Luận án Tiến sĩ Văn học: Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986
Nghiên cứu phân tích phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986, làm rõ nghệ thuật kể chuyện và góc nhìn hiện thực.
Văn học Việt Nam
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
172
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Tổng quan phương thức trần thuật truyện ngắn sau 1986
Luận án tập trung vào các phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự - đời tư Việt Nam sau năm 1986. Giai đoạn này đánh dấu sự đổi mới văn học mạnh mẽ. Truyện ngắn thể hiện tính thích ứng cao với thời đại. Thể loại này phù hợp với thị hiếu độc giả bận rộn. Các phương thức trần thuật đã có nhiều thay đổi. Chúng phản ánh bức tranh hiện thực và thế giới nội tâm con người. Luận án đặt ra mục tiêu tổng quan tình hình nghiên cứu. Nó cũng phân tích các yếu tố cấu thành phương thức trần thuật.
1.1. Quan niệm về trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư
Truyện ngắn có dung lượng ngắn. Nó tập trung miêu tả một sự kiện. Một tình huống hoặc một khoảnh khắc cuộc đời nhân vật được thể hiện. Sự khác biệt này tách nó khỏi tiểu thuyết. Văn xuôi tự sự xem truyện ngắn là thể loại có tính thích ứng cao. Phương thức trần thuật bao gồm cách kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu. Chúng định hình đặc trưng của thể loại. Truyện ngắn thế sự đời tư khai thác cuộc sống cá nhân. Nó đi sâu vào những vấn đề thường nhật.
1.2. Tình hình nghiên cứu trần thuật văn xuôi Việt Nam
Việc nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôi Việt Nam đã có nhiều công trình. Các nhà nghiên cứu đã phân tích kỹ thuật tự sự. Các công trình này bao gồm tiểu thuyết và truyện ngắn. Giai đoạn sau 1986 nhận được sự quan tâm đặc biệt. Đây là thời kỳ văn học bùng nổ nhiều sáng tạo. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những đổi mới về hình thức. Chúng cũng chỉ ra nội dung trong tác phẩm.
1.3. Nghiên cứu phương thức trần thuật truyện ngắn đời tư
Nghiên cứu chuyên sâu về phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự - đời tư còn hạn chế. Các công trình trước đây thường mang tính khái quát. Hoặc chúng tập trung vào một tác giả, tác phẩm cụ thể. Luận án này lấp đầy khoảng trống đó. Nó hệ thống hóa và phân tích sâu các phương thức trần thuật. Đây là sự đóng góp vào lý luận tự sự học. Nó làm rõ đặc điểm của truyện ngắn giai đoạn này.
II. Tiền đề phát triển truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam
Giai đoạn sau năm 1986 chứng kiến sự chuyển mình của văn học Việt Nam. Đại hội VI của Đảng là cột mốc quan trọng. Văn nghệ được giải phóng, kéo theo sự khai phóng nhiều thể loại. Nội dung và hình thức biểu hiện đều đổi mới. Truyện ngắn thế sự - đời tư tìm được hướng đi mới. Dù đầy chông gai, thể loại này đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Sự phát triển này có nhiều tiền đề. Nó bao gồm bối cảnh xã hội, văn hóa và tư duy nghệ thuật.
2.1. Những tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn
Năm 1986 là mốc thời gian quan trọng. Nó đánh dấu công cuộc Đổi mới. Văn học thoát khỏi gánh nặng của quan niệm truyền thống. Quyền tự do sáng tạo được đề cao. Kinh tế thị trường phát triển. Nhu cầu giải trí của độc giả thay đổi. Truyện ngắn dung lượng ngắn rất phù hợp. Nó đáp ứng thị hiếu của độc giả bận rộn. Các thể loại văn học cũng trải qua những cách tân đáng chú ý. Nhiều tác phẩm truyện ngắn giá trị ra đời từ đây.
2.2. Khái quát truyện ngắn thế sự đời tư sau 1986
Truyện ngắn sau 1986 đi sâu vào thế giới nội tâm con người. Nó tìm hiểu và khái quát tâm lí điển hình của thời đại. Chiều sâu tâm linh, cõi vô thức được khám phá. Sự cô đơn bản thể, cô đơn nghệ sĩ cũng được khai thác. Về hình thức, truyện ngắn không ngừng tìm kiếm phương thức biểu hiện mới. Các cây bút tiêu biểu gồm Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương. Văn xuôi giai đoạn này có ba khuynh hướng chính: sử thi, thế sự - đời tư, và khuynh hướng khác. Nghiên cứu tập trung vào khuynh hướng thế sự - đời tư.
III. Điểm nhìn kết cấu trong trần thuật truyện ngắn 1986
Sự đổi mới về phương thức trần thuật là trọng tâm của truyện ngắn sau 1986. Điểm nhìn, cách tổ chức tình huống và kết cấu thể hiện sự phá cách. Chúng khác biệt so với văn học truyền thống. Các nhà văn nỗ lực tạo ra những trải nghiệm đọc mới. Mục tiêu là khai thác sâu hơn thế giới nội tâm. Đồng thời phản ánh đa diện thực tại. Luận án đi sâu phân tích từng yếu tố này. Nó chỉ ra cách các yếu tố góp phần vào giá trị nghệ thuật.
3.1. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật đa chiều
Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật có sự chuyển dịch rõ rệt. Cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất phổ biến hơn. Nó giúp thể hiện cái tôi cá nhân. Điểm nhìn bên trong được ưu tiên. Độc giả tiếp cận trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc nhân vật. Điểm nhìn đa chiều xuất hiện. Nhiều góc nhìn khác nhau về một sự việc được trình bày. Điều này tạo nên sự phức tạp và đa nghĩa cho tác phẩm. Nó cũng thách thức cách đọc truyền thống.
3.2. Tổ chức tình huống trần thuật nghệ thuật
Tình huống trần thuật được tổ chức một cách nghệ thuật. Nó không còn theo lối kể tuyến tính, dễ đoán. Tình huống thường mang tính bất ngờ, kịch tính. Chúng là điểm thắt nút cho các xung đột nội tâm. Tình huống cũng là nơi bộc lộ tính cách nhân vật. Sự sắp xếp tình huống tinh tế lôi cuốn độc giả. Nó khiến độc giả suy ngẫm về các vấn đề đời sống. Điều này khác biệt lớn so với trước.
3.3. Nghệ thuật tổ chức kết cấu độc đáo
Kết cấu truyện ngắn có nhiều đổi mới. Nó không chỉ dừng lại ở kết cấu truyền thống. Kết cấu phân mảnh, phi tuyến tính xuất hiện. Kết cấu lồng ghép, đa tầng cũng được sử dụng. Thời gian và không gian không tuân theo trật tự thông thường. Chúng đảo lộn, lồng ghép hoặc đứt đoạn. Điều này tạo nên sự phá vỡ cấu trúc. Nó cũng tăng cường tính gợi mở và biểu tượng. Đây là cách nhà văn thể hiện quan niệm mới về hiện thực.
IV. Ngôn ngữ giọng điệu trần thuật truyện ngắn sau 1986
Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật cũng trải qua nhiều cách tân. Chúng trở nên gần gũi hơn với đời sống. Đồng thời mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả. Sự thay đổi này góp phần tạo nên bản sắc. Bản sắc riêng cho truyện ngắn thế sự - đời tư. Ngôn ngữ không còn cứng nhắc. Giọng điệu không còn đơn điệu. Chúng thể hiện sự tự do trong biểu đạt. Phản ánh một xã hội đa thanh. Nó khám phá chiều sâu tâm hồn con người.
4.1. Ngôn ngữ trần thuật đa dạng đổi mới
Ngôn ngữ trần thuật trở nên đa dạng. Nó có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ bác học. Lối nói dân dã, khẩu ngữ được đưa vào. Điều này tạo cảm giác chân thực. Nó cũng gần gũi với cuộc sống. Ngôn ngữ biểu tượng, ẩn dụ được sử dụng hiệu quả. Nó gợi mở nhiều tầng nghĩa. Ngôn ngữ cũng mang tính cá nhân hóa cao. Mỗi nhà văn có một phong cách riêng. Sự sáng tạo trong từ ngữ góp phần làm mới diện mạo truyện ngắn.
4.2. Giọng điệu trần thuật phong phú hiện đại
Giọng điệu trần thuật cũng có sự phong phú. Nó không còn là giọng điệu đơn thuần của người kể chuyện. Giọng điệu đối thoại, chất vấn xuất hiện. Giọng điệu giễu nhại, mỉa mai cũng được dùng. Giọng điệu trầm tư, suy tưởng thể hiện cái nhìn nội tâm. Đôi khi là giọng điệu lạnh lùng, khách quan. Sự đa dạng này phản ánh thế giới phức tạp. Nó phản ánh những băn khoăn của con người hiện đại. Giọng điệu cũng thể hiện quan điểm của tác giả về cuộc đời.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (172 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TẠ HƯƠNG TRANG PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986 Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9.21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. LÊ QUANG HƯNG HÀ NỘI – 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học cao. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019 Tác giả luận án Tạ Hương Trang LỜI CẢM ƠN Luận án được hoàn thành, tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc, chân thành đến PGS.TS Lê Quang Hưng, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình, luôn sẵn sàng chia sẻ quan điểm, gợi mở nhiều ý tưởng hay, mới lạ, giúp tôi có thêm nhiều tri thức lý luận và phương pháp tư duy, làm việc khoa học. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Khoa học xã hội, phòng Quản lý Đào tạo, các thầy cô trong khoa Văn học đã thường xuyên động viên, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu của tôi. Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Hải Phòng, Khoa Ngữ văn – Địa lí nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt thời gian để tôi hoàn thành chương trình học và luận án.
Cảm ơn bố mẹ, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạn bè,. đã sẻ chia, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án. Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018 Tác giả luận án Tạ Hương Trang MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.
Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự - đời tư. Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1986. Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư từ sau 1986. 26 Chương 2: TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986.
Những tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986. Khái quát truyện ngắn thế sự - đời tư trong nền văn xuôi Việt Nam từ sau 198656 Chương 3: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG VÀ KẾT CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật. Tổ chức tình huống.
Nghệ thuật tổ chức kết cấu. 101 Chương 4: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986. Ngôn ngữ trần thuật. Giọng điệu trần thuật.
148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN. 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài 1. Trong quan niệm của lí thuyết tự sự học hiện đại thì tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng miêu tả bức tranh hiện thực rộng lớn và số phận của một hay nhiều người.
Trong khi đó, điều làm nên nét khác biệt giữa truyện ngắn với tiểu thuyết hay những thể loại tự sự khác chính là ở chỗ dung lượng ngắn, tập trung miêu tả một sự kiện, một tình huống hoặc một khoảnh khắc nào đó xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Trong loại hình văn xuôi tự sự, truyện ngắn được đánh giá là một thể loại có tính thích ứng cao với thời đại nó tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như ngày nay, truyện ngắn phù hợp với thị hiếu của độc giả bận rộn khi họ không có nhiều thời gian dành cho việc nhâm nhi chiêm nghiệm một tác phẩm. Những ưu điểm kể trên khiến cho truyện ngắn là một trong những thể loại có thể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thời đại đổi mới, của độc giả sau 1986.
Lựa chọn mốc 1986 chúng tôi không chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tác phẩm mà hơn hết đó là mốc thời gian quan trọng diễn ra Đại hội VI của Đảng. Bắt đầu từ đây văn nghệ thực sự được giải phóng kéo theo sự khai phóng các thể loại khác về cả nội dung và hình thức biểu hiện. Mặt khác, đây cũng là mốc thời gian ghi nhận những cách tân đáng chú ý của các thể loại văn học, những tác phẩm truyện ngắn thực sự có giá trị cũng bắt đầu ra đời từ đây. Văn xuôi nói chung, truyện ngắn giai đoạn sau năm 1986 nói riêng thực sự đã tìm được cho mình một hướng đi mới dù đầy chông gai song lại đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.
Về nội dung, nó bắt đầu đi sâu vào thế giới nội tâm của con người để tìm hiểu và khái quát thành tâm lí điển hình của thời đại. Những mảng như chiều sâu tâm linh, cõi vô thức hay sự cô đơn bản thể, cô đơn nghệ sĩ. đều được nó nghiêm túc khám phá và sáng tạo. Về hình thức, khác với quan niệm truyền thống, truyện ngắn sau 1986 không ngừng nỗ lực kiếm tìm những phương thức biểu hiện phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của 1 văn học.
Bên cạnh những cây bút vẫn kiên trì cách viết truyện truyền thống thì một loạt các cây bút với ý thức tự làm mới mãnh liệt đã ra đời như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương. Ở một phương diện khác, khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi căn cứ vào chủ đề và cảm hứng của văn xuôi sau 1986 nổi bật lên ba khuynh hướng chính, đó là: khuynh hướng sử thi, khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynh hướng triết luận. Trong ba khuynh hướng ấy thì khuynh hướng thế sự - đời tư được đánh giá là khuynh hướng thu hút nhiều người tham gia viết nhất, trở thành niềm say mê hứng khởi sáng tác ở nhiều cây bút truyện ngắn xuất sắc. Văn học trước 1975 quan tâm đến nội dung “viết cái gì” của các nhà văn.
Chính vì thế mà sự tỏa bóng của “chủ nghĩa đề tài” khá rộng lớn trong văn xuôi. Những đề tài như ca ngợi cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, những tấm gương người tốt, việc tốt được đề cao còn những đề tài đi sâu vào miêu tả số phận của cá nhân hay đời sống cá thể riêng biệt thì sẽ bị cấm đoán thậm chí nhiều nhà văn bị treo bút trong một thời gian dài vì những gì họ viết ra không đúng với tinh thần của thời đại. Song sang đến giai đoạn sau 1986, nhờ lời kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà văn học được “cởi trói”. Cảm hứng sử thi tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh và một vài năm sau đổi mới đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư khi con người dần trở về với cuộc sống thường nhật.
Lựa chọn cảm hứng này trong sáng tác, các nhà văn được mặc sức khám phá thế giới muôn hình muôn vẻ với những nhân dạng tồn tại trong hiện thực đó. Mặt khác, nó cũng chi phối đến các phương diện khác thuộc trần thuật học trong tác phẩm mà cụ thể là điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu. Có thể thấy đây là một hướng đi dù không có nhiều cách tân quyết liệt về mặt hình thức nhưng đã khắc tạc trên cây cổ thụ văn chương nỗi đằm sâu của những nhà văn sống có trách nhiệm và nặng lòng với đời sống con người. Nếu như văn học giai đoạn trước năm 1975 quan tâm đến nhà văn 2 thể hiện nội dung gì trong sáng tác của mình, những nội dung ấy có phù hợp với lí tưởng của thời đại hay không, có giá trị cổ vũ tinh thần và ý chí của con người trong thời đại ấy như thế nào.
thì giai đoạn từ sau 1986, cái mà văn học và công chúng quan tâm là nhà văn - anh đã làm mới “đứa con tinh thần” của mình như thế nào, nói một cách khác là anh đã có thêm tiếng nói, cách nói gì. Trong xu thế đổi mới, những gì anh viết ra nếu bị coi là cũ kĩ sẽ không có chỗ đứng trong lòng bạn đọc, vì thế nỗ lực cách tân và làm mới trở thành tuyên ngôn trong sáng tác của họ. Theo đó, nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm được đề cao hơn bao giờ hết, nó là “sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định” (Trần Đình Sử). Trong cấu trúc tác phẩm văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng thì trần thuật bao gồm các yếu tố cấu thành nên một tác phẩm hoàn chỉnh, đồng thời cũng tạo nên một “chất” khác lạ để phân biệt sáng tác của người này với người khác, góp phần tạo nên cái “tầm” của nhà văn.
Nhà văn nếu lựa chọn hình thức trần thuật phù hợp sẽ đem lại hiệu quả trong cách truyền tải nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Với những lí do trên, tìm hiểu Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 chính là một cách để phân tích, đánh giá đầy đủ những đặc điểm, thành tựu của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới trên các phương diện: đối tượng, nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật. Bên cạnh đó chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và phổ thông. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.
Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu, đánh giá đặc điểm phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 để khẳng định sự thống 3 nhất biện chứng giữa đối tượng, nội dung biểu hiện với phương thức thể hiện trong thể loại truyện ngắn, khẳng định rõ thêm thành tựu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu phân tích phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986, làm rõ nghệ thuật kể chuyện và góc nhìn hiện thực.
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2019.
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" có 172 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phương thức trần thuật truyện ngắn thế sự đời tư Việt Nam sau 1986" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.