Luận án TS Y học Võ Duy Long - Đánh giá kết quả PTNS ung thư dạ dày

"Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn i, ii, iii. Phân tích hiệu quả và tiên lượng bệnh nhân."

Chuyên ngành

Y học

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

156

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tổng quan ung thư dạ dày Thực trạng và thách thức tại Việt Nam

Ung thư dạ dày là một bệnh lý phổ biến tại Việt Nam. Theo khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997, tần suất mắc bệnh đạt 10.4% trên 100.000 dân. Ung thư dạ dày thuộc nhóm 10 bệnh ung thư thường gặp nhất, xếp thứ ba ở nam giới và thứ tư ở nữ giới. Thống kê của Bệnh viện K năm 2000 cho thấy bệnh đứng thứ hai ở nam giới, sau ung thư phổi, và thứ ba ở nữ giới, sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Hơn 22.000 trường hợp ung thư dạ dày mới mắc mỗi năm. Trên 14.000 trường hợp tử vong. Đây là nguyên nhân tử vong thứ tư do ung thư ở Mỹ. Phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày ở Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn tiến triển. Việc phát hiện sớm còn gặp nhiều thách thức. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị và thời gian sống còn của bệnh nhân.

1.1. Tần suất mắc ung thư dạ dày và gánh nặng bệnh tật

Ung thư dạ dày có tần suất cao tại Việt Nam. Dữ liệu từ Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện K cho thấy mức độ phổ biến của bệnh. Hàng chục nghìn trường hợp mắc mới và tử vong do ung thư dạ dày được ghi nhận mỗi năm tại Mỹ. Tần suất mắc bệnh là chỉ số quan trọng. Nó phản ánh gánh nặng bệnh tật cho hệ thống y tế. Ung thư dạ dày vẫn là mối lo ngại lớn về sức khỏe cộng đồng. Cần có giải pháp sàng lọc, phát hiện sớm hiệu quả.

1.2. Phát hiện ung thư dạ dày ở giai đoạn muộn tại Việt Nam

Đa số bệnh nhân ung thư dạ dày tại Việt Nam được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển. Chỉ khoảng 31% bệnh nhân có khối u khu trú trong thành dạ dày (giai đoạn T1, T2). Số còn lại có di căn hạch lympho hoặc di căn xa. Ví dụ, tại một nghiên cứu, chỉ 22.5% bệnh nhân được phẫu thuật triệt căn ở giai đoạn I. Giai đoạn IA chỉ chiếm 2.4%. Giai đoạn II là 17.8%, trong khi giai đoạn III chiếm tới 46.4%. Việc phát hiện muộn làm giảm đáng kể khả năng điều trị thành công. Nó cũng ảnh hưởng xấu đến thời gian sống còn của bệnh nhân. Cải thiện công tác tầm soát là cần thiết.

II. PTNS ung thư dạ dày Lịch sử lợi ích và tranh cãi hiện tại

Phẫu thuật nội soi (PTNS) đã cách mạng hóa điều trị ung thư dạ dày. Trước đây, mổ mở cắt dạ dày kèm nạo hạch lympho là phương pháp tiêu chuẩn. Phương pháp này cải thiện thời gian sống còn. Năm 1994, Kitano tại Nhật Bản lần đầu thực hiện phẫu thuật nội soi cắt dạ dày. Kỹ thuật này nhanh chóng được nhiều tác giả khác ứng dụng. Những báo cáo ban đầu về điều trị ung thư dạ dày bằng PTNS mang lại nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi tồn tại. Các vấn đề bao gồm đường cong huấn luyện, tính khả thi kỹ thuật. Khả năng nạo hạch lympho và các đặc điểm ung thư học cũng được xem xét kỹ lưỡng. So sánh PTNS với mổ mở vẫn là trọng tâm của nhiều nghiên cứu.

2.1. Sự phát triển và ứng dụng PTNS cắt dạ dày

Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày ra đời đánh dấu bước tiến lớn. Kỹ thuật này đã được chứng minh hiệu quả cho ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nhiều báo cáo riêng lẻ và phân tích gộp đều khẳng định hiệu quả tương đương mổ mở. PTNS mang lại lợi ích về mặt thẩm mỹ và hồi phục. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân trong từng báo cáo còn hạn chế. Việc mở rộng ứng dụng cần được xem xét cẩn thận.

2.2. Lợi ích PTNS so với mổ mở Giai đoạn sớm

Đối với ung thư dạ dày giai đoạn sớm, PTNS cho thấy hiệu quả tương đương mổ mở. Các phân tích gộp xác nhận điều này. PTNS có nhiều ưu điểm hơn mổ mở. Các lợi ích bao gồm ít biến chứng, giảm mất máu, hồi phục nhanh. Bệnh nhân có thể xuất viện sớm hơn. Giảm đau sau mổ là một ưu điểm nổi bật. Tuy nhiên, vẫn có tranh cãi về tính khả thi kỹ thuật. Khả năng nạo hạch lympho đầy đủ là yếu tố quan trọng. Các nghiên cứu vẫn tiếp tục đánh giá toàn diện. Đây là nền tảng cho việc chuẩn hóa chỉ định.

2.3. Vai trò PTNS ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển còn tranh cãi

Vai trò của PTNS trong ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển vẫn chưa thống nhất. Các tác giả Nhật Bản và Hàn Quốc ghi nhận nhiều lợi ích. Phân tích gộp cho thấy PTNS tương đương mổ mở về kết quả ung thư học. PTNS còn có ưu điểm về biến chứng thấp, mất máu ít, hồi phục nhanh. Ngược lại, nghiên cứu từ Châu Âu và Mỹ còn hạn chế. Cỡ mẫu thường không lớn. Đặc biệt, số bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn T4a trong các nghiên cứu này còn ít. Do đó, chỉ định PTNS cho giai đoạn tiến triển vẫn cần thêm bằng chứng khoa học vững chắc.

III. Đánh giá hiệu quả PTNS điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn

Việc đánh giá phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị ung thư dạ dày cần toàn diện. Đánh giá này bao gồm tính khả thi, độ an toàn. Đặc biệt là hiệu quả về mặt ung thư học theo từng giai đoạn bệnh. Các câu hỏi quan trọng đã được đặt ra. PTNS có phải là một phẫu thuật khó? Kỹ thuật này có đòi hỏi kỹ năng cao? Tỉ lệ thành công của PTNS ra sao? Mức độ an toàn của PTNS cũng là mối quan tâm hàng đầu. Cần xem xét tỉ lệ tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ. Tỉ lệ tử vong sớm sau mổ cũng cần được xác định rõ. Những đánh giá này giúp định hình vai trò của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày. Đồng thời, nó cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ và bệnh nhân. Đảm bảo quyết định điều trị dựa trên bằng chứng.

3.1. Tính khả thi kỹ thuật và an toàn phẫu thuật nội soi

Tính khả thi của PTNS cắt dạ dày cần được xác định. Kỹ thuật này đòi hỏi kỹ năng phẫu thuật cao. Tỉ lệ thành công của ca mổ là một chỉ số quan trọng. An toàn phẫu thuật luôn là ưu tiên hàng đầu. Tỉ lệ tai biến trong quá trình mổ cần được theo dõi. Biến chứng sau mổ, bao gồm cả biến chứng sớm và muộn, cũng phải được ghi nhận. Tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ là thước đo trực tiếp về độ an toàn. Những dữ liệu này cung cấp cái nhìn chân thực về sự an toàn của PTNS.

3.2. Hiệu quả ung thư học và thời gian sống còn sau PTNS

Hiệu quả ung thư học là yếu tố cốt lõi trong điều trị ung thư. Khả năng nạo hạch lympho đầy đủ là rất quan trọng. Số lượng hạch nạo được ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng. Tỉ lệ sống còn sau mổ cần được đánh giá theo từng giai đoạn. Bao gồm sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Thời gian sống còn 1 năm, 3 năm, 5 năm cung cấp thông tin dài hạn. Đánh giá riêng theo từng giai đoạn I, II, III giúp cá thể hóa điều trị. Điều này cũng so sánh được hiệu quả với các phương pháp mổ mở.

IV. Thách thức ứng dụng PTNS ung thư dạ dày tại Việt Nam

Phẫu thuật nội soi (PTNS) đã phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Nhiều loại phẫu thuật đã ứng dụng kỹ thuật này. Đối với ung thư dạ dày, nhiều báo cáo của các tác giả Việt Nam đã công bố. Các tác giả như Nguyễn Hoàng Bắc, Nguyễn Minh Hải, Phạm Như Hiệp, Triệu Triều Dương, Đỗ Văn Tráng, Lê Mạnh Hà, Đỗ Trường Sơn đã đóng góp. Những nghiên cứu này tập trung vào tính khả thi và hiệu quả của PTNS cắt dạ dày. Bước đầu, các nghiên cứu cho thấy PTNS có nhiều ưu điểm. Các ưu điểm bao gồm an toàn, giảm đau sau mổ và hồi phục nhanh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống cần được giải quyết. Đây là thách thức để PTNS ung thư dạ dày đạt hiệu quả tối ưu tại Việt Nam.

4.1. Thực trạng nghiên cứu PTNS ung thư dạ dày tại Việt Nam

Các bệnh viện lớn tại Việt Nam đã áp dụng PTNS cắt dạ dày. Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện. Báo cáo của các bác sĩ từ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện 108, Bệnh viện Việt Đức đều cho thấy tiềm năng của PTNS. Các nghiên cứu ban đầu xác nhận PTNS an toàn. Nó giúp giảm đau sau mổ, tăng tốc độ hồi phục cho bệnh nhân. Đây là những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của y học Việt Nam.

4.2. Hạn chế nghiên cứu và những vấn đề cần làm rõ

Nghiên cứu về PTNS ung thư dạ dày tại Việt Nam còn một số hạn chế. Cỡ mẫu trong các nghiên cứu thường nhỏ. Điều này ảnh hưởng đến tính đại diện và độ tin cậy của kết quả. Một số nghiên cứu chưa đề cập kết quả sống còn. Việc đánh giá kết quả theo từng giai đoạn bệnh còn thiếu sót. Đặc biệt, số bệnh nhân ung thư giai đoạn T4a được nghiên cứu còn ít. Những khoảng trống này đặt ra nhu cầu cho các nghiên cứu toàn diện hơn. Cần có dữ liệu đáng tin cậy để tối ưu hóa chỉ định và kỹ thuật PTNS.

V. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá PTNS ung thư dạ dày toàn diện

Một đề tài nghiên cứu đã được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại. Đề tài này tập trung vào 'Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn I, II, III'. Mục tiêu chính là đánh giá tính khả thi, tính an toàn. Đồng thời, đánh giá hiệu quả về mặt ung thư học của PTNS. Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện ở Việt Nam. Việc này cung cấp bằng chứng khoa học cụ thể. Bằng chứng này hỗ trợ cho việc đưa ra quyết định lâm sàng. Nó cũng giúp cải thiện phác đồ điều trị cho bệnh nhân ung thư dạ dày.

5.1. Xác định tỉ lệ thành công tai biến và tử vong sau PTNS

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm xác định tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày. Kỹ thuật nạo hạch lympho cũng được xem xét. Nghiên cứu cũng xác định tỉ lệ tai biến trong mổ. Tỉ lệ biến chứng và tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ được ghi nhận. Những chỉ số này là thước đo quan trọng về an toàn phẫu thuật. Chúng giúp đánh giá rủi ro và lợi ích của PTNS.

5.2. Đánh giá tỉ lệ sống còn theo từng giai đoạn ung thư dạ dày

Mục tiêu quan trọng khác là xác định tỉ lệ sống còn. Bao gồm sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ chung. Các tỉ lệ này được tính sau 1, 3 và 5 năm. Nghiên cứu cũng đánh giá tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ theo từng giai đoạn I, II, III. Các tỉ lệ này được đánh giá sau 1 và 3 năm. Việc phân tích theo giai đoạn cung cấp cái nhìn sâu sắc. Nó giúp hiểu rõ hơn hiệu quả lâu dài của PTNS trên từng nhóm bệnh nhân cụ thể.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn i ii iii full text

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (156 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÕ DUY LONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY THEO GIAI ĐOẠN I, II, III LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC TP HỒ CHÍ MINH - 2017 1 MỞ ĐẦU Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam. Theo điều tra quần thể tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 của Bệnh viện Ung bướu, ung thư dạ dày có tần suất 10,4% trên 100 000 dân, thuộc 10 vị trí ung thư thường gặp nhất, đứng hàng thứ ba ở nam giới và thứ tư ở nữ giới [13]. Theo tài liệu của Bệnh viện K năm 2000, ung thư dạ dày đứng hàng thứ hai ở nam giới sau ung thư phổi và hàng thứ ba ở nữ giới sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung [1]. Theo số liệu của Strong [118] năm 2009, hơn 22 000 trường hợp ung thư dạ dày mới mắc mỗi năm và trên 14 000 trường hợp tử vong, là nguyên nhân tử vong hàng thứ tư do ung thư ở Mỹ.

Phần lớn người bệnh ung thư dạ dày tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn tiến triển. Theo Nguyễn Quang Thái [17], khoảng 1/3 bệnh nhân (31%) ung thư còn khu trú trong thành dạ dày (giai đoạn T1, T2), số còn lại ở giai đoạn tiến xa: di căn hạch lympho hay di căn xa. Tương tự như vậy, theo Nguyễn Minh Hải [8] bệnh nhân ung thư dạ dày còn được phẫu thuật triệt căn ở giai đoạn I là 22,5% (trong đó giai đoạn IA chỉ chiếm 2,4%), 17,8% ở giai đoạn II, 46,4% giai đoạn III và 13,1% ở giai đoạn IV. Trước đây, mổ mở cắt dạ dày kèm nạo hạch lympho là phương pháp điều trị tiêu chuẩn được lựa chọn, cải thiện thời gian sống còn cho người bệnh [8],[12],[25], [39],[42].

Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày được Kitano thực hiện lần đầu vào năm 1994 tại Nhật Bản [66]. Sau đó, nhiều tác giả khác đã ứng dụng và báo cáo kết quả ban đầu về điều trị ung thư dạ dày [38],[67],[122]. Tuy nhiên, vẫn còn những tranh cãi về đường cong huấn luyện, tính khả thi về mặt kỹ thuật như: khả năng nạo hạch lympho hay những đặc điểm khác về phương diện ung thư trong PTNS so với mổ mở. Đối với ung thư dạ dày giai đoạn sớm, nhiều báo cáo riêng lẻ cũng như các phân tích gộp đã chứng minh PTNS có hiệu quả như mổ mở [43],[67],[70],[98].

Tuy 2 nhiên, số lượng bệnh nhân của từng báo cáo còn ít. Đối với ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, vai trò của PTNS vẫn còn tranh cãi. Nhiều tác giả Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy một số lợi ích của PTNS. Kết quả phân tích gộp cũng cho thấy PTNS tương đương mổ mở về mặt ung thư học và có nhiều lợi ích hơn như biến chứng ít hơn, giảm mất máu, hồi phục nhanh… [32],[62], [63].

Ngược lại, các tác giả Châu Âu và Mỹ chưa nghiên cứu nhiều và cỡ mẫu không lớn [27],[28],[59],[104],[118]. Đặc biệt, số bệnh nhân ung thư dạ dày thương tổn giai đoạn T4a trong các nghiên cứu còn ít. Vì vậy, chưa có nhiều báo cáo đề cập đến kết quả sống còn theo từng giai đoạn bệnh và chỉ định cụ thể của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, PTNS phát triển mạnh, được ứng dụng cho nhiều loại phẫu thuật.

Đối với ung thư dạ dày, đã có nhiều báo cáo của các tác giả Nguyễn Hoàng Bắc [2],[3] (năm 2001, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Minh Hải [9] (năm 2006, Bệnh viện Chợ Rẫy), Phạm Như Hiệp [10] (năm 2008, Bệnh viện Trung ương Huế), Triệu Triều Dương [6] (năm 2008, Bệnh viện 108), Đỗ Văn Tráng [21],[22],[23] (năm 2009, Bệnh viện Việt Đức), Lê Mạnh Hà [7] (năm 2013, Bệnh viện Trung ương Huế) và Đỗ Trường Sơn [15] (năm 2014, Bệnh viện Việt Đức)… về tính khả thi và hiệu quả của PTNS trong cắt dạ dày. Bước đầu các nghiên cứu cho thấy PTNS có các ưu điểm như an toàn, giảm đau sau mổ, hồi phục nhanh … Tuy nhiên, cỡ mẫu trong các nghiên cứu còn ít, một số chưa đề cập kết quả sống còn, chưa đánh giá kết quả theo từng giai đoạn bệnh và số bệnh nhân ung thư thương tổn giai đoạn T4a còn ít. Vì vậy, vấn đề được đặt ra của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ung thư dạ dày là: - Về mặt kỹ thuật: có phải đây là một phẫu thuật khó, đòi hỏi kỹ năng cao về PTNS, tỉ lệ thành công ra sao? - Về mặt an toàn: đây có phải là kỹ thuật an toàn, tỉ lệ tai biến trong mổ, biến chứng và tử vong sớm sau mổ như thế nào? 3 - Về mặt ung thư học: khả năng nạo hạch lympho, tỉ lệ sống còn sau mổ theo từng giai đoạn như thế nào? Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn I, II, III” nhằm đánh giá tính khả thi, tính an toàn và hiệu quả về mặt ung thư học theo từng giai đoạn của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày điều kiện ở Việt Nam. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Xác định tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ung thư dạ dày. Xác định tỉ lệ tai biến, biến chứng và tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ung thư dạ dày. Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ chung sau 1, 3 và 5 năm và tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ theo từng giai đoạn I, II, III sau 1 và 3 năm của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ung thư dạ dày. 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY Ung thư dạ dày đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm qua.

Các phương pháp điều trị khác nhau đã được đề cập đến như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễn dịch trị… Tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định. Nhưng, phẫu thuật vẫn được xem là phương pháp điều trị tối ưu nhất và là lựa chọn đầu tiên cho quyết định điều trị. Avicenna (980 – 1037) là người báo cáo đầu tiên về ung thư dạ dày. Tuy nhiên, năm 1761, Morgagni là người đầu tiên mô tả chi tiết về tổn thương ác tính của dạ dày.

Năm 1879, Péan là người đầu tiên mổ cắt dạ dày cho một bệnh nhân ung thư dạ dày nhưng bệnh nhân đã tử vong sau mổ 5 ngày. Năm 1881, Billroth là người đầu tiên mổ cắt dạ dày thành công trên người. Phẫu thuật cắt dạ dày theo Billroth I đã mang tên ông cho đến bây giờ. Năm 1885, sau khi cắt bỏ phần xa dạ dày của bệnh nhân bị ung thư, Billroth đóng mỏm tá tràng và mặt cắt của dạ dày.

Để lưu thông dạ dày, ông thực hiện miệng nối dạ dày - ruột non bằng cách nối ruột non vào mặt sau mỏm dạ dày. Từ đó, phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật Billroth II. Năm 1888, Von Eiselsberg là người đầu tiên thay đổi kiểu nối Billroth II bằng cách khâu bớt phần trên của mỏm cắt dạ dày rồi nối phần dưới còn lại của mỏm dạ dày với hỗng tràng kiểu tận – bên. Nhưng đến năm 1889 Hofmester và năm 1919 Finsterer mới công bố phẫu thuật đó, vì vậy ngày nay phẫu thuật này mang tên Hofmester – Finsterer.

Năm 1897, Schlatter là người đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công ca cắt toàn bộ dạ dày điều trị ung thư. Năm 1899, Braun tạo thêm một miệng nối giữa quai đến và quai đi kiểu bên – bên để lưu thông quai đến dễ dàng hơn. Sau này miệng nối này được gọi là miệng nối Braun. 5 Năm 1906, Cuneo là người đầu tiên mô tả dẫn lưu bạch huyết của dạ dày và ảnh hưởng đến mức độ cắt dạ dày trong ung thư.

Năm 1907, Roux cắt dạ dày toàn bộ và tái lập lưu thông tiêu hóa theo kiểu chữ Y. Năm 1911, Polya cải tiến phương pháp phẫu thuật Billroth II là để nguyên mỏm cắt dạ dày và nối tận – bên vào quai hỗng tràng, được gọi là miệng nối Polya. Năm 1951, Mc Neer là người đầu tiên đề cập đến kỹ thuật nạo vét hạch rộng rãi trong điều trị ung thư dạ dày sau khi phẫu tích 92 mẫu tử thi sau cắt dạ dày do ung thư. Không lâu sau đó, năm 1953 Sunderland mô tả chi tiết hệ thống bạch huyết quanh dạ dày.

Về phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày, năm 1994 Kitano báo cáo trường hợp đầu tiên trên thế giới [66],[71]. NHẮC LẠI GIẢI PHẪU DẠ DÀY ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY VÀ NẠO HẠCH Dạ dày là phần rộng nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, nằm ở phần bụng trên, dưới cơ hoành, kéo dài từ hạ sườn trái xuống dưới và qua phải. Đây là cơ quan di động, nên vị trí của nó phụ thuộc vào tư thế của cơ thể, mức độ đầy của dạ dày, mức độ đầy của ruột, trương lực cơ thành bụng và thể trạng của bệnh nhân. Thể tích trung bình của dạ dày tăng từ 30 ml lúc mới sinh, đến 1000 ml ở tuổi dậy thì và 1500 ml ở người lớn.1 Hình thể ngoài của dạ dày Về mặt ứng dụng phẫu thuật, theo Hiệp hội nghiên cứu ung thư dạ dày Nhật Bản [55], để xác định vị trí thương tổn dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chia làm 3 vùng bằng cách nối giữa các điểm chia đều 3 phần ở hai bờ cong lớn và nhỏ, theo ký hiệu như sau: 1/3 trên (U: upper), 1/3 giữa (M: middle) và 1/3 dưới (L: lower).1 Phân chia hình thể ngoài của dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55] Để xác định vị trí thương tổn theo thiết diện chu vi, dạ dày được chia làm 4 phần: bờ cong lớn, bờ cong nhỏ, thành trước và thành sau.

Tùy vị trí thương tổn mà chúng ta có thể xác định được các cơ quan có thể bị xâm lấn cũng như khả năng di căn hạch.2) Thành trước Bờ cong lớn Bờ cong nhỏ Thành sau Hình 1.2 Phân chia theo thiết diện chu vi dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55] 7 Mạc nối lớn: trong phẫu thuật cắt dạ dày điều trị ung thư, mạc nối lớn thường được cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần. Mạc nối lớn là do một phần của mạc treo vị sau bị trĩu xuống bởi sự phát triển xuống dưới của ngách gan ruột.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn i, ii, iii. Phân tích hiệu quả và tiên lượng bệnh nhân."

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Ngoại Khoa.

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" có bao nhiêu trang?

Luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" có 156 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Đánh giá phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter