng loạn thị nhất định do phẫu thuật gây ra (SIA). Công thức Barrett Toric Calculator cho phép đưa thông số SIA cá nhân hóa vào phương trình tính toán.
Hệ thống sẽ tự động bù trừ góc lệch và xác định chính xác trục đặt thấu kính tối ưu nhất. Quy trình này triệt tiêu tương tác bất lợi giữa vết mổ và trục loạn thị tự nhiên. Vị trí đặt kính được mô phỏng chi tiết, hỗ trợ phẫu thuật viên thao tác nhanh chóng và chuẩn xác trong phòng mổ.
IV. Đánh giá độ ổn định xoay trục thấu kính sau phẫu thuật
Hiệu quả điều trị loạn thị phụ thuộc chặt chẽ vào vị trí cố định của thấu kính trong bao. Độ ổn định xoay trục thấu kính là tiêu chuẩn vàng để đánh giá chất lượng của kính nội nhãn toric. Nếu kính bị xoay lệch trục sau phẫu thuật, công suất điều chỉnh loạn thị sẽ giảm đáng kể.
Theo nguyên lý quang học, khi thấu kính xoay lệch 1 độ, mắt mất khoảng 3% hiệu quả triệt tiêu loạn thị. Khi thấu kính xoay lệch quá 30 độ, loạn thị có thể tăng nặng hơn so với trước mổ. Các thiết kế kính hiện đại với chất liệu acrylic kỵ nước và quai kính đàn hồi tốt giúp cố định vững chắc thấu kính trong túi bao thể thủy tinh.
4.1. Kỹ thuật đánh dấu trục và định vị thấu kính trong mổ
Để bảo đảm thấu kính nằm đúng vị trí, quy trình đánh dấu trục giác mạc trước mổ cực kỳ quan trọng. Thao tác đánh dấu thực hiện khi bệnh nhân ở tư thế ngồi thẳng nhằm triệt tiêu hiện tượng xoay nhãn cầu khi nằm.
Trong quá trình phẫu thuật phaco, phẫu thuật viên sử dụng thước đo góc chuyên dụng để xác định kinh tuyến mục tiêu. Thấu kính nội nhãn toric (Toric IOL) được bơm vào tiền phòng và xoay nhẹ nhàng đến đúng điểm đánh dấu. Rửa sạch chất nhầy hoàn toàn ở mặt sau kính giúp thấu kính dính chặt vào bao sau, chống lại sự xoay trục sớm.
4.2. Theo dõi và xử trí tình trạng xoay trục hậu phẫu
Khám lại bằng đèn khe sau mổ cho phép kiểm tra chính xác độ ổn định xoay trục thấu kính. Đa số sự dịch chuyển trục diễn ra trong 24 giờ đầu khi bao thể thủy tinh chưa co rút ôm sát kính.
Nếu thấu kính xoay lệch trên 10 độ gây giảm thị lực, phẫu thuật viên có thể tiến hành can thiệp xoay lại kính về đúng trục. Thời điểm can thiệp lý tưởng nhất là trong vòng 1 đến 2 tuần đầu sau mổ. Sau giai đoạn này, bao thể thủy tinh xơ dính cố định sẽ giữ vững thấu kính suốt đời.
V. Kiểm soát loạn thị tồn dư sau mổ phẫu thuật phaco mắt
Mục tiêu tối thượng của phẫu thuật phaco kết hợp đặt kính toric là đạt thị lực tối đa mà không cần kính hỗ trợ. Loạn thị tồn dư sau mổ là chỉ số phản ánh trực tiếp độ chính xác của toàn bộ quy trình điều trị. Các nghiên cứu lâm sàng ghi nhận trên 80% mắt đặt kính toric đạt độ loạn thị tồn dư dưới 0.5 Diop.
Kết quả thị giác sau phẫu thuật duy trì ổn định lâu dài. Mắt nhìn rõ nét cả trong điều kiện ánh sáng yếu, giảm thiểu hiện tượng tán xạ và chói lóa ban đêm. Bệnh nhân có thể sinh hoạt, lái xe và làm việc thoải mái mà không cần đeo thêm kính trụ điều chỉnh.
5.1. So sánh hiệu quả khúc xạ giữa kính toric và kính thường
Đặt kính nội nhãn thông thường trên mắt có loạn thị giác mạc chỉ giải quyết được vấn đề đục thể thủy tinh. Tật loạn thị vẫn tồn tại nguyên vẹn, khiến thị lực không kính sau mổ bị giới hạn rõ rệt. Bệnh nhân bắt buộc phải đeo kính gọng để bù trừ khúc xạ.
Ngược lại, kính nội nhãn toric triệt tiêu đồng thời độ cầu và độ trụ của mắt. Thị lực nhìn xa không chỉnh kính đạt mức cao vượt trội. Tỷ lệ bệnh nhân đạt thị lực 20/40 trở lên ở nhóm dùng kính toric luôn cao hơn đáng kể so với nhóm kính đơn tiêu thông thường.
5.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thị giác cho người bệnh
Kiểm soát tốt loạn thị tồn dư sau mổ mang lại sự hài lòng tối đa cho người được phẫu thuật. Quá trình thăm khám kỹ lưỡng, tính toán công suất chính xác và kỹ thuật mổ chuẩn xác là ba yếu tố quyết định thành công.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa đo bản đồ giác mạc Pentacam và công thức Barrett Toric Calculator giúp triệt tiêu hoàn toàn các sai số quang học. Phẫu thuật điều chỉnh tật khúc xạ bằng kính toric khẳng định vị thế là bước tiến vượt bậc trong nhãn khoa hiện đại, mở ra chất lượng sống mới cho mọi đối tượng điều trị.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (166 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Phẫu thuật phaco ra đời nhờ phát minh vĩ đại của Kelman năm 1967 đã tạo ra một bước tiến nhảy vọt trong phẫu thuật thể thủy tinh. Nhờ có phẫu thuật phaco mà phẫu thuật thể thủy tinh ngày nay đã trở nên ngày càng hoàn hảo, hạn chế biến chứng, giảm thiểu độ loạn thị gây ra do phẫu thuật, mang lại chất lượng thị giác ngày càng tốt cho bệnh nhân. Ngày nay, những tiến bộ vượt bậc trong phẫu thuật phaco với nhiều kỹ thuật tổng hợp có thể điều chỉnh được các tật khúc xạ có sẵn trước mổ, giúp đạt được kết quả khúc xạ như mắt chính thị. Phẫu thuật thể thủy tinh (TTT) đã được coi như là một loại phẫu thuật khúc xạ với kết quả thị lực và khúc xạ sau mổ chính xác và tinh tế.
Nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới như Blasco T Chang F, Hill W…, cho thấy ở những bệnh nhân phẫu thuật TTT, tỷ lệ loạn thị giác mạc (GM) ≥ 1 chiếm từ 25% - 30%. Nếu không được chẩn đoán và điều chỉnh loạn thị mà chỉ phẫu thuật đặt kính nội nhãn thông thường thì sẽ có một số lớn bệnh nhân còn tồn dư loạn thị, sau phẫu thuật bệnh nhân vẫn thấy nhìn mờ nhòe, lóa mắt nhức mỏi mắt…[1], [2], [3]. Để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thị giác và giảm phụ thuộc vào kính đeo sau phẫu thuật TTT, ngoài việc phẫu thuật thay TTT bị đục, cần phải có những phương pháp điều trị tật loạn thị đi kèm. Các phương pháp sử dụng đường rạch như phẫu thuật trên kinh tuyến cong, sử dụng cặp vết phẫu thuật xuyên đối xứng, phẫu thuật rạch giảm căng vùng rìa GM … có thể điều trị được loạn thị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình nhưng có những nhược điểm là điều chỉnh kém chính xác, hiệu quả không cao hoặc có nhiều tác dụng phụ do tác động xâm lấn nhiều đến cấu trúc bề mặt giác [4], [5], [6].
Phương pháp sử dụng các loại kính nội nhãn toric là một phương pháp có nhiều ưu điểm: chính xác, có thể điều trị được độ loạn thị cao, tiên 2 đoán được kết quả phẫu thuật và ít gây ra các tác dụng phụ cũng như biến chứng trong và sau phẫu thuật. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric cho kết quả thị lực (TL) cao sau phẫu thuật, độ loạn thị tồn dư thấp, chất lượng thị giác tốt và giảm khả năng phụ thuộc vào kính đeo. Nghiên cứu của các tác giả Bauer, Holland, Alio JL… cho thấy có từ 90 – 95% đạt TL ≥ 20/40, loạn thị tồn dư sau phẫu thuật ≤ 0,5 D chiếm tới 71% đến 81% [7], [8], [9]. Ở Việt Nam, số lượng bệnh nhân phẫu thuật phaco điều trị đục TTT là rất nhiều, tuy nhiên các nghiên cứu điều chỉnh loạn thị phối hợp trong phẫu thuật phaco còn hạn chế và chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về phương pháp điều chỉnh loạn thị GM bằng kính nội nhãn toric.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn toric điều trị đục TTT có kèm theo loạn thị giác mạc. So sánh kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn toric và kính nội nhãn thông thường trong điều trị đục TTT có kèm theo loạn thị giác mạc. 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1.
Loạn thị giác mạc 1. Khái niệm loạn thị [10], [11] Loạn thị là một tật khúc xạ xảy ra khi các tia từ một nguồn điểm ở xa không được hội tụ vào một điểm đơn bởi quang hệ của mắt Hệ quang học của loạn thị được xem là một hệ thống gồm 2 kính trụ có công suất khác nhau, được ghép chồng lên nhau. Ảnh của một điểm qua hệ thống thấu kính này sẽ không còn là một điểm mà trở thành hai tiêu tuyến vuông góc với nhau cách nhau một khoảng đã định trong không gian ba chiều. Mỗi tiêu tuyến sẽ vuông góc với kinh tuyến loạn thị tạo ra nó.
Tiêu tuyến trước tạo bởi kinh tuyến có công suất hội tụ cao nhất, tiêu tuyến sau tạo bởi kinh tuyến có công suất hội tụ thấp nhất. Chóp ánh sáng dựa trên hai đường tiêu này còn được gọi là chóp Sturm, trong đó ở khoảng giữa hai tiêu tuyến là một mặt cắt hẹp nhất gọi là vòng ít mờ nhất. Khoảng cách giữa hai tiêu tuyến biểu hiện mức độ loạn thị. Khoảng cách càng lớn thì độ loạn thị càng cao.
Chóp sturm (Nguồn: Kohnen T (2008)) [12] F1: đường tiêu trước; F2: đường tiêu sau; S: vòng mờ ít nhất. Loạn thị toàn phần nhãn cầu là tổng hợp của tất cả các loạn thị gây ra 4 bởi các bộ phận cấu thành của quang hệ mắt. Nhìn chung có hai nguồn gây loạn thị chính là GM và TTT, trong đó GM đóng vai trò quan trọng nhất. Sự điều tiết của TTT hoặc những biến đổi trong cấu trúc của TTT như đục TTT sẽ gây ra ảnh hưởng nhất định đến loạn thị tổng thể của mắt [13].
Một số tác giả cho rằng sự xơ hóa trong buồng dịch kính hoặc những giãn lồi của cực sau không đều cũng đóng góp một phần vào cơ chế gây nên loạn thị, tuy nhiên không nhiều [14]. Mỗi yếu tốgây nên một phần loạn thị, có thể là loạn thị đều hoặc không đều. Trong một số trường hợp tác động của bề mặt khúc xạ này làm giảm tác động của bề mặt khác, và tổng hợp của toàn bộ các yếu tố như thế tạo nên loạn thị tổng hợp của con mắt. Trên những mắt đã phẫu thuật thay thể thủy tinh, yếu tố gây ra loạn thị của thể thủy tinh không còn, thay vào đó là những ảnh hưởng của kính nội nhãn đối với loạn thị tổng thể của mắt.
Mặc dù sự nghiêng lệch của kính nội nhãn có thể gây ra loạn thị nhưng rất nhỏ. Tác giả Baumeister M và cộng sự đo độ nghiêng và độ lệch tâm của những mắt đặt kính nội nhãn sau đó phân tích tương quan giữa mức độ lệch tâm và độ nghiêng của kính nội nhãn tới các giá trị của quang sai thấy rằng sự nghiêng lệch này không ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến các giá trị phân tích của quang sai nhãn cầu. Do vậy trên những mắt đã mổ thay thể thủy tinh, yếu tố loạn thị giác mạc có thể coi như là yếu tố duy nhất ảnh gây nên loạn thị của mắt [15]. Loạn thị giác mạc Giác mạc giữ một vị trí quan trọng trong quang hệ của mắt và quy định phần lớn công suất khúc xạ của mắt.
Mặt trước GM có công suất khúc xạ khoảng 49 D. Mặt sau làm giảm bớt đi khoảng 6 D, làm công suất tổng thể của GM trung bình còn khoảng 43 D, chiếm khoảng 3/4 công suất khúc xạ 5 của toàn bộ hệ thống. Một sự thay đổi nhỏ trong bán kính cong bề mặt GM cũng gây nên thay đổi lớn đối với lực khúc xạ của GM. Bán kính cong của GM theo chiều ngang khoảng 7,8 mm và theo chiều dọc 7,7 mm nên tạo ra một độ loạn thị thuận sinh lý khoảng 0,5 D.
Loạn thị thực sự xảy ra khi bán kính cong của GM ở các kinh tuyến chênh nhau đủ lớn và GM có hai hướng kinh tuyến chính vuông góc với nhau: Một kinh tuyến có công suất tối đa (bán kính cong nhỏ nhất) và một kinh tuyến có công suất tối thiểu (bán kính cong lớn nhất). Loạn thị GM là nguyên nhân chính gây nên loạn thị của mắt. Tỷ lệ loạn thị giác mạc Từ năm 1922, Cavara đã có một thống kê trên số lượng lớn dân chúng, tỷ lệ mắt có loạn thị GM > 1 D là 34,63%, trong đó có tới 9,23% mắt loạn thị GM > 2 D. Theo nghiên cứu của Hoffmann PC trên 15448 bệnh nhân mổ đục TTT, có 8% mắt có loạn thị > 2 D và 2,6% mắt có loạn thị > 3 D [16].
Tác giả Blasco T tổng hợp trên 4540 mắt mổ phaco vào năm 2009, có 22,2% có loạn thị > 1,25 D [1]. Theo nghiên cứu của Hill W có tới 28% loạn thị > 1 D; 14% loạn thị > 1,5 D; từ 2 - < 3 D chiếm 5,44%; 3 - < 4 D chiếm 1,66%, từ 4 - < 5 D chiếm 0,56%, từ 5 - < 6 D chiếm 0,25%, loạn thị ≥ 6 D chỉ chiếm 0,18% [17]. Như vậy theo nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, tỷ lệ loạn thị GM nói chung và loạn thị GM ở các bệnh nhân đến phẫu thuật thay TTT nhân tạo khá cao, chiếm từ 25 – 35%. Phân loại loạn thị giác mạc [10], [11], [18], [19] Loạn thị GM được phân ra hai hình thái loạn thị chính là loạn thị đều và loạn thị không đều.
Loạn thị đều GM bị loạn thị đều được ví như bề mặt cong của quả bóng bầu dục. Về mặt lý thuyết, gọi là loạn thị đều khi công suất khúc xạ thay đổi lần lượt từ kinh tuyến này cho tới kinh tuyến khác và tại mỗi điểm trên kinh tuyến đối xứng qua đồng tử thì đều có độ cong tương tự nhau, hay là có mức độ loạn thị bằng nhau. Hai kinh tuyến có công suất khúc xạ cao nhất và thấp nhất vuông góc với nhau. Khi chụp bản đồ GM, loạn thị đều biểu hiện với hình nơ cân xứng với hai cánh nơ tương xứng nhau về kích thước, nằm trên cùng một trục.
Công suất tại vùng 5mm có thể chênh lệch nhau, thường là cánh nơ phía dưới có công suất cao hơn nhưng không vượt quá 1,5D. Trong một số trường hợp nơ bên trên có công suất cao hơn nhưng không vượt quá 2,5D. Loạn thị thuận Loạn thị ngược Loạn thị chéo Hình 1. Bản đồ GM của các loại loạn thị đều Nguồn: https://www.com/issues/2009/february- 2009/perfect-the-football-fit Chỉ có các loại loạn thị đều mới có thể điều chỉnh bằng các loại kính nội nhãn toric.
Phân loại loạn thị đều: Dựa theo vị trí của các kinh tuyến chính của GM, chia ra các loại 7 o Loạn thị thuận: kinh tuyến dọc có độ cong hơn kinh tuyến ngang, độ cong lớn nhất nằm trong khoảng 75o– 105o o Loạn thị ngược: kinh tuyến ngang có độ cong lớn hơn kinh tuyến dọc, độ cong lớn nằm trong khoảng 345o – 15o o Loạn thị chéo: kinh tuyến có độ công lớn nằm trong khoảng 15o-75o Hình 1. Các loại loạn thị đều Nguồn: Koshy J (2010)[20] Vai trò của mặt trước và mặt sau GM Mặt trước GM đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra lực khúc xạ của mắt, tạo ra công suất khúc xạ khoảng 49 D.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/noi-khoa/nghien-cuu-dieu-chinh-loan-thi-bang-kinh-noi-nhan-toric-trong-phau-thuat-phaco
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco mang lại hiệu quả cao, cải thiện thị lực rõ rệt cho bệnh nhân.
Luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" thuộc chuyên ngành Nhãn khoa. Danh mục: Nội Khoa.
Luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" có 166 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.