Luận án: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút mạch

Nút mạch tuyến tiền liệt là kỹ thuật điều trị hiệu quả, giảm triệu chứng nhanh chóng. Đặc điểm, quy trình và kết quả lâm sàng được phân tích chi tiết.

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Số trang

151

Thời gian đọc

23 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tổng quan nút mạch tuyến tiền liệt và bệnh u xơ BPH
Số trang:
151 trang
Chuyên ngành:
Y học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tổng quan nút mạch tuyến tiền liệt và bệnh u xơ BPH

Nút mạch tuyến tiền liệt là giải pháp xâm lấn tối thiểu hàng đầu hiện nay. Bệnh u xơ tuyến tiền liệt ảnh hưởng lớn đến cuộc sống nam giới lớn tuổi. Khối u phát triển gây chèn ép cổ bàng quang và niệu đạo. Lưu thông nước tiểu bị cản trở nghiêm trọng. Nhiều biến chứng xuất hiện nếu không can thiệp kịp thời. Kỹ thuật nút mạch giúp triệt tiêu nguồn máu nuôi khối phì đại. Mô u xơ sẽ thiếu máu cục bộ, hoại tử vô trùng và teo nhỏ dần. Phương pháp điều trị này mở ra hướng đi mới hiệu quả và an toàn. Bệnh nhân không cần trải qua phẫu thuật mở đau đớn.

1.1. Đặc điểm phì đại lành tính tiền liệt tuyến BPH

Phì đại lành tính tiền liệt tuyến (BPH) là bệnh lý phổ biến ở nam giới từ 50 tuổi trở lên. Tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh theo tuổi tác. Bệnh hình thành do tăng sinh các tế bào biểu mô và mô đệm ở vùng chuyển tiếp. Tuyến tiền liệt tăng kích thước chèn ép trực tiếp lên niệu đạo và đáy bàng quang. Người bệnh thường đối mặt với hội chứng tắc nghẽn đường tiểu dưới. Các biểu hiện điển hình gồm tiểu khó, tiểu ngắt quãng, tiểu đêm nhiều lần và tia tiểu yếu. Tình trạng ứ đọng nước tiểu kéo dài làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu. Một số trường hợp tiến triển thành sỏi bàng quang, ứ nước thận và suy thận mạn tính.

1.2. Cơ chế tắc mạch động mạch tuyến tiền liệt giảm sinh

Kỹ thuật tắc mạch động mạch tuyến tiền liệt giải quyết căn nguyên cấp máu cho khối u. Tuyến tiền liệt nhận máu chủ yếu từ các nhánh của động mạch chậu trong. Can thiệp viên luồn vi ống thông chọn lọc vào từng nhánh động mạch nuôi tuyến. Vật liệu tắc mạch được bơm trực tiếp để chặn hoàn toàn dòng máu. Các tế bào tăng sinh bị thiếu hụt oxy và dưỡng chất. Quá trình hoại tử vô trùng diễn ra nhanh chóng sau can thiệp. Toàn bộ thể tích u xơ co nhỏ đáng kể sau vài tuần đến vài tháng. Sự chèn ép lên niệu đạo được giải phóng hoàn toàn. Đường tiểu thông thoáng trở lại tự nhiên.

II. Chỉ định can thiệp nội mạch tuyến tiền liệt chuẩn y khoa

Việc lựa chọn phương pháp can thiệp đòi hỏi quy trình thăm khám và chẩn đoán toàn diện. Can thiệp nội mạch tuyến tiền liệt phù hợp cho nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau. Kỹ thuật này đặc biệt ưu tiên người cao tuổi có nhiều bệnh lý nền kết hợp. Khám lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh giúp định lượng chính xác kích thước tuyến. Đánh giá mức độ rối loạn tiểu tiện là cơ sở quyết định can thiệp. Bác sĩ chuyên khoa đưa ra phác đồ cá thể hóa cho từng trường hợp. Kết quả mang lại sự an toàn cao nhất trong quá trình điều trị.

2.1. Đối tượng phù hợp can thiệp nội mạch tuyến tiền liệt

Chỉ định can thiệp nội mạch tuyến tiền liệt áp dụng cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Những người điều trị nội khoa thất bại hoặc gặp tác dụng phụ của thuốc là đối tượng ưu tiên. Bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao do tuổi già, bệnh tim mạch hoặc rối loạn đông máu cũng được chỉ định. Phương pháp thích hợp cho người có tâm lý e ngại phẫu thuật nội soi truyền thống. Bệnh nhân muốn duy trì chức năng tình dục trọn vẹn sau điều trị tìm đến nút mạch như một giải pháp tối ưu. Trường hợp bí tiểu cấp phải đặt ống thông bàng quang lưu cũng đạt kết quả phục hồi tốt.

2.2. Chẩn đoán tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt chuẩn

Quy trình chẩn đoán tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt đòi hỏi sự phối hợp cận lâm sàng chặt chẽ. Siêu âm ổ bụng và siêu âm qua trực tràng giúp đo kích thước tuyến ban đầu. Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt PSA máu giúp tầm soát nguy cơ ác tính. Chụp cộng hưởng từ từ lực cao 1.5 Tesla trở lên đóng vai trò quyết định. Chuỗi xung cộng hưởng từ khảo sát chi tiết giải phẫu phân vùng tuyến. Hình ảnh MRI phân biệt rõ ràng u xơ lành tính và tổn thương ung thư. Đồng thời, kỹ thuật viên dựng cây mạch máu chậu hông để lập kế hoạch can thiệp mạch chính xác.

III. Quy trình phương pháp PAE bằng hạt vi cầu tắc mạch

Phương pháp PAE được triển khai trong phòng can thiệp mạch kỹ thuật số xóa nền DSA hiện đại. Toàn bộ thủ thuật diễn ra qua một vết chọc kim rất nhỏ ở động mạch đùi hoặc động mạch quay. Bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn và không cần gây mê toàn thân. Bác sĩ sử dụng các thiết bị định vị tinh vi để dẫn đường vi ống thông. Vật liệu tắc mạch được đưa vào vị trí đích với độ chính xác tuyệt đối. Thời gian thực hiện can thiệp thường kéo dài từ 60 đến 90 phút. Thủ thuật diễn ra nhẹ nhàng, an toàn và ít gây đau đớn.

3.1. Các bước thực hiện phương pháp PAE qua ống thông

Các bước tiến hành phương pháp PAE bắt đầu bằng gây tê tại chỗ vùng chọc mạch. Bác sĩ mở đường vào động mạch đùi chung hoặc động mạch quay cánh tay. Ống thông dẫn đường được đưa vào động mạch chậu trong dưới hướng dẫn của màn hình huỳnh quang. Chụp mạch số hóa xóa nền DSA giúp xác định chính xác các nhánh động mạch cấp máu cho tuyến tiền liệt. Bác sĩ luồn vi ống thông siêu nhỏ vào sâu trong lòng mạch nuôi u. Thuốc cản quang được bơm để kiểm tra lưu lượng tuần hoàn. Khi xác định đúng vị trí và không có luồng thông nguy hiểm, quá trình bơm tắc mạch bắt đầu.

3.2. Vai trò của hạt vi cầu tắc mạch trong điều trị

Hạt vi cầu tắc mạch là vật liệu can thiệp chuyên dụng trong thủ thuật nút mạch. Kích thước hạt vi cầu thường dao động từ 100 đến 500 micromet tùy phác đồ. Hạt vi cầu có đặc tính tương thích sinh học cao và bề mặt trơn nhẵn. Chúng được pha trộn đồng đều với thuốc cản quang trước khi bơm. Khi đi vào mạng lưới vi mạch tuyến tiền liệt, các hạt lắng đọng và bít tắc hoàn toàn mao mạch nuôi u. Hạt vi cầu giữ nguyên vị trí vĩnh viễn, không gây phản ứng viêm quá mức. Dòng máu nuôi khối phì đại bị chặn đứng hoàn toàn, tạo điều kiện cho mô u thoái triển.

IV. Đánh giá chỉ số IPSS và lưu lượng dòng tiểu đỉnh Qmax

Hiệu quả sau can thiệp nút mạch được lượng hóa thông qua các thang điểm và thông số niệu động học chuẩn mực. Các chỉ số này phản ánh khách quan mức độ thông thoáng của đường tiểu. Bệnh nhân được tái khám định kỳ sau một tháng, ba tháng, sáu tháng và một năm. Đa số trường hợp ghi nhận sự cải thiện rõ rệt ngay từ tháng đầu tiên. Triệu chứng tiểu tiện khó giảm dần theo thời gian. Chất lượng giấc ngủ và sinh hoạt hàng ngày được nâng cao đáng kể. Sự hài lòng của người bệnh là thước đo thành công then chốt.

4.1. Cải thiện lâm sàng qua theo dõi chỉ số IPSS định kỳ

Bác sĩ theo dõi lâm sàng bằng cách đánh giá chỉ số IPSS trước và sau can thiệp. Bảng điểm IPSS chấm điểm mức độ tắc nghẽn và triệu chứng kích thích đường tiểu. Trước điều trị, bệnh nhân thường có điểm IPSS cao từ 18 đến 35 điểm. Sau nút mạch từ 1 đến 3 tháng, điểm IPSS trung bình giảm từ 10 đến 15 điểm. Tình trạng tiểu đêm giảm từ 4-5 lần xuống còn 1-2 lần mỗi đêm. Bệnh nhân không còn cảm giác tiểu buốt, tiểu rắt hay tiểu không hết bãi. Chỉ số chất lượng cuộc sống QoL liên quan đến tiểu tiện cải thiện tích cực, giúp người bệnh tự tin hòa nhập cuộc sống.

4.2. Phục hồi lưu lượng dòng tiểu đỉnh Qmax sau thủ thuật

Lưu lượng dòng tiểu đỉnh Qmax là thông số niệu dòng đồ quan trọng đánh giá chức năng tống xuất nước tiểu. Trước can thiệp, giá trị Qmax thường suy giảm mạnh dưới 10 ml/giây do niệu đạo bị bóp nghẹt. Sau khi khối u teo nhỏ nhờ nút mạch, tốc độ dòng tiểu tăng vọt. Chỉ số Qmax trung bình sau điều trị thường đạt trên 15 đến 20 ml/giây. Thời gian đi tiểu rút ngắn, dòng nước tiểu mạnh và liên tục. Lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang sau đi tiểu giảm về mức an toàn dưới 30 ml. Bàng quang hồi phục khả năng co bóp tự nhiên mà không cần gắng sức.

V. Ưu điểm nổi bật của nút mạch tuyến tiền liệt hiện đại

Nút mạch tuyến tiền liệt sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội so với các can thiệp ngoại khoa truyền thống. Đây là xu hướng điều trị ít xâm lấn được y học hiện đại khuyến nghị. Thủ thuật không làm rách bao tuyến và không gây tổn thương niệu đạo. Nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng hậu phẫu được hạn chế ở mức tối thiểu. Người bệnh không phải chịu đựng các cơn đau kéo dài sau mổ. Thời gian nằm viện ngắn giúp tiết kiệm chi phí điều trị và giảm tải bệnh viện. Người bệnh nhanh chóng trở lại nhịp sống lao động thường nhật.

5.1. Xâm lấn tối thiểu và rút ngắn thời gian phục hồi

Tính chất xâm lấn tối thiểu giúp phương pháp nút mạch nổi bật hơn hẳn phẫu thuật cắt đốt nội soi. Toàn bộ quy trình chỉ để lại một vết chích kim nhỏ dưới 2 mm trên da. Vết thương này liền sẹo hoàn toàn chỉ sau vài ngày mà không để lại vết mổ. Bệnh nhân hầu như không mất máu trong suốt quá trình can thiệp. Thời gian nằm viện trung bình chỉ từ 24 đến 48 giờ sau thủ thuật. Nhiều trường hợp có thể xuất viện ngay trong ngày nếu sức khỏe ổn định. Khả năng vận động và đi lại nhẹ nhàng được hồi phục ngay sau vài giờ nghỉ ngơi.

5.2. Bảo tồn tối đa chức năng sinh lý và hạn chế tai biến

Bảo tồn nguyên vẹn chức năng sinh lý nam giới là ưu thế đặc biệt của nút mạch tuyến tiền liệt. Phẫu thuật nội soi kinh điển thường mang nguy cơ xuất tinh ngược dòng lên đến 70-80%. Nút mạch không can thiệp trực tiếp vào cấu trúc giải phẫu cổ bàng quang hay thần kinh cương dương. Vì vậy, phản xạ phóng tinh xuôi dòng và chức năng cương dương được duy trì gần như tuyệt đối. Tỷ lệ biến chứng nặng như hẹp niệu đạo hay tiểu không tự chủ là cực kỳ hiếm gặp. Bệnh nhân cao tuổi yên tâm điều trị mà không lo ngại ảnh hưởng chất lượng đời sống vợ chồng.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU TUYẾN TIỀN LIỆT
1.1.1. Hình thể ngoài và các tạng liên quan
1.1.2. Phân vùng tuyến tiền liệt theo McNeal
1.1.3. Giải phẫu ĐM cấp máu vùng chậu và tuyến tiền liệt
1.1.3.1. ĐM chậu trong và các nhánh
1.1.3.2. Động mạch cấp máu tuyến tiền liệt
1.1.3.3. Biến thể giải phẫu và vòng nối bàng hệ
1.2. PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
1.2.1. Định nghĩa
1.2.2. Dịch tễ học
1.2.3. Bệnh học phì đại lành tính tuyến tiền liệt
1.2.3.1. Tiến triển tự nhiên của phì đại lành tính tuyến tiền liệt
1.2.3.2. Cơ chế đáp ứng của bàng quang trong phì đại lành tính tuyến tiền liệt
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút mạch

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (151 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Phì đại lành tính tuyến tiền liệt là một bệnh phổ biến ở nam giới từ sau tuổi trung niên, đặc trƣng bởi sự tăng sinh các tế bào biểu mô tuyến, cơ trơn và tổ chức liên kết trong vùng chuyển tiếp của tuyến tiền liệt. Tỷ lệ bệnh tăng theo tuổi, có khoảng trên 50% nam giới từ 50 tuổi bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt, tỷ lệ này lên đến trên 90% ở những ngƣời 80 tuổi [61]. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của xã hội, tuổi thọ ngƣời dân ngày càng cao, tỷ lệ số ngƣời phì đại lành tính tuyến tiền liệt theo đó cũng tăng lên. Triệu chứng lâm sàng điển hình của phì đại lành tính tuyến tiền liệt thƣờng biểu hiện với các triệu chứng của hội chứng tắc nghẽn đƣờng tiểu dƣới gây ra bởi tình trạng tắc nghẽn cơ học do phì đại tuyến kèm theo những phản ứng thần kinh thích ứng.

Chính sự chèn ép của tuyến tiền liệt và những kích thích thần kinh này làm cản trở đƣờng ra của nƣớc tiểu và là nguyên nhân gây ra sỏi bàng quang, ứ nƣớc thận, làm tăng khả năng nhiễm khuẩn tiết niệu, suy giảm chức năng thận và ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân [96]. Chẩn đoán phì đại lành tính tuyến tiền liệt cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu, nƣớc tiểu và các phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh nhƣ siêu âm, cắt lớp vi tính và đặc biệt là chụp cộng hƣởng từ ở các máy từ lực mạnh từ 1 Tesla trở lên. Trên cộng hƣởng từ có thể khảo sát cả hình thái, kích thƣớc, cấu trúc và phân vùng tuyến tiền liệt, với các chuỗi xung kết hợp với tiêm thuốc đối quang có giá trị chẩn đoán rất cao trong phân biệt phì đại lành tính và ung thƣ tuyến tiền liệt. Ngoài ra có thể khảo sát di căn vùng chậu của ung thƣ tuyến tiền liệt đồng thời theo dõi sau điều trị [74].

Có nhiều phƣơng pháp để lựa chọn trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt nhƣ điều trị nội khoa, ngoại khoa, can thiệp xâm lấn tối thiểu. tùy theo giai đoạn phát triển cũng nhƣ mức độ gây rối loạn tiểu tiện. Trong các 2 phƣơng pháp điều trị thì phẫu thuật nội soi hiện đang đƣợc áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, ngày nay nhiều bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt vẫn còn tâm lý e ngại không muốn phẫu thuật do lo ngại các tác dụng phụ không mong muốn có thể xảy ra nhƣ: bí tiểu, tiểu máu, viêm đƣờng tiết niệu hay rối loạn chức năng phóng tinh mặc dù so với phẫu thuật mở truyền thống, tỉ lệ xuất hiện các tác dụng phụ nói trên hiện nay đã thấp hơn đáng kể.

Nút động mạch tuyến tiền liệt là kỹ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt đƣợc phát triển và ứng dụng trong những năm gần đây tại nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc nhƣ Mỹ, Anh, Bồ Đào Nha, Brazil,. Ngoài ra, kỹ thuật còn có nhiều ƣu điểm khác nhƣ thời gian nằm viện ngắn, tỉ lệ tai biến thấp, bảo tồn đƣợc chức năng tình dục trong khi vẫn giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng cho ngƣời bệnh. Hiệu quả của kỹ thuật này đã đƣợc chứng minh trong nhiều thử nghiệm lâm sàng [59] [110] [107]. Hiện nay tại Việt Nam cũng đã có một số trung tâm lớn triển khai nút động mạch tuyến tiền liệt nhƣ bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Trung ƣơng Quân đội 108, bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Đại học Y Hà Nội… tuy nhiên các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này còn chƣa nhiều, thời gian theo dõi sau thủ thuật còn ngắn.

Bên cạnh đó, tại Bệnh viện Hữu Nghị với đặc thù bệnh nhân nam giới, cao tuổi chiếm phần lớn, việc lựa chọn phƣơng pháp điều trị với bệnh nhân có nhiều bệnh phối hợp vẫn còn đƣợc cân nhắc. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút mạch” nhằm hai mục tiêu: 1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt được điều trị bằng phương pháp nút mạch. Đánh giá kết quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút mạch.

3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU TUYẾN TIỀN LIỆT 1. Hình thể ngoài và các tạng liên quan Mô tả kinh điển về hình ảnh đại thể của tuyến tiền liệt (TTL) là một tuyến có hình hạt dẻ, với đỉnh ở dƣới, đáy ở trên, nằm trong chậu hông bé, sau phần dƣới xƣơng mu, trƣớc bóng trực tràng, giữa cổ bàng quang và hoành niệu dục. Về hình thể ngoài, tuyến có hình nón gồm một đáy, một đỉnh và 4 mặt.

- Đáy quay lên trên, liên tiếp với cổ bàng quang. Niệu đạo đi qua tuyến ở gần bờ trƣớc của tuyến. - Đỉnh quay xuống dƣới tiếp xúc với mạc phủ cơ thắt trong niệu đạo và cơ ngang đáy chậu sâu. - Mặt sau lồi từ trên xuống dƣới, ngăn với trực tràng bởi mô liên kết lỏng lẻo và cách hậu môn khoảng 4cm.

Gần bờ trên có một chỗ lõm là nơi ống phóng tinh đi vào tuyến. - Mặt trƣớc hẹp và lồi, nằm phía sau khớp mu khoảng 2cm và ngăn cách với nó bởi mô mỡ lỏng lẻo và đám rối tĩnh mạch. Niệu đạo thoát khỏi tuyến ở mặt trƣớc tuyến ngay phía trên và phía trƣớc đỉnh tuyến. - Các mặt dƣới bên liên quan với phần trƣớc cơ nâng hậu môn.

Tuyến đƣợc cấu tạo bởi hai phần: chất cơ và nhu mô tuyến. - Chất cơ tuyến tiền liệt là một cấu trúc riêng của tuyến. Chất này gồm một lớp ngay dƣới bao tạo nên bao phủ tuyến và một lớp gồm các sợi cơ vòng bọc quanh niệu đạo TTL, liên tiếp với cơ bàng quang ở trên và niệu đạo màng ở dƣới. Ở trƣớc niệu đạo, chất cơ rất dày còn ở sau niệu đạo, chất cơ tạo nên một cấu trúc lƣới, dày nhất ở đáy tuyến và gần bàng quang sau đó trở nên lỏng lẻo dần kéo dài tới đỉnh tuyến.

4 - Nhu mô tuyến gồm nhiều nang tuyến. Các nang này đổ vào các ống nhỏ, các ống nhỏ tiếp tục hợp lại thành 12-20 ống tiết nhỏ gọi là các tiểu quản tiền liệt. Tuyến tiền liệt, ống dẫn tinh và túi tinh * Nguồn: theo Trịnh Văn Minh (2010) [6] 1. Phân vùng tuyến tiền liệt theo McNeal Cách phân vùng TTL đƣợc đồng thuận và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là phân vùng của McNeal, theo cách phân vùng này TTL đƣợc chia thành bốn vùng: ngoại biên, trung tâm, chuyển tiếp và mô đệm xơ cơ phía trƣớc [9].

Theo cách phân vùng này, niệu đạo TTL đƣợc dùng nhƣ mốc giải phẫu chính để phân biệt các vùng nói trên: phía sau niệu đạo là vùng mô tuyến, phía trƣớc là vùng xơ cơ. McNeal mô tả TTL dựa trên ba mặt phẳng: mặt phẳng đứng dọc (sagittal), mặt phẳng đứng ngang (coronal) và mặt phẳng đứng ngang chếch (oblique coronal) từ đó ông phân chia TTL thành bốn vùng: ngoại biên, trung 5 tâm, chuyển tiếp và mô đệm xơ cơ phía trƣớc sử dụng niệu đạo TTL làm mốc giải phẫu chính. Phân vùng tuyến tiền liệt theo McNeal * Nguồn: theo Skandalakis (2004) [9] - Vùng ngoại biên: chiếm khoảng 75% thể tích tuyến, vùng ngoại biên bao bọc gần toàn bộ vùng trung tâm và phần lớn của niệu đạo TTL, nói cách khác vùng này bao bọc mặt sau và mặt bên của TTL. Các tuyến của vùng này đƣợc dẫn lƣu về niệu đạo TTL.

Vùng này đƣợc cấu tạo bởi nhiều cấu trúc tuyến dạng ống nang (tubuloalveolar). Các ống tuyến dài đƣợc phân nhánh và kết thúc bởi các tuyến nang nhỏ, hình tròn, bờ nhẵn và không vách. Biểu mô tuyến là biểu mô trụ đơn, có ranh giới rõ giữa các tế bào, nhân sẫm màu và nằm sát màng đáy.Về bệnh học, hầu hết ung thƣ TTL xuất phát từ vùng ngoại biên. - Vùng trung tâm: chiếm gần 25% nhu mô tuyến là nơi ống phóng tinh đi vào và liên tiếp với phần đáy bàng quang.

Vùng trung tâm nằm liên tiếp với 6 vùng ngoại biên và cũng đƣợc cấu tạo bởi vài cấu trúc ống nang khác nhau (niêm mạc, dƣới niêm mạc, phần chính của TTL) nằm quanh niệu đạo. Các mô nang tuyến có kích thƣớc lớn và bề mặt không đều, thành nang có thể có các vách hoặc cầu nối trong lòng nang. Cấu trúc tế bào của vùng trung tâm cũng khác biệt so với vùng ngoại biên, chúng có bào tƣơng sẫm màu và có hạt bên trong, màng tế bào kém rõ ràng. Kích thƣớc các tế bào cũng thay đổi, bề mặt lòng các ống không đều và mật độ tế bào cũng lớn hơn so với vùng ngoại biên.

Nhân tế bào của vùng trung tâm lớn hơn, sẫm hơn và có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau, gần hoặc xa màng đáy. Ung thƣ hiếm khi xuất hiện ở vùng trung tâm. - Vùng chuyển tiếp: chỉ chiếm 5% nhu mô tuyến và liên quan trực tiếp đến đoạn gần của niệu đạo TTL. Khu vực mô quanh niệu đạo thuộc vùng này kéo dài tới chỗ chuyển tiếp giữa đoạn gần và đoạn xa của TTL.

Vùng chuyển tiếp có rất ít cấu trúc tuyến, các ống quanh niệu đạo, căn nguyên chính của PĐLTTTL nằm ở vùng này. Các nốt chủ yếu xuất hiện ở khu vực xung quanh hoặc bên trong cơ thắt, đặc biệt là các nốt lớn. Có khoảng 10-20% ung thƣ xuất hiện ở vùng chuyển tiếp. - Vùng mô đệm xơ cơ: không có cấu trúc mô tuyến.

Nó chiếm khoảng 1/3 thể tích mô liên tiếp với bao tuyến nhƣng nằm liên tiếp với các cơ của cổ bàng quang. Vùng này đƣợc cố định chắc chắn vào mặt trƣớc của ba vùng mô tuyến mô tả ở trên bao gồm cả vùng tuyến quanh niệu đạo. Vùng mô đệm xơ cơ đƣợc cấu tạo từ cả cơ trơn và cơ vân cũng nhƣ các sợi elastin và collagen, vùng này ít quan trọng trong các bệnh lý TTL. Giải phẫu ĐM cấp máu vùng chậu và tuyến tiền liệt 1.

ĐM chậu trong và các nhánh ĐM chậu trong phân chia thành các ngành trƣớc và ngành sau, chia các nhánh thành và nhánh tạng. Các nhánh tạng chính là ĐM thẹn trong, ĐM bàng quang trên, ĐM bàng quang dƣới, ĐM TTL và ĐM trực tràng giữa. Các 7 nhánh thành bao gồm ĐM mông trên, ĐM mông dƣới, ĐM bịt, ĐM thắt lƣng chậu và ĐM cùng bên trên và dƣới [25]. - Ngành sau ĐM chậu trong (hay ĐM mông trên) là nhánh lớn nhất của ĐM chậu trong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/noi-khoa/luan-an-nut-mach-phu-dai-tuyen-tien-liet

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nút mạch tuyến tiền liệt là kỹ thuật điều trị hiệu quả, giảm triệu chứng nhanh chóng. Đặc điểm, quy trình và kết quả lâm sàng được phân tích chi tiết.

Luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Nội Khoa.

Luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" có 151 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nút mạch tuyến tiền liệt: Đặc điểm, kết quả điều trị" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter