Luận án nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh
Luận án nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.
Năm xuất bản
Số trang
148
Thời gian đọc
23 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Viêm túi mật cấp: Tổng quan & nguy hiểm cần biết
- Số trang:
- 148 trang
- Trường:
- Trường Đại học Y Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Y học
- Tác giả:
- Trần Kiến Vũ
- Năm:
- 2016
Tóm tắt nội dung luận án
I.Viêm túi mật cấp Tổng quan nguy hiểm cần biết
Viêm túi mật cấp là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Đây là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính tại túi mật. Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Hiểu rõ về bệnh giúp phát hiện sớm, đưa ra phương án can thiệp hiệu quả. Sỏi túi mật là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng này. Các yếu tố khác như chấn thương, bỏng, hoặc phẫu thuật cũng có thể gây ra viêm túi mật cấp. Bệnh có gánh nặng y tế đáng kể trên toàn cầu.
1.1. Viêm túi mật cấp là gì và nguyên nhân phổ biến
Viêm túi mật cấp là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính tại túi mật. Nguyên nhân chính thường là sỏi túi mật. Sỏi làm tắc nghẽn ống túi mật, gây viêm. Một số trường hợp viêm túi mật cấp do chấn thương, bỏng, hoặc sau phẫu thuật. Suy đa tạng cũng có thể dẫn đến viêm túi mật cấp. Điều quan trọng là phải nhận biết sớm các triệu chứng viêm túi mật cấp để kịp thời điều trị.
1.2. Biến chứng nguy hiểm của viêm túi mật cấp tính
Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, viêm túi mật cấp có thể gây nhiều biến chứng nghiêm trọng. Các biến chứng bao gồm hoại tử túi mật, viêm mủ túi mật, và áp xe túi mật. Tình trạng thấm mật phúc mạc hoặc viêm phúc mạc mật cũng là biến chứng nguy hiểm. Những biến chứng cắt túi mật không điều trị kịp thời này đe dọa tính mạng bệnh nhân. Việc phát hiện sớm rất cần thiết.
1.3. Thống kê và gánh nặng của bệnh sỏi túi mật
Sỏi túi mật là bệnh lý phổ biến. Khoảng 10-15% người trưởng thành ở các nước phương Tây mắc sỏi túi mật. Riêng tại Mỹ, ước tính có 20 triệu người bị sỏi túi mật. Mỗi năm, có thêm khoảng một triệu ca mắc mới. Hàng năm, khoảng 700.000 trường hợp cần cắt túi mật. Cắt túi mật nội soi chiếm 70-90% các ca phẫu thuật này. Trong số đó, 10-30% là viêm túi mật cấp. Viêm túi mật cấp là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp.
II.Cắt túi mật nội soi Giải pháp tiên tiến cho bệnh cấp
Cắt túi mật nội soi đã trở thành phương pháp điều trị viêm túi mật cấp được lựa chọn hàng đầu. Kỹ thuật này đã trải qua quá trình phát triển đáng kể, từ chỗ bị coi là chống chỉ định đến nay được khuyến nghị rộng rãi. Sự ra đời của phẫu thuật nội soi đã cách mạng hóa việc điều trị các bệnh lý túi mật. Phương pháp này mang lại nhiều ưu điểm vượt trội so với phẫu thuật mở truyền thống. Điều này cải thiện đáng kể kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
2.1. Lịch sử phát triển của phẫu thuật cắt túi mật
Trước đây, điều trị viêm túi mật cấp chủ yếu là nội khoa. Bệnh nhân dùng kháng sinh, truyền dịch, giảm đau. Sau đó, mới tiến hành mổ cắt túi mật mở. Phẫu thuật cấp cứu chỉ thực hiện khi có biến chứng như thủng túi mật, thấm mật phúc mạc, hoặc viêm phúc mạc mật. Lịch sử sỏi túi mật và viêm túi mật đã được ghi nhận từ thời cổ đại. Các phương pháp điều trị sỏi mật đã được nhắc đến từ hàng nghìn năm trước. Năm 1882, Karl Langenbuch thực hiện ca cắt túi mật mở đầu tiên trên thế giới.
2.2. Sự ra đời của phẫu thuật nội soi túi mật
Phẫu thuật cắt túi mật nội soi được Philip Mouret (Pháp) thực hiện thành công lần đầu tiên năm 1987. Kỹ thuật này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi toàn cầu. Cắt túi mật nội soi mang lại nhiều ưu điểm so với mổ mở truyền thống. Các ưu điểm bao gồm giảm đau sau mổ, tính thẩm mỹ cao. Người bệnh cũng nhanh chóng trở lại hoạt động bình thường. Đây là một bước tiến lớn trong điều trị viêm túi mật.
2.3. Cắt túi mật nội soi cho viêm túi mật cấp Từ chống chỉ định đến lựa chọn hàng đầu
Ban đầu, cắt túi mật nội soi được xem là chống chỉ định với viêm túi mật cấp. Lý do là khó khăn kỹ thuật, tỷ lệ tai biến, biến chứng cao. Tỷ lệ chuyển sang mổ mở cũng lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các phẫu thuật viên ngày càng tăng. Kỹ thuật thành thạo hơn, trang thiết bị y tế hiện đại hơn. Cắt túi mật nội soi đã được áp dụng để điều trị viêm túi mật cấp. Hiện nay, đây là phương pháp chọn lựa để điều trị viêm túi mật cấp.
III.Ưu điểm vượt trội của phẫu thuật nội soi túi mật
Phẫu thuật cắt túi mật nội soi đã chứng minh được nhiều ưu điểm vượt trội so với phương pháp mổ mở truyền thống. Những lợi ích này không chỉ về mặt y tế mà còn ảnh hưởng tích cực đến trải nghiệm của bệnh nhân. Giảm đau sau mổ, tính thẩm mỹ cao, và thời gian hồi phục nhanh chóng là những yếu tố chính giúp phương pháp này trở nên phổ biến. Hiệu quả của phẫu thuật nội soi đã được khẳng định thông qua nhiều nghiên cứu và hướng dẫn quốc tế.
3.1. Lợi ích về thẩm mỹ và giảm đau sau mổ
Phẫu thuật cắt túi mật nội soi mang lại lợi ích thẩm mỹ vượt trội. Vết mổ nhỏ hơn nhiều so với phẫu thuật mở truyền thống. Điều này giúp giảm thiểu sẹo, tăng tính thẩm mỹ cho bệnh nhân. Đau sau mổ cũng giảm đáng kể. Bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn trong giai đoạn hồi phục. Giảm đau giúp bệnh nhân vận động sớm hơn. Điều này đóng góp vào sự hồi phục sau mổ túi mật nhanh chóng.
3.2. Thời gian phục hồi nhanh chóng sớm trở lại hoạt động
Thời gian phục hồi sau cắt túi mật nội soi ngắn hơn đáng kể. Bệnh nhân có thể xuất viện sớm hơn. Khả năng trở lại các hoạt động bình thường cũng nhanh chóng. Điều này giúp giảm gánh nặng cho bệnh nhân và gia đình. Bệnh nhân có thể trở lại công việc, sinh hoạt hàng ngày sớm hơn. Hồi phục sau mổ túi mật diễn ra thuận lợi, ít biến chứng cắt túi mật liên quan đến thời gian nằm viện.
3.3. Hiệu quả đã được khẳng định toàn cầu
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định ưu việt của cắt túi mật nội soi. Phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi. Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả cao trong điều trị viêm túi mật cấp. Hội nghị Quốc tế tại Tokyo (2007, 2013) đã đưa ra hướng dẫn điều trị. Các hướng dẫn này xác nhận cắt túi mật nội soi là phương pháp ưu tiên. Điều này giúp chuẩn hóa quy trình điều trị viêm túi mật trên phạm vi toàn cầu.
IV.Chẩn đoán điều trị viêm túi mật cấp theo chuẩn quốc tế
Việc chẩn đoán và điều trị viêm túi mật cấp đã được chuẩn hóa theo các hướng dẫn quốc tế. Đặc biệt là Hướng dẫn của Tokyo, được cập nhật thường xuyên, cung cấp một khung sườn quan trọng cho các bác sĩ. Các phương pháp điều trị đã thay đổi đáng kể, từ điều trị nội khoa truyền thống đến ưu tiên phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Sự phát triển này đảm bảo bệnh nhân nhận được phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn nhất, giảm thiểu các biến chứng tiềm ẩn.
4.1. Hướng dẫn chẩn đoán viêm túi mật cấp của Tokyo
Hội nghị Quốc tế tại Tokyo đã ban hành các Hướng dẫn về tiêu chuẩn chẩn đoán viêm túi mật cấp. Các hướng dẫn này được đưa ra lần đầu vào năm 2007. Sau đó, chúng được bổ sung và chỉnh lý vào năm 2013. Hướng dẫn Tokyo đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa chẩn đoán. Việc chẩn đoán viêm túi mật cấp chính xác là nền tảng cho điều trị hiệu quả. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng cho các bác sĩ.
4.2. Phương pháp điều trị ban đầu và chuyển giao
Trước đây, điều trị nội khoa là phương pháp chính cho viêm túi mật cấp không biến chứng. Điều trị bao gồm dùng kháng sinh, truyền dịch, và giảm đau. Phẫu thuật chỉ được thực hiện sau giai đoạn cấp hoặc khi có biến chứng. Tuy nhiên, với sự phát triển của kỹ thuật, quan điểm đã thay đổi. Phẫu thuật sớm được khuyến khích trong điều trị viêm túi mật. Sự chuyển đổi này giúp giảm nguy cơ biến chứng cắt túi mật.
4.3. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi Phương pháp chọn lựa
Hiện nay, cắt túi mật nội soi được coi là phương pháp chọn lựa để điều trị viêm túi mật cấp. Điều này được khuyến nghị bởi các hướng dẫn quốc tế. Mặc dù ban đầu có những lo ngại về kỹ thuật, nhưng kinh nghiệm và trang thiết bị đã cải thiện. Phẫu thuật nội soi mang lại kết quả tốt. Điều trị viêm túi mật cấp bằng phương pháp này ngày càng phổ biến. Các trung tâm y tế lớn đều áp dụng phương pháp này.
V.Phục hồi sau cắt túi mật Chăm sóc chế độ ăn
Quá trình phục hồi sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi rất quan trọng để đảm bảo kết quả điều trị lâu dài. Bệnh nhân cần tuân thủ các hướng dẫn chăm sóc y tế và điều chỉnh chế độ ăn uống. Chăm sóc đúng cách giúp giảm thiểu biến chứng, thúc đẩy quá trình lành vết thương và giúp cơ thể thích nghi với sự thay đổi. Nắm vững các dấu hiệu cần lưu ý cũng giúp bệnh nhân chủ động hơn trong việc theo dõi sức khỏe và tìm kiếm sự hỗ trợ y tế kịp thời.
5.1. Chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi
Chăm sóc sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi cần được chú trọng. Bệnh nhân thường cảm thấy đau nhẹ tại các vết mổ. Sử dụng thuốc giảm đau theo chỉ định bác sĩ là cần thiết. Vết mổ cần được giữ sạch và khô ráo. Tránh vận động mạnh trong vài ngày đầu. Theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng như sốt, sưng đỏ vết mổ. Bệnh nhân thường được khuyến khích vận động nhẹ nhàng sớm. Điều này giúp giảm nguy cơ biến chứng cắt túi mật như tắc mạch.
5.2. Chế độ ăn uống phù hợp sau cắt túi mật
Chế độ ăn sau cắt túi mật rất quan trọng để hồi phục. Ban đầu, bệnh nhân nên ăn các thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa. Dần dần chuyển sang chế độ ăn ít chất béo, nhiều chất xơ. Tránh các thực phẩm gây đầy hơi, khó tiêu. Nên chia nhỏ bữa ăn trong ngày. Uống đủ nước là điều cần thiết. Tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để có chế độ ăn sau cắt túi mật phù hợp nhất. Điều này giúp hệ tiêu hóa thích nghi.
5.3. Các dấu hiệu cần lưu ý khi hồi phục
Trong quá trình hồi phục sau mổ túi mật, bệnh nhân cần chú ý một số dấu hiệu bất thường. Các dấu hiệu này bao gồm sốt cao, đau bụng dữ dội, vàng da, hoặc nôn mửa kéo dài. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, cần liên hệ ngay với cơ sở y tế. Việc tái khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ là rất quan trọng. Điều này giúp đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra an toàn, phát hiện sớm các biến chứng nếu có.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (148 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI TRẦN KIẾN VŨ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TÚI MẬT CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2016 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm túi mật cấp là tình trạng nhiễm khuẩn cấp ở túi mật. Nguyên nhân gây viêm túi mật cấp thƣờng do sỏi túi mật, số còn lại có thể do chấn thƣơng, bỏng, sau phẫu thuật , suy đa tạng. Viêm túi mật cấp là một cấp cứu ngoại khoa thƣờng gặp, nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời, có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng nhƣ: hoại tử, viêm mủ, áp xe túi mật, thấm mật phúc mạc, thậm chí viêm phúc mạc. Thống kê của Fabio Cesare Campani (2012) cho thấy: Khoảng 10-15% dân số trƣởng thành ở các nƣớc phƣơng Tây có sỏi túi mật.
Ở Mỹ ƣớc tính có 20 triệu ngƣời bị sỏi túi mật và hàng năm có thêm một triệu ngƣời mới mắc, trong đó khoảng 700.000 trƣờng hợp phải cắt túi mật.000 trƣờng hợp phải cắt túi mật, cắt túi mật nội soi chiếm 70-90% và khoảng 10-30% trong số này là viêm túi mật cấp [4][6].Trƣớc đây, hầu hết các bệnh nhân viêm túi mật cấp đƣợc điều trị nội khoa bằng kháng sinh, truyền dịch, giảm đau, sau đó mới mổ cắt túi mật; chỉ mổ cấp cứu các trƣờng hợp khi có biến chứng ( thủng, thấm mật phúc mạc, viêm phúc mạc mật. Cắt túi mật nội soi đƣợc Philip Mouret (Pháp) thực hiện thành công lần đầu tiên năm 1987, kỹ thuật này nhanh chóng đƣợc áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới nhờ rất nhiều ƣu việt của nó so với cắt túi mật mở truyền thống: giảm đau sau mổ, tính thẩm mỹ cao, ngƣời bệnh nhanh trở về hoạt động bình thƣờng. Cắt túi mật nội soi lúc đầu đƣợc coi là chống chỉ định đối với viêm túi mật cấp. Các lý do đƣợc đƣa ra gồm: khó khăn về kỹ thuật, tỷ lệ tai biến, biến chứng cũng nhƣ số lƣợng bệnh nhân phải chuyển MM cao.
Sau này, kinh nghiệm của các phẫu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thuật viên ngày càng nhiều, kỹ thuật thành thạo,trang thiết bị tốt hơn, cắt túi mật nội soi đã đƣợc áp dụng để điều trị viêm túi mật cấp [2],[4], [11], [12], [13]. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng cắt túi mật nội soi điều trị viem túi mật cấp. Kết quả của các thống kê đã khẳng định những ƣu việt của cắt túi mật nội soi điều trị viem túi mật cấp. Hội nghị Quốc tế tại Tokyo (2007) đã đƣa ra những Hƣớng dẫn về tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị viêm túi mật cấp [4].
Những Hƣớng dẫn này đã đƣợc bổ xung và chỉnh lý lại tại Hội nghị Quốc tế tại Tokyo ( 2013) [15]. Cho tới nay, cắt túi mật nội soi đƣợc coi là phƣơng pháp chọn lựa để điều trị viêm túi mật cấp [15]. Tại Việt Nam, đã có những nghiên cứu về ứng dụng cắt túi mật nội soi điều trị viem túi mật cấp, nhƣng chủ yếu ở các Bệnh viện Trung Ƣơng, các Trung tâm ngoại khoa lớn hoặc nghiên cứu đa Trung tâm [15],[16],[17],[18],[19],[20]. Tuy nhiên, phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp ở một số Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh chƣa nhiều, những khó khăn về trang thiết bị của phẫu thuật nội soi, thiếu nhân lực, kinh nghiệm của đội ngũ phẫu thuật viên mổ nội soi, nhân viên, bác sỹ gây mê hồi sức.ảnh hƣởng đến kết quả của cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh” nhằm các mục tiêu: 1. qu c t túi m t n i soi m t số ố. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu bệnh viêm túi mật 1.
Trên thế giới Viêm túi mật (VTM) do sỏi đƣợc biết đến từ thời cổ xƣa, vào triều đại thứ 21 của vua Ai Cập (1035- 945 B.C), nhƣng đến thế kỷ thứ 5 mới đƣợc Alexander Trallianes (Hy Lạp) mô tả. Khởi đầu, sỏi túi mật (TM) đƣợc điều trị nội khoa. Việc điều trị sỏi mật có lẽ đƣợc nhắc đến lần đầu tiên bởi các thầy lang ngƣời Nhật bản vài nghìn năm trƣớc bằng việc sử dụng mật gấu sấy khô.D) đã khuyên phải dẫn lƣu áp xe vùng DSP có lẽ là do sỏi TM gây ra. Avicena vào thế kỷ 11 là ngƣời đầu tiên mô tả chi tiết việc dẫn lƣu đƣờng rò mật.
Tài liệu đầu tiên của Gentolis de Foligno về sỏi mật viết từ thế kỷ thứ 14. Luận văn đầu tiên về vấn đề này do Sylvaticus viết năm 1314. Vater, Benevieni (1420), Vesalius (thế kỷ thứ 16) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu bệnh sỏi mật và VTM. Fabricius (1618), thực hiện lần đầu tiên việc mở TM để tán sỏi nhƣng không rõ là trên tử thi hay trên ngƣời sống.
Jean Louis Petit (Pháp, 1647- 1760) dùng ống chọc qua da lấy sỏi trong một TH TM bị viêm dính vào da bụng. Năm 1760, Morgagni đã mô tả bệnh sỏi mật và những sự thay đổi của chính ngay TM trong bệnh sỏi mật. Gembsbach (1856) cho rằng viêm TM là nguyên nhân của việc tạo thành sỏi. Quan điểm này đƣợc ủng hộ mạnh mẽ vào năm 1892 bởi Naunin và P.
Mở thông TM đƣợc John Stough Bobbs thực hiện (15/6/ 1867) ở Hi Lạp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Karl Langenbuch (Đức) [7], MM cắt bỏ TM lần đầu tiên trên thế giới 6/1882. Cắt bỏ TM lần đầu tiên ở Mỹ là vào năm 1886 bởi Justus Ohage và Ludwig Courvoisier mở ống mật chủ (OMC) lấy sỏi năm 1890 ở Thụy Sĩ. Riedel (1909) đã mô tả một TH viêm TM không do sỏi.
Bocattova (1922) đã công bố một công trình nghiên cứu về đề tài này. Năm 1987, Philipe Mouret (Pháp) lần đầu tiên thực hiện thành công CTMNS. Kỹ thuật này nhanh chóng đƣợc chấp nhận và phát triển rộng rãi trên thế giới và đã trở thành “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị bệnh lý ngoại khoa của TM [21]. Tại Việt Nam Trong vòng 3 năm (1979 – 1981), Nguyễn Song Anh và cộng sự [25] đã thông báo 40 TH VTM hoại tử.
Nghiên cứu của Đỗ Kim Sơn, Nguyễn Mạnh Cƣờng, Trần Gia Khánh [24], [26] trong những năm thập kỷ 1990 cho thấy sự gia tăng của VTM. Đối chiếu lâm sàng giải phẫu bệnh các TH cắt túi mật trong 10 năm (1990 – 1999), Nguyễn Văn Bằng [27] nhận thấy số lƣợng cắt bỏ TM tăng dần theo thời gian, tăng dần theo tuổi, chủ yếu là VTM trong đó viêm do sỏi chiếm 86%. Tại Việt Nam, CTMNS đƣợc tiến hành lần đầu tiên năm 1992 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, năm 1993 tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, rồi phát triển khá nhanh tới các trung tâm ngoại khoa khác trong cả nƣớc [16], [17], [22]. Giải phẫu túi mật, đƣờng mật có liên quan đến cắt túi mật nội soi 1.
Giải phẫu túi mật 1.1 Túi m t TM hình quả lê nằm ép sát vào mặt dƣới gan (mặt tạng) trong hố TM, tách biệt với nhu mô gan bằng một màng mỏng tổ chức liên kết, có liên quan mật thiết với bao Glisson của gan. Trong trạng thái sinh lý bình thƣờng, TM dài 6 - 8 cm, chỗ rộng nhất 4 cm, thành dày 0,3 cm, chứa khoảng 20 - 60 ml dịch mật và đƣợc chia thành 3 phần (đáy, thân, cổ), phần thân có 2 mặt (mặt trên và dƣới) [29]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giải phẫu TM và đường mật ngoài gan [29] 1.
Ống cổ túi m t Ống TM là một ống dẫn mật đi từ TM đến OMC dài từ 3- 5 cm rất hẹp, đƣờng kính ở đầu chỉ khoảng 2,5 mm và ở cuối rộng khoảng 4- 5mm. Chạy chếch xuống dƣới, sang trái và hơi ra sau, rất gần ống gan. Ở phía dƣới khi tới OGC thì chạy sát nhau một đoạn dài khoảng 2- 3mm rồi tiếp nối ở bờ phải của ống này, phía bờ trên của tá tràng tạo thành OMC.3 Mạch máu và thần kinh + Động mạch TM Là một nhánh của ĐM gan riêng (thƣờng xuất phát từ ĐM gan phải), kích thƣớc rất thay đổi, ngắn hoặc dài: lúc ngắn thì tách ở ngành phải của ĐM gan, ngay trong rốn gan, lúc dài thì tách ở ĐM gan chạy ở phía trƣớc hoặc phía sau của ống gan. Máu tĩnh mạch từ TM trở về theo hai đƣờng: qua các nhánh tĩnh mạch nhỏ đổ thẳng vào gan ở giƣờng TM và qua tĩnh mạch TM đổ vào tĩnh mạch cửa phải.
Bạch huyết đổ về các hạch nằm dọc tĩnh mạch cửa hoặc đổ về gan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Thần kinh Chi phối TM là các nhánh thần kinh xuất phát từ đám rối tạng, đi dọc theo ĐM gan, trong đó có nhánh vận động xuất phát từ dây thần kinh X. Tam giác gan mật, tam giác Calot Ống TM, ống gan chung và rãnh ngang của rốn gan tạo nên tam giác gan mật, trong tam giác này có ĐMTM chạy ngang qua. ĐMTM, ống TM và OGC tạo thành tam giác Calot (Calot mô tả từ năm 1891).
Trong PTNS cắt TM thì tam giác gan mật thƣờng hằng định và rất hữu ích cho việc xác định vùng PT. Tam giác Calot hay thay đổi hơn do những bất thƣờng của ĐMTM. Vị trí nguyên uỷ của ĐMTM trong tam giác gan mật chiếm khoảng 72%. Những biến đổi của ĐMTM trong nội soi là khoảng 22% và có một động mạch chạy dƣới ống TM là 6%.
Trong tam giác Calot có những ĐM Calot, đó là những nhánh nhỏ xuất phát từ ĐMTM, cung cấp máu cho ống TM, mặc dù không quan trọng trong cắt TM mở nhƣng những nhánh này có thể chảy máu gây khó khăn trong khi phẫu tích nội soi vùng tam giác gan mật. Bình thƣờng ĐMTM xuất phát từ ĐM gan phải trong tam giác gan mật và chạy ngay phía đầu của ống TM đến TM, rồi cho một nhánh nông và một nhánh sâu. Nhánh sâu chạy trong hố TM giữa gan và TM, nhánh nông chạy dọc theo bề mặt phúc mạc bên trái TM. Có thể nhận biết nó nhƣ một thừng căng lồi lên ở tam giác Calot và túi Hartmann khi kéo TM lên, cung cấp máu cho mặt tự do có phúc mạc phủ của TM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tam giác gan mật Hình 1. Tam giác Calot, tam giác gan mật [38] 1. Đường mật chính 1.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Kiến Vũ (2016). Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/ngoai-khoa/luan-an-nghien-cuu-ung-dung-phau-thuat-cat-tui-mat-noi-soi-trong-dieu-tri-viem
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm bảo vệ: 2016.
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Ngoại Khoa.
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" có 148 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.