Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Phân tích nghệ thuật độc thoại nội tâm trong truyện ngắn ba nhà văn tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
225
Thời gian đọc
34 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Độc thoại nội tâm: Khái niệm, tiêu chí nhận diện trong truyện ngắn
- Số trang:
- 225 trang
- Trường:
- Trường Đại học Vinh
- Chuyên ngành:
- Lý luận ngôn ngữ
- Tác giả:
- Lê Thị Sao Chi
Tóm tắt nội dung luận án
I.Độc thoại nội tâm Khái niệm tiêu chí nhận diện trong truyện ngắn
Phần này thiết lập khung lý thuyết cho độc thoại nội tâm (ĐTNT). Ngôn ngữ là đối tượng trung tâm của ngữ dụng học. Ngữ dụng học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Nó xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh và người dùng. Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: đối thoại và độc thoại nội tâm. Đối thoại thể hiện tương tác trực tiếp giữa người nói và người nghe. Độc thoại nội tâm là sự giao tiếp với chính mình. Nó phản ánh quá trình nội tâm, suy nghĩ và cảm xúc. Nghiên cứu đi sâu vào ĐTNT trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ. Hiểu các hình thức giao tiếp này rất quan trọng để phân tích văn học. ĐTNT là một kỹ thuật trần thuật hiện đại thiết yếu. Kỹ thuật này giúp độc giả tiếp cận thế giới nội tâm nhân vật. Nghiên cứu xác định ĐTNT và cung cấp tiêu chí nhận diện rõ ràng. Việc phân tích chỉ ra cách kỹ thuật này định hình nhân vật và cốt truyện. Định nghĩa ĐTNT liên kết với các lý thuyết ngôn ngữ rộng hơn. Nó là khái niệm cơ bản để phân tích tâm lý nhân vật văn học.
1.1. Định nghĩa và ý nghĩa độc thoại nội tâm
Độc thoại nội tâm là lời nói hướng vào chính bản thân. Nó bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, ý chí thầm kín của nhân vật. Đây là hình thức giao tiếp đặc biệt, không cần người nghe trực tiếp. Độc thoại nội tâm cho phép khám phá thế giới nội tâm nhân vật sâu sắc. Nó là công cụ hiệu quả để bộc lộ tâm lý phức tạp. Khái niệm này được nghiên cứu trong ngữ dụng học và lý luận văn học. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hình nhận thức về nhân vật. Việc hiểu rõ định nghĩa giúp phân biệt với các hình thức đối thoại khác. Nó cũng giúp nhận diện bút pháp nghệ thuật độc thoại của tác giả.
1.2. Phân biệt độc thoại và đối thoại
Đối thoại là sự tương tác giữa hai hoặc nhiều người. Nó có người nói và người nghe rõ ràng. Độc thoại là lời nói không hướng ra bên ngoài. Người nói và người nghe là một. Đối thoại mang tính chất giao tiếp xã hội. Độc thoại mang tính chất nội tại, suy tư. Mục đích của đối thoại là trao đổi thông tin, tương tác. Mục đích của độc thoại là tự vấn, tự giải tỏa. Tuy nhiên, ranh giới có thể mờ nhạt. Độc thoại nội tâm thường mang tính chất của một dòng ý thức trong truyện ngắn. Việc phân biệt giúp xác định đúng chức năng của lời nói.
1.3. Tiêu chí nhận diện độc thoại nội tâm hiệu quả
Nhận diện độc thoại nội tâm dựa trên nhiều tiêu chí. Chủ thể lời nói là nhân vật. Không có người nghe trực tiếp hiện diện. Nội dung lời nói thể hiện suy nghĩ riêng tư, cảm xúc cá nhân. Hình thức thể hiện có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Đôi khi là dòng ý thức miên man. Các dấu hiệu ngữ pháp, ngữ nghĩa cũng quan trọng, ví dụ, câu hỏi tu từ, cảm thán. Không gian và thời gian diễn ra độc thoại cũng là yếu tố. Nhân vật thường độc thoại khi ở một mình hoặc trong không gian riêng tư. Việc áp dụng tiêu chí này giúp phân tích chính xác. Nó định vị vai trò của ĐTNT trong tác phẩm.
II.Phân tích hành động ngôn ngữ trong Độc thoại nội tâm
Chương này khảo sát hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm. Hành động ngôn ngữ là một khái niệm trung tâm trong ngữ dụng học. Nó mô tả chức năng của lời nói. Độc thoại nội tâm không chỉ là suy nghĩ đơn thuần. Nó bao gồm nhiều hành động ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu phân loại các hành động này. Thống kê tần suất xuất hiện trong truyện Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ. Các hành động phổ biến bao gồm hỏi, khẳng định, phủ định, cảm thán, ra lệnh. Sự lựa chọn hành động ngôn ngữ không ngẫu nhiên. Nó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Ví dụ như bối cảnh, tâm trạng, tính cách nhân vật. Việc phân tích này giúp làm rõ dòng ý thức trong truyện ngắn. Nó cho thấy cách nhân vật tự thể hiện bản thân.
2.1. Hành động ngôn ngữ trong độc thoại và đối thoại
Hành động ngôn ngữ có ở cả đối thoại và độc thoại. Tuy nhiên, cách thức biểu hiện khác nhau. Trong đối thoại, hành động ngôn ngữ hướng đến người nghe. Mục đích là tác động, thuyết phục. Trong độc thoại, hành động ngôn ngữ hướng vào chủ thể. Mục đích là tự vấn, tự khẳng định. Hành động hỏi trong đối thoại cần câu trả lời. Hành động hỏi trong độc thoại thường là câu hỏi tu từ, không mong đợi đáp án. Hành động ra lệnh trong đối thoại là mệnh lệnh cho người khác. Trong độc thoại, đó là sự tự nhắc nhở, tự ra quyết định. Phân biệt này giúp hiểu sâu hơn chức năng của ĐTNT và thế giới nội tâm nhân vật.
2.2. Thống kê hành động ngôn ngữ tiêu biểu
Nghiên cứu thống kê các loại hành động ngôn ngữ. Dữ liệu lấy từ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ. Các hành động như hỏi, khẳng định, phủ định chiếm tỷ lệ cao. Hành động hỏi thường thể hiện sự băn khoăn, tìm kiếm. Hành động khẳng định thể hiện sự chắc chắn, tự tin. Hành động phủ định thể hiện sự phản đối, chối bỏ. Bảng thống kê cho thấy sự khác biệt giữa các tác giả. Nguyễn Minh Châu thường có các câu hỏi triết lý. Nguyễn Huy Thiệp có các khẳng định sắc lạnh, hiện thực. Nguyễn Thị Thu Huệ bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ, thể hiện yếu tố nữ quyền.
2.3. Nhân tố chi phối lựa chọn hành động ngôn ngữ
Việc lựa chọn hành động ngôn ngữ chịu tác động bởi nhiều nhân tố. Tình huống truyện là một yếu tố quan trọng. Hoàn cảnh sống của nhân vật cũng ảnh hưởng. Tâm trạng nhân vật quyết định cách diễn đạt. Một nhân vật đang bối rối sẽ hỏi nhiều. Một nhân vật đang quyết tâm sẽ khẳng định. Đặc điểm tính cách cũng tác động. Người trầm tĩnh thường có độc thoại sâu sắc. Người quyết đoán có độc thoại mạnh mẽ. Giới tính nhân vật cũng tạo ra sự khác biệt. Nữ giới thường biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn. Nam giới thường có xu hướng phân tích, lý giải. Những yếu tố này tạo nên sự đa dạng cho độc thoại nội tâm và tâm lý nhân vật văn học.
III.Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm Phân tích sâu sắc
Chương này đi sâu vào ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm. Ngữ nghĩa là ý nghĩa nội tại của lời nói. Độc thoại nội tâm không chỉ là cấu trúc ngữ pháp. Nó còn mang chứa nhiều tầng lớp ý nghĩa. Việc phân tích ngữ nghĩa giúp giải mã thông điệp ẩn chứa. Các nhân tố bên ngoài và bên trong đều chi phối ngữ nghĩa. Không gian, thời gian, trạng thái tâm lý nhân vật là các yếu tố bên ngoài. Nội dung suy tư, cảm xúc là yếu tố bên trong. Nghiên cứu phân loại các nhóm ngữ nghĩa. Từ ngữ nghĩa về bản thân nhân vật đến ngữ nghĩa về thế giới khách quan. Nó giúp hiểu rõ hơn thế giới nội tâm nhân vật. Đồng thời, nó làm nổi bật bút pháp nghệ thuật độc thoại, là một phần quan trọng của phân tích truyện ngắn Việt Nam.
3.1. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa độc thoại
Ngữ nghĩa của lời độc thoại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không gian độc thoại là một yếu tố then chốt. Độc thoại ở không gian riêng tư khác với không gian công cộng. Thời gian độc thoại cũng quan trọng. Độc thoại ban đêm thường mang tính suy tư, hoài niệm. Trạng thái tâm lý chủ thể quyết định sắc thái ngữ nghĩa. Vui vẻ, buồn bã, lo âu đều tạo ra ý nghĩa khác nhau. Bối cảnh xã hội, văn hóa cũng ảnh hưởng đến cách nhân vật suy nghĩ. Những nhân tố này tạo nên sự phong phú cho độc thoại nội tâm và phản ánh tâm lý nhân vật văn học.
3.2. Nhóm ngữ nghĩa về bản thân nhân vật
Độc thoại nội tâm thường chứa đựng các ý nghĩa liên quan đến bản thân. Nhân vật tự vấn về quá khứ, hiện tại, tương lai. Họ tự đánh giá bản thân, năng lực, phẩm chất. Những suy tư này bộc lộ sự tự nhận thức. Nó cũng thể hiện những đấu tranh nội tâm. Các vấn đề về giá trị sống, mục đích tồn tại thường xuất hiện. Đây là cách nhân vật tự khám phá mình. Nó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tính cách, động cơ của nhân vật. Đây là một khía cạnh quan trọng của thế giới nội tâm nhân vật và tâm lý nhân vật văn học.
3.3. Nhóm ngữ nghĩa về thế giới khách quan và triết lý
Độc thoại không chỉ xoay quanh bản thân. Nó còn mở rộng ra thế giới khách quan. Nhân vật suy tư về các mối quan hệ xã hội. Họ bộc lộ quan điểm về người khác. Các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống được nhìn nhận qua lăng kính cá nhân. Độc thoại còn mang chứa các nội dung triết lý nhân sinh. Các câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời, số phận, hạnh phúc. Nguyễn Minh Châu thường dùng độc thoại để chuyển tải những suy tư triết lý. Nguyễn Huy Thiệp thể hiện cái nhìn hiện thực về xã hội. Nguyễn Thị Thu Huệ phản ánh các vấn đề nữ quyền.
IV.Vai trò Độc thoại nội tâm trong truyện Nguyễn Minh Châu Huy Thiệp
Chương này tổng kết vai trò của độc thoại nội tâm. ĐTNT là một kỹ thuật trần thuật hiện đại. Nó có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân vật. ĐTNT biểu hiện sâu sắc tâm lý và tính cách nhân vật. Nó cho phép độc giả thâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật. ĐTNT cũng định hướng hành động của nhân vật. Lời độc thoại thường chứa đựng các lập luận, quyết định. Nó giúp giải thích động cơ hành vi. ĐTNT thể hiện phạm vi hiện thực trong tác phẩm. Sắc thái giới tính trong độc thoại cũng được làm rõ. Nó còn góp phần khắc họa phong cách ngôn ngữ của tác giả. Cuối cùng, ĐTNT thể hiện sự đổi mới thi pháp truyện ngắn.
4.1. Biểu hiện tâm lý tính cách và định hướng hành động nhân vật
Độc thoại nội tâm là cửa sổ tâm hồn nhân vật. Nó thể hiện trực tiếp những giằng xé, mâu thuẫn bên trong. Nhân vật bộc lộ nỗi niềm, ước mơ, sợ hãi. Tâm lý phức tạp được phơi bày qua dòng ý thức miên man. Tính cách nhân vật cũng được định hình. Người nhút nhát hay mạnh mẽ đều có cách độc thoại riêng. Lời độc thoại thường là nền tảng cho hành động. Các quyết định quan trọng thường xuất phát từ những suy tư nội tâm. Nó giải thích tại sao nhân vật hành động theo một cách nhất định, là một phần quan trọng của tâm lý nhân vật văn học.
4.2. Thể hiện phạm vi hiện thực và sắc thái giới tính
Độc thoại nội tâm không chỉ là của riêng nhân vật. Nó phản ánh hiện thực rộng lớn xung quanh. Các vấn đề xã hội, văn hóa được lồng ghép qua suy nghĩ nhân vật. Độc thoại cũng làm nổi bật sắc thái giới tính. Nhân vật nam và nữ có xu hướng độc thoại khác nhau. Nhân vật nữ thường bộc lộ cảm xúc, quan tâm đến các mối quan hệ. Nhân vật nam có xu hướng lý trí, suy tư về các vấn đề lớn. Sự khác biệt này thể hiện trong cách dùng từ, hành động ngôn ngữ. Nguyễn Thị Thu Huệ đặc biệt khai thác khía cạnh nữ quyền này, trong khi Nguyễn Huy Thiệp phản ánh hiện thực đa chiều.
4.3. Khắc họa phong cách tác giả và đổi mới thi pháp
Độc thoại nội tâm là dấu ấn phong cách tác giả. Nguyễn Minh Châu dùng độc thoại để đào sâu triết lý. Nguyễn Huy Thiệp dùng nó để phản ánh hiện thực trần trụi. Nguyễn Thị Thu Huệ dùng nó để thể hiện khát vọng nữ quyền. Bút pháp nghệ thuật độc thoại tạo nên sự độc đáo cho mỗi nhà văn. Nó cũng góp phần vào sự đổi mới thi pháp truyện ngắn. Từ việc kể chuyện tuyến tính, truyện ngắn chuyển sang khai thác chiều sâu tâm lý. Độc thoại nội tâm là yếu tố quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, minh chứng cho kỹ thuật trần thuật hiện đại.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (225 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 Lê Thị Sao Chi Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 62.01 Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Vinh 2 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 6 1. Lý do chọn đề tài 6 2. Lịch sử vấn đề 7 3. Đối tượng nghiên cứu và nguồn dẫn liệu 16 4.
Nhiệm vụ nghiên cứu 16 5. Phương pháp nghiên cứu 17 6. Đóng góp của đề tài 18 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 20 1. Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan đến lời độc thoại nội tâm 20 1.
Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn 24 1. Tiêu chí nhận diện lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ 39 1. Tiểu kết chương 1 58 Chương 2: CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ CỦA LỜI ĐỘC THOẠI NỘI TÂM NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN HUY THIỆP, NGUYỄN THỊ THU HUỆ 60 2. Khái niệm hành động ngôn ngữ 60 2.
Phân biệt hành động ngôn ngữ trong đối thoại và hành động ngôn ngữ trong độc thoại 61 2. Tiêu chí xác định loại hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật 71 2. Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ 74 2. Những nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của lời độc 3 thoại nội tâm 97 2.
Tiểu kết chương 2 108 Chương 3: NGỮ NGHĨA LỜI ĐỘC THOẠI NỘI TÂM NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN HUY THIỆP, NGUYỄN THỊ THU HUỆ 110 3. Khái niệm ngữ nghĩa của lời 110 3. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm 113 3. Các nhóm ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm 132 3.
Tiểu kết chương 3 158 Chương 4: VAI TRÒ CỦA LỜI ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN HUY THIỆP, NGUYỄN THỊ THU HUỆ 160 4. Vai trò biểu hiện tâm lý và tính cách nhân vật trong tính đối thoại của lời độc thoại nội tâm 160 4. Vai trò định hướng hành động nhân vật trong cấu tạo lập luận của lời độc thoại nội tâm 166 4. Vai trò thể hiện phạm vi hiện thực trong tác phẩm qua sắc thái giới tính của lời độc thoại nội tâm 176 4.
Vai trò khắc họa phong cách ngôn ngữ tác giả của lời độc thoại nội tâm 191 4. Vai trò thể hiện sự đổi mới thi pháp truyện ngắn của lời độc thoại nội tâm 195 4. Tiểu kết chương 4 200 KẾT LUẬN 203 TÀI LIỆU THAM KHẢO 207 4 MỤC LỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ Trang Bảng 2. Tần số xuất hiện của lời độc thoại nội tâm 74 Bảng 2.
Các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ 75 Bảng 2. Các hành động ngôn ngữ tiêu biểu trong lời độc thoại nội tâm 98 Bảng 2. So sánh tương quan số lượng giữa hành động hỏi và hành động khẳng định trong lời độc thoại nội tâm của nhân vật 107 Bảng 3. Không gian độc thoại 116 Bảng 3.
Các không gian công cộng phổ biến 119 Bảng 3. Các nội dung độc thoại trong không gian gia đình 121 Bảng 3. Các không gian gia đình phổ biến 122 Bảng 3. Thời gian độc thoại 123 Bảng 3.
Trạng thái tâm lý chủ thể khi độc thoại nội tâm 128 Bảng 3. Các loại trạng thái tâm lý dương tính 128 Bảng 3. Các loại trạng thái tâm lý âm tính 130 Bảng 3. Các nhóm ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm 134 Bảng 3.
Các phương diện tìm hiểu về bản thân của chủ thể độc thoại 135 Bảng 3. Các mối quan hệ giữa chủ thể độc thoại với những người xung quanh 143 Bảng 3. Những sự vật, hiện tượng khách quan được đề cập trong lời độc thoại nội tâm 148 5 Bảng 3. Các nội dung triết lý nhân sinh trong lời độc thoại nội tâm 152 Bảng 3.
Các sắc thái tình yêu trong lời độc thoại nội tâm 154 Bảng 4. Vị trí của kết luận trong lập luận 169 Bảng 4. Tổ chức lập luận trong lời độc thoại nội tâm 175 Bảng 4. Số lượng hành động hỏi trong lời độc thoại nội tâm của nhân vật nam và nhân vật nữ 181 Bảng 4.
Số lượng hành động khẳng định, hành động phủ định trong lời độc thoại nội tâm của nhân vật nam và nhân vật nữ 182 Bảng 4. Các từ, cụm từ biểu thị khả năng trong lời độc thoại nội tâm các nhân vật nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ 186 Bảng 4. Các từ, cụm từ biểu thị cách diễn đạt khẳng định/ phủ định trong lời độc thoại nội tâm các nhân vật nam của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp 187 6 BẢNG CHÚ THÍCH VIẾT TẮT TT Nội dung viết tắt Ký hiệu viết tắt 1 Độc thoại nội tâm ĐTNT 2 Nguyễn Minh Châu NMC 3 Nguyễn Huy Thiệp NHT 4 Nguyễn Thị Thu Huệ NTTH 7 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.
Lời nói là khái niệm có ý nghĩa tiền đề, là đối tượng nghiên cứu trung tâm của ngữ dụng học. Không nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng tĩnh với những quy luật và cấu trúc cứng nhắc, bất biến, ngữ dụng học chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những ngữ cảnh và người dùng khác nhau. Hướng tiếp cận này cho phép ngữ dụng học có thể nhận ra những dạng thức, quy luật hành chức sinh động và đa dạng của ngôn ngữ. Khi giao tiếp, lời nói được tổ chức thành hai dạng: lời đối thoại và lời độc thoại nội tâm (ĐTNT).
Lời đối thoại luôn thể hiện mối quan hệ tương tác giữa người nói và người nghe trực tiếp, hiện diện trực quan trong quá trình nói năng. Do vậy, nó là nguồn tư liệu quan trọng để ngữ dụng học tìm ra những nguyên tắc, đặc tính hành chức của ngôn ngữ. Trong đời sống thực, lời ĐTNT thường diễn ra ngầm ẩn, không hướng đến người nghe nào khác ngoài chính bản thân chủ thể độc thoại. Nó là dạng lời thoại được người nói sử dụng để giao tiếp với chính mình - người nghe đặc biệt.
Những đặc điểm này khiến việc nghiên cứu lời ĐTNT từ lý thuyết hội thoại hầu như còn bỏ trống. Lời ĐTNT tồn tại khá phổ biến trong thực tế sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, nhưng nó chỉ hiện diện rõ ràng, cụ thể ở tác phẩm nghệ thuật (kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn). Sự tái hiện ĐTNT vào tác phẩm nghệ thuật tất yếu không thể đảm bảo tuyệt đối tính khách quan, nguyên bản của dạng lời nói này nhưng trên một mức độ nhất định, các nhà văn luôn phải tôn trọng các đặc tính bản chất, các nguyên tắc nảy sinh và sự hành chức của nó. Vì thế, khi chưa có điều kiện vật chất hoá lời ĐTNT ở đời sống thực, lời ĐTNT trong tác phẩm nghệ thuật là một nguồn tư liệu đủ tin cậy cho phép việc nghiên cứu về nó có thể đạt được những kết quả cơ bản bước đầu.
Đồng thời, tìm hiểu dạng lời nói này trong tác phẩm văn học cũng là tìm hiểu cách thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, góp phần nhận diện phong cách ngôn ngữ tác giả. Sau 1975, văn học Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, có những chuyển đổi mạnh mẽ về tư tưởng và phương pháp sáng tác. Các tác phẩm tập trung thể hiện cuộc sống của con người cá nhân, những hậu quả mà chiến tranh để lại trong thời bình. Trong sự đổi mới đó, thể loại truyện ngắn đã đạt được nhiều thành quả nhất.
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiên phong của tiến trình đổi mới văn học. Truyện ngắn của ông, ngay từ những năm đầu của thập niên 80 (thế kỷ 20), đã bộc lộ rõ khát vọng khám phá đời sống nội tâm con người trong thời đại mới, đặc biệt là người lính trở về sau chiến tranh. Lời ĐTNT nhân vật là một phương tiện ngôn ngữ được ông sử dụng rất hiệu quả để phản ánh phạm vi hiện thực này, góp phần tạo nên dấu ấn phong cách độc đáo của tác giả. So với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thị Thu Huệ là những nhà văn thuộc về thế hệ sau.
Trong những năm 90 (thế kỷ 20), đây là hai tác giả truyện ngắn nổi tiếng. Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất sắc sảo, thể hiện nổi bật trong lời thoại nhân vật. Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ giàu nữ tính, phù hợp với việc tái hiện cuộc sống tâm hồn, tình cảm của các nhân vật nữ. Khảo sát lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn của họ sẽ cho phép sự nghiên cứu về dạng lời nói này trở nên toàn diện, đầy đủ hơn.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra nói trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ. Lịch sử vấn đề 2. Những kết quả nghiên cứu có tính chất tiền đề về độc thoại nội tâm (monologue intérieur) Mặc dù độc thoại xuất hiện từ khá sớm (gắn liền với sự ra đời của kịch - một loại hình nghệ thuật sân khấu) nhưng ĐTNT chỉ bắt đầu được chú ý vào những năm cuối thế kỷ 18 và thực sự được tập trung nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Những tiểu thuyết phương Tây hiện đại như: Ulysse (James Joyce); Đi tìm thời gian đã mất (M.
Proust); Thời gian khổ (Dickens) đã sử dụng ĐTNT với tư cách là một “phương 9 tiện” đã tới kịp vừa may để diễn đạt căn bệnh mới của thế kỷ trong tiểu thuyết mới [25, tr. Sự xuất hiện của ĐTNT một cách dày đặc và mới lạ trong tiểu thuyết hiện đại đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ở ngoài nước cũng như trong nước. Những kết quả nghiên cứu về độc thoại nội tâm ở ngoài nước Vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu ở nước ngoài đặt ra là xác định tư cách tồn tại của ĐTNT trong tiểu thuyết và truyện ngắn. Có thể khái quát kết quả nghiên cứu về vấn đề này thành hai xu hướng cơ bản: ĐTNT với tư cách là một kỹ thuật, một thủ pháp của nhà văn trong xây dựng tác phẩm và ĐTNT với tư cách là một dạng lời thoại, được nhân vật sử dụng để thực hiện sự giao tiếp.
Tiêu biểu cho xu hướng thứ nhất là quan điểm của hai tác giả Wiliam Flin Thrall và Mario Klarer.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Lê Thị Sao Chi (n.d.). Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Vinh]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/khao-sat-loi-doc-thoai-noi-tam-nhan-vat-trong-truyen-ngan-nguyen-minh-chau
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích nghệ thuật độc thoại nội tâm trong truyện ngắn ba nhà văn tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ.
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Vinh.
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" có 225 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.