Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2012 luận án tiến sĩ
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay: biểu hiện, đặc điểm và tác động văn hóa.
Trường Đại học Khoa học Huế
Văn học Việt Nam
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
178
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Khái niệm Nghệ thuật Nghịch dị Từ truyền thống đến Đổi mới
Nghệ thuật nghịch dị trở thành một tinh thần cốt lõi trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986. Xu hướng này hồi sinh mạnh mẽ, mang theo tiếng nói tự do và dân chủ. Nghịch dị gắn liền với việc kiến tạo những hình tượng lệch chuẩn. Nó đáp ứng nhu cầu phê phán cái lạc hậu, cái xấu trong xã hội. Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này thể hiện rõ sự đổi mới, phá vỡ thói quen cũ mòn, khuôn sáo.
1.1. Định nghĩa nghịch dị trong văn học Việt Nam
Nghịch dị là một khái niệm văn học đa chiều. Nó bao gồm sự méo mó, phi lí, hoặc gây sốc. Mục đích nhằm khơi gợi nhận thức mới. Đây không chỉ là một thủ pháp. Nó còn là một cảm quan nghệ thuật. Nghịch dị thể hiện sự đối lập, phá vỡ chuẩn mực. Nó phản ánh cái phi thường trong cái đời thường.
1.2. Sự phát triển nghịch dị Dân gian trung đại hiện đại
Nghịch dị không phải là hiện tượng mới. Nó hiện diện trong văn học dân gian. Nó tồn tại trong văn học trung đại. Nghịch dị tái sinh mạnh mẽ trong văn học hiện đại. Đặc biệt từ năm 1986. Nó cho thấy sự liên tục của mạch nguồn văn học dân tộc. Nó cũng phản ánh sự biến đổi của xã hội Việt Nam.
1.3. Nhu cầu đổi mới Quan niệm hiện thực và con người
Nghịch dị xuất hiện từ nhu cầu đổi mới văn học Việt Nam. Nó thay đổi quan niệm về hiện thực. Nó làm mới quan niệm về con người. Nó phá vỡ khuôn mẫu thể loại tiểu thuyết truyền thống. Nghịch dị giúp văn học đương đại tiếp cận nhiều khía cạnh phức tạp của cuộc sống. Nó mở rộng biên độ phản ánh hiện thực.
II. Hình tượng Nghịch dị Nhân vật không gian thời gian
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 thể hiện qua hệ thống hình tượng. Các hình tượng này mang tính lệch chuẩn, gây ấn tượng mạnh. Chúng giúp độc giả nhìn nhận thực tại qua lăng kính mới. Điều này góp phần làm giàu thêm bức tranh văn học đương đại. Nó phá vỡ những giới hạn cũ, kiến tạo những giá trị nghệ thuật độc đáo.
2.1. Nhân vật nghịch dị Biếm họa lệch pha nữ tính
Tiểu thuyết giai đoạn này xuất hiện nhiều kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị. Có nhân vật biếm họa, mang tính chất châm biếm. Có nhân vật lệch pha giới, vượt ra ngoài định kiến. Có nhân vật nữ nghịch dị, với số phận và cá tính khác thường. Những nhân vật này thách thức các quan niệm truyền thống về con người, góp phần làm sâu sắc thêm cái nhìn về bản chất con người.
2.2. Không gian nghịch dị Nông thôn thành thị chiến tranh
Không gian trong tiểu thuyết cũng được mô tả một cách nghịch dị. Nông thôn không còn yên bình mà trở nên đầy rẫy vấn đề. Thành thị hiện lên với sự phức tạp, hỗn loạn. Hình tượng chiến tranh cũng được diễn tả nghịch dị sự sống. Điều này tạo nên bối cảnh đa chiều, phản ánh sự biến động của xã hội.
2.3. Thời gian nghịch dị Quá khứ siêu thời gian hủy diệt
Yếu tố thời gian cũng được sử dụng một cách độc đáo. Thời gian quá khứ được nhìn qua lăng kính bất thường. Có sự xuất hiện của yếu tố siêu thời gian, nằm ngoài quy luật. Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa sinh thành và hủy diệt. Cách thức này tạo chiều sâu triết lí, khám phá các khía cạnh khác của tồn tại.
III. Biểu hiện Nghệ thuật Nghịch dị Ngôn ngữ giọng điệu
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 còn được thể hiện qua các phương thức biểu hiện. Ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu và biểu tượng đều mang tính chất phá cách, độc đáo. Những yếu tố này góp phần tạo nên một diện mạo mới cho văn học đổi mới. Chúng làm cho tác phẩm trở nên sống động, gần gũi hơn với độc giả, đồng thời tăng cường tính phê phán.
3.1. Ngôn ngữ nghịch dị Quảng trường mạng trò chơi
Ngôn ngữ nghệ thuật có sự thay đổi rõ rệt. Có sự xuất hiện của ngôn ngữ quảng trường suồng sã. Ngôn ngữ mạng được đưa vào tác phẩm. Ngôn ngữ trò chơi cũng được sử dụng. Điều này làm cho văn phong trở nên gần gũi, đa dạng hơn. Nó phản ánh đời sống đương đại, thu hút nhiều đối tượng độc giả.
3.2. Giọng điệu nghịch dị Giễu nhại bất tín tự trào
Giọng điệu nghệ thuật cũng mang tính nghịch dị. Có giọng điệu giễu nhại, châm biếm sâu cay. Có giọng điệu bất tín và âu lo, thể hiện sự hoài nghi. Giọng điệu tự trào cũng xuất hiện. Những giọng điệu này tạo nên sự đa thanh. Chúng giúp tác phẩm truyền tải nhiều thông điệp phức tạp.
3.3. Biểu tượng nghịch dị Tính dục giấc mơ mê cung
Các biểu tượng nghệ thuật cũng được sử dụng một cách nghịch dị. Biểu tượng tính dục xuất hiện mạnh mẽ, phá vỡ tabu. Biểu tượng giấc mơ mang ý nghĩa sâu sắc. Biểu tượng mê cung tạo cảm giác bế tắc, phức tạp. Những biểu tượng này mở rộng chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm. Chúng kích thích sự suy ngẫm của độc giả.
IV. Vai trò Nghệ thuật Nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam
Nghệ thuật nghịch dị giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012. Nó không chỉ là một phong cách. Nó là một cảm quan sáng tạo. Nó giúp văn học đương đại phản ánh chân thực hơn hiện thực xã hội. Nó còn góp phần định hình các giá trị mới. Nó khẳng định vị thế của tiểu thuyết trong nền văn học. Đây là một yếu tố không thể thiếu cho sự 'đổi mới' văn học.
4.1. Phê phán xã hội Tiếng nói tự do dân chủ
Nghệ thuật nghịch dị là công cụ mạnh mẽ để phê phán xã hội. Nó thể hiện tiếng nói tự do, dân chủ. Nó dám chỉ ra những hạn chế, bất cập. Nó không ngại đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm. Điều này giúp văn học trở thành tấm gương phản chiếu, thức tỉnh lương tri. Nó thúc đẩy sự thay đổi tích cực.
4.2. Kiến tạo hình tượng lệch chuẩn phá vỡ khuôn mẫu
Nghịch dị đóng góp vào việc kiến tạo hình tượng lệch chuẩn. Nó phá vỡ khuôn mẫu cũ trong miêu tả nhân vật và sự kiện. Điều này giúp văn học thoát khỏi sự rập khuôn. Nó mở ra không gian sáng tạo mới. Nó khuyến khích sự đa dạng trong tư duy và cách tiếp cận nghệ thuật.
4.3. Đa dạng hóa tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Sự xuất hiện của nghệ thuật nghịch dị đã đa dạng hóa tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nó làm cho nền văn học phong phú hơn. Nó thu hút nhiều phong cách và cá tính sáng tạo khác nhau. Từ Nguyễn Huy Thiệp đến Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương. Các tác phẩm đều mang dấu ấn nghịch dị. Điều này tạo nên một bức tranh văn học đa thanh và đầy màu sắc.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (178 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUỲNH THỊ THU HẬU NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM HUẾ, NĂM 2017 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUỲNH THỊ THU HẬU NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 62220121 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. HỒ THẾ HÀ HUẾ - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu và các dẫn liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Huỳnh Thị Thu Hậu Lêi c¶m ¬n Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.
Hồ Thế Hà, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Huế, Phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi, Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô, đặc biệt là thầy cô Khoa Ngữ văn trường Đại học Khoa học Huế, đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Quảng Nam, Khoa Ngữ văn và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, những người đã luôn sát cánh và động viên tôi trong thời gian qua.
Huế, ngày 5 tháng 12 năm 2016 Tác giả Luận án Huỳnh Thị Thu Hậu MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Đóng góp của luận án. Cấu trúc luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài.
Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học Việt Nam. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ SỰ ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012……………………………………………………………………………. Giới thuyết khái niệm nghịch dị.
Nghịch dị trong văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Trong văn học dân gian. Trong văn học trung đại. Trong văn học hiện đại.
Nghịch dị với nhu cầu đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về hiện thực. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về con người. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về thể loại tiểu thuyết.
NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị. Kiểu hình tượng nhân vật biếm họa. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới.
Kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị. Hình tượng không gian nghịch dị. Nông thôn nghịch dị. Thành thị nghịch dị.
Chiến tranh - nghịch dị sự sống. Hình tượng thời gian nghịch dị. Thời gian quá khứ và lăng kính bất thường. Bên ngoài thời gian - thời gian mang cảm quan nghịch dị.
Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa cái sinh thành và hủy diệt. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã.
Ngôn ngữ mạng…. Ngôn ngữ trò chơi. Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị. Giọng điệu giễu nhại.
Giọng điệu bất tín và âu lo. Giọng điệu tự trào. Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị. Biểu tượng tính dục.
Biểu tượng giấc mơ. Biểu tượng mê cung. 136 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC…………………………………………….139 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lí do chọn đề tài Nghịch dị có từ lâu trong mạch nguồn lịch sử văn học dân tộc và hồi sinh mạnh mẽ trong thời kì đổi mới.
Có thể nói, tinh thần hạt nhân của nghịch dị là tiếng nói tự do dân chủ. Cảm quan nghịch dị gắn với việc kiến tạo những hình tượng lệch chuẩn, gắn với nhu cầu phê phán cái lạc hậu, cái xấu. Văn học đương đại Việt Nam là một bức tranh đa chiều, phức tạp và đầy màu sắc. Đó là nền văn học đa thanh với rất nhiều cá tính sáng tạo khác nhau cùng những nỗ lực khai tử thói quen cũ mòn và khuôn sáo, từ đó hình thành một Nguyễn Huy Thiệp (hậu) hiện đại, một Hồ Anh Thái mê chơi cấu trúc, một Nguyễn Bình Phương nghiêng về phân tâm học, một Nguyễn Việt Hà tư duy tôn giáo, một Thuận và Đoàn Minh Phượng liên văn bản, một Đặng Thân hậu hiện đại…Và không chỉ có thế.
Mỗi một nhà văn đều tích hợp trong thế giới nghệ thuật của mình những yếu tố trên ở mức độ đậm nhạt khác nhau, trong đó, yếu tố nghịch dị là phổ biến và tạo thành những thông điệp giàu ý nghĩa xã hội và nhân sinh của thời hiện đại. Hầu hết các tác phẩm đều chứa đựng nghệ thuật nghịch dị như: Mảnh đất lắm người nhiều ma, Những ngã tư và những cột đèn, Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Ngồi, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thủy, Trò đùa số phận, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Người sông Mê, 3.9 những mảnh hồn trần, T mất tích, China town, Minh sư, Mẫu Thượng Ngàn, Thần thánh và bươm bướm,Tưởng tượng và dấu vết… Theo M.Bakhtin, tiểu thuyết là một thể loại chưa hoàn thành, đang trong quá trình vận động. Theo đó, chúng ta thấy tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã có rất nhiều nỗ lực để khẳng định vị trí của mình trong nền văn học. Từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đến Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, đến tiểu thuyết của Đặng Thân, Thuận….là một quá trình liên tục cách tân táo bạo để tiểu thuyết Việt Nam theo kịp với tiểu thuyết trên thế giới.
Nghịch dị dự phần xác lập sự đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng. Xã hội số hóa, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thế giới phẳng đặt con người vào môi trường không giới hạn, cuộc sống vật chất đầy cám dỗ cũng tác động rất lớn đến con người. Khi đời sống lẫn lộn giá trị, đan xen thật - giả, cái huyền hoặc -cái thật, thiện - 1 ác, bi - hài, cao thượng - thấp hèn, bình thường - bất thường, kì quái, tất cả trở thành hiện thực nghịch dị, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, phương thức sáng tạo mới. Đặc trưng của xã hội hiện đại là tính đa trị, tiếng nói đa thanh, mang cảm quan đối thoại mạnh mẽ.
Vì thế, hình tượng nghệ thuật cần lung linh, đa nghĩa. Có rất nhiều cánh cửa để đi vào tiểu thuyết đương đại. Có người dùng ánh sáng của hậu hiện đại, có người dùng ánh sáng của giải cấu trúc, ánh sáng của diễn ngôn, huyền thoại, kì ảo, phân tâm học…Sử dụng lí thuyết Grotesque để soi chiếu và kiến giải sự vận động trong đổi mới văn học Việt Nam, đặc biệt là trong tiểu thuyết sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn và học thuật cao. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.
Đối tượng nghiên cứu Từ lí thuyết nghịch dị, chúng tôi nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 có chứa đựng nghệ thuật nghịch dị qua các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang… 2. Phạm vi nghiên cứu Luận án của chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 qua các phương diện hệ thống hình tượng (Nhân vật nghịch dị, không gian nghịch dị, thời gian nghịch dị) và phương thức biểu hiện (ngôn từ nghệ thuật nghịch dị, giọng điệu nghệ thuật nghịch dị, biểu tượng nghịch dị). Cụ thể phạm vi khảo sát là các tiểu thuyết sau (xem phụ lục 1). Như vậy, với đề tài Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi không đặt vấn đề giải quyết lí thuyết về nghịch dị mà chỉ muốn thông qua nó để nhận diện một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới.
Luận án tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá những biểu hiện phong phú cũng như hiệu quả thẩm mĩ của nghịch dị với tư cách là thế giới quan, là thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: 3. Phương pháp phân tích, tổng hợp 2 Nghệ thuật nghịch dị được nghiên cứu trên nhiều phương diện thông qua các luận điểm, luận cứ. Phương pháp này giúp người viết đi sâu phân tích từng phương diện đồng thời có sự tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề được đặt ra.
Phương pháp so sánh, đối chiếu Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, người viết nhìn nhận đánh giá vấn đề trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại để thấy được những nét kế thừa, sáng tạo cũng như những nét riêng của các tác giả trong việc sử dụng nghệ thuật nghịch dị. Phương pháp thống kê, phân loại Người viết sử dụng phương pháp này để khảo sát thống kê các bình diện hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng nghịch dị có trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2012. Phương pháp hình thức (vận dụng thi pháp học) Tiếp cận vấn đề từ phương pháp thi pháp học sẽ giúp người viết đi từ hình thức đến nội dung, nghệ thuật nghịch dị được hiểu như là thủ pháp, được thể hiện qua các bình diện hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện. Phương pháp hệ thống Phương pháp này giúp người viết nhận ra rằng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2012 không diễn ra đơn lẻ mà nằm trong sự vận động chung của văn học thời kì đổi mới với tinh thần đồng bộ từ đổi mới tư duy, đến đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại.
Sử dụng phương pháp hệ thống để kiến giải nghệ thuật nghịch dị của tiểu thuyết đương đại một cách thuyết phục. Phương pháp văn hóa học Ngoài ra, người viết còn vận dụng lý thuyết của Bakhtin về văn hóa trào tiếu dân gian để nghiên cứu đề tài.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay: biểu hiện, đặc điểm và tác động văn hóa.
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Huế. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.