Luận án tiến sĩ về hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Khám phá hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua luận án tiến sĩ, mang lại cái nhìn sâu sắc về văn hóa.
Năm xuất bản
Số trang
165
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Tổng quan hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử
Biểu tượng hiện hữu trong đời sống con người từ thuở sơ khai. Chúng phản ánh nhận thức về tự nhiên, xã hội. Từ xã hội nguyên thủy đến hiện đại, biểu tượng luôn là công cụ chức năng xã hội. Chúng phát triển cùng trình độ tư duy con người. Thế giới biểu tượng ngày càng phong phú, sinh động. Biểu tượng là nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc. Hệ thống biểu tượng không tồn tại độc lập. Chúng xuyên thấu vào nhau, mang bản sắc thời đại. Chúng cũng không ngừng bổ sung giá trị qua lịch sử phát triển. Biểu tượng có mặt trong phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo. Chúng cũng tồn tại phong phú trong tác phẩm nghệ thuật. Biểu tượng là đơn vị ngôn ngữ đặc biệt. Chúng thực hiện chức năng giao tiếp, kết nối mỹ học sáng tạo và tiếp nhận. Luận án này nghiên cứu hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam.
1.1. Tầm quan trọng của biểu tượng văn học nghệ thuật
Biểu tượng không chỉ là hiện tượng văn hóa. Nó còn là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt trong sáng tạo nghệ thuật. Biểu tượng thực hiện chức năng giao tiếp. Nó gắn kết mỹ học sáng tạo và mỹ học tiếp nhận. Nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm đa dạng. Có nghĩa định danh, biểu vật, biểu niệm, biểu cảm. Đặc biệt, có nghĩa “siêu niệm”. Tầng nghĩa này mang tính phổ quát cộng đồng. Nó cũng thể hiện cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Biểu tượng lưu giữ nguồn gốc khởi thủy. Nó phảng phất vốn văn hóa, vốn sống của nhà văn. Tư duy nghệ thuật mỗi thời đại chi phối. Tầng nghĩa này không giống nhau qua cách tiếp cận đồng đại và lịch đại.
1.2. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận hệ biểu tượng
Luận án tiếp cận vấn đề biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử. Thế giới biểu tượng là một phương tiện nghệ thuật quan trọng. Nó thực hiện chức năng chuyển tải nội dung tư tưởng. Biểu tượng tự thân gắn liền với nội dung nhất định. Nội dung đó làm bình diện biểu hiện cho nội dung khác. Các biểu tượng nghệ thuật không thuộc điển cố, điển tích. Chúng không phải ký hiệu chỉ dẫn. Biểu tượng có thể hình thành từ cổ mẫu. Chúng mang tâm thức văn hóa cộng đồng. Biểu tượng cũng từ khả năng sáng tạo mới của nghệ sĩ. Đây là một đơn vị ngôn ngữ. Nó thực hiện chức năng giao tiếp xã hội. Biểu tượng tái tạo, cô đúc các giá trị văn hóa qua các thời đại.
1.3. Chức năng và ý nghĩa của biểu tượng nghệ thuật
Trong thực tiễn sáng tác, biểu tượng chuyển tải quan điểm. Nó thể hiện quan điểm nhà văn về văn hóa, lịch sử dân tộc. Biểu tượng tham gia vào quá trình liên kết văn bản. Nó đóng vai trò xây dựng tính cách nhân vật. Đối với văn học đương đại Việt Nam, tiểu thuyết lịch sử có đóng góp lớn. Khái niệm 'đương đại' chỉ mốc thời gian ấn hành tác phẩm. Nó cũng nói đến sự đổi mới phương thức phản ánh. Nó thể hiện nội dung phản ánh trong tác phẩm nghệ thuật. Sự đổi mới này làm giàu thêm thi pháp tiểu thuyết.
II. Biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Hệ biểu tượng tự nhiên đóng vai trò thiết yếu. Chúng kiến tạo nên thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. Các yếu tố tự nhiên như Nước, Lửa, Đất, Trời không chỉ là cảnh vật. Chúng trở thành những hình tượng nghệ thuật mang ý nghĩa sâu sắc. Biểu tượng tự nhiên thường bắt nguồn từ cổ mẫu văn hóa. Chúng được tái hiện và biến đổi. Điều này phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể. Chúng thể hiện tầm nhìn và tư tưởng của nhà văn. Việc phân tích các biểu tượng này giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ tiểu thuyết. Nó cũng làm rõ cách tác phẩm tái hiện lịch sử. Biểu tượng tự nhiên góp phần vào thi pháp tiểu thuyết, tạo nên sự phong phú cho tác phẩm.
2.1. Các hình tượng tự nhiên cốt lõi Nước Lửa Đất Trời
Biểu tượng Nước tượng trưng cho khởi nguồn. Nó gắn liền với sự sống, sự linh hoạt. Nước còn là dòng chảy lịch sử liên tục. Lửa đại diện cho sức mạnh, hủy diệt. Lửa cũng là sự tái sinh, tinh thần chiến đấu. Biểu tượng Đất gắn với nguồn cội, quê hương. Nó thể hiện sự vững chãi, bền bỉ của dân tộc. Trời là biểu tượng của quyền lực tối cao. Nó liên quan đến định mệnh, thiên mệnh. Trời còn là sự bao la, vĩnh hằng. Các yếu tố này không đơn thuần là miêu tả. Chúng được nâng lên thành ký hiệu học văn hóa. Chúng mang ý nghĩa ẩn dụ nghệ thuật, góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật độc đáo.
2.2. Phương thức kiến tạo biểu tượng tự nhiên trong văn học
Việc kiến tạo hệ biểu tượng tự nhiên rất đa dạng. Các nhà văn khai thác từ truyền thuyết, huyền thoại. Họ dựa vào tín ngưỡng dân gian lâu đời. Biểu tượng được cụ thể hóa qua bối cảnh lịch sử. Cảnh vật thiên nhiên được nhân hóa. Chúng mang ý nghĩa biểu tượng rõ ràng. Ngôn ngữ tiểu thuyết đóng vai trò trung tâm. Ngôn ngữ giúp truyền tải lớp nghĩa sâu xa. Biểu tượng tự nhiên không chỉ miêu tả. Chúng còn thể hiện tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Chúng gợi mở cảm xúc, suy tư cho độc giả. Sự tái hiện lịch sử trở nên sống động hơn. Biểu tượng này góp phần làm giàu thi pháp tiểu thuyết.
III. Hình tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Hệ biểu tượng con người là một phần quan trọng. Chúng định hình giá trị, tư tưởng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. Các nhân vật không chỉ là cá thể. Họ đại diện cho các phẩm chất, vai trò xã hội. Họ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Điều này giúp độc giả hiểu rõ hơn về con người. Hiểu về các thời đại lịch sử được tái hiện. Việc xây dựng hình tượng nghệ thuật này thể hiện tài năng nhà văn. Nó còn phản ánh cách nhìn nhận lịch sử của tác giả. Hệ thống hình tượng này góp phần quan trọng vào ngôn ngữ tiểu thuyết. Chúng tạo nên sức hút cho tác phẩm.
3.1. Các biểu tượng nhân vật Minh quân kẻ sĩ liệt nữ
Các tiểu thuyết lịch sử thường xây dựng những biểu tượng nhân vật. Minh quân là biểu tượng của người lãnh đạo tài ba. Họ là hiện thân của trí tuệ, lòng yêu nước. Kẻ sĩ là biểu tượng của giới trí thức. Họ mang trong mình khí phách, lý tưởng cao cả. Kẻ sĩ đại diện cho lương tâm thời đại. Liệt nữ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam. Họ kiên cường, bất khuất, giàu lòng hy sinh. Các nhân vật này vượt lên trên cá nhân. Họ trở thành những biểu tượng văn học. Chúng truyền tải những giá trị lịch sử, văn hóa bền vững. Chúng thể hiện tinh thần dân tộc qua các thời kỳ.
3.2. Cách xây dựng hệ biểu tượng con người
Nhà văn xây dựng biểu tượng con người rất công phu. Họ kết hợp giữa sử liệu và hư cấu nghệ thuật. Hành động, lời nói, nội tâm nhân vật được khắc họa chi tiết. Các nhân vật không chỉ kể chuyện lịch sử. Họ còn truyền tải tư tưởng, đạo đức sâu sắc. Sự xung đột, bi kịch định hình tính cách nhân vật. Ngôn ngữ tiểu thuyết đóng vai trò then chốt. Ngôn ngữ giúp nhân vật sống động. Chúng trở thành hình tượng nghệ thuật điển hình. Cách xây dựng này góp phần tái hiện lịch sử chân thực. Nó cũng tạo ra sự đồng cảm nơi độc giả. Thi pháp tiểu thuyết được làm giàu.
IV. Biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử
Biểu tượng văn hóa cộng đồng là kho tàng vô giá. Chúng thể hiện bản sắc dân tộc trong tiểu thuyết lịch sử. Các yếu tố như tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội không chỉ là chi tiết. Chúng trở thành những biểu tượng mạnh mẽ. Chúng mang ý nghĩa ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc. Các biểu tượng này giúp tái hiện không khí lịch sử. Chúng cho thấy đời sống tinh thần của con người. Điều này làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Việc phân tích chúng giúp khám phá ký hiệu học văn hóa Việt Nam. Nó cũng làm rõ cách nhà văn sử dụng ngôn ngữ tiểu thuyết. Mục đích là để tái hiện và giải thích lịch sử.
4.1. Biểu tượng tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội
Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng. Chúng phản ánh niềm tin, tâm thức cộng đồng. Tôn giáo mang lại chiều sâu tâm linh. Chúng định hình đạo đức xã hội qua các thời kỳ. Lễ hội là không gian văn hóa đặc trưng. Chúng tái hiện phong tục, tập quán cổ xưa. Lễ hội là nơi gắn kết cộng đồng. Chúng thể hiện sự hưng thịnh, suy tàn của một triều đại. Các biểu tượng này không chỉ là yếu tố trang trí. Chúng là cốt lõi trong hệ thống hình tượng. Chúng giúp làm sống lại quá khứ. Chúng cung cấp cái nhìn đa chiều về lịch sử. Đây là những biểu tượng văn học đầy sức gợi.
4.2. Phương pháp kiến tạo biểu tượng văn hóa cộng đồng
Nhà văn kiến tạo biểu tượng văn hóa cẩn trọng. Họ nghiên cứu sâu về lịch sử văn hóa. Họ lồng ghép các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo. Các nghi lễ, lễ hội được mô tả chi tiết. Chúng mang tính biểu tượng cao. Việc sử dụng các ký hiệu học văn hóa là cần thiết. Biểu tượng văn hóa không chỉ là phông nền. Chúng là yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật. Chúng thể hiện bản sắc độc đáo của dân tộc. Chúng mang tính ẩn dụ nghệ thuật. Ngôn ngữ tiểu thuyết giúp biểu tượng trở nên sinh động. Chúng góp phần vào thi pháp tiểu thuyết. Chúng làm sâu sắc thêm nội dung tác phẩm.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (165 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN THANH LIÊM HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM HÀ NỘI, 2020 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Lời cam đoan Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các dẫn liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng. Những phát hiện trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. ĐOÀN THANH LIÊM Tác giả luận án Đoàn Thanh Liêm HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9.
21 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP HÀ NỘI, 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đăng Điệp. Các kết quả nêu ra trong luận án là hoàn toàn trung thực; các kết luận được đưa ra chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2020 Tác giả Đoàn Thanh Liêm MỤC LỤC MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN. Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử. Cơ sở lí thuyết và hướng tiếp cận của luận án.
HỆ BIỂU TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM. Các biểu tượng Nước, Lửa, Đất, Trời. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. HỆ BIỂU TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM.
Các biểu tượng đấng minh quân, kẻ sĩ, liệt nữ. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. HỆ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM. Các biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội.
Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam .143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài 1. Biểu tượng hiện hữu trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người biết tư duy về tự nhiên và xã hội với những hình ảnh đơn giản nhất. Từ xã hội nguyên thủy cho đến xã hội văn minh, từ con người tiền sử cho đến con người hiện đại, biểu tượng luôn được tạo ra như là một công cụ thực hiện chức năng xã hội, thể hiện nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội.
Cùng với trình độ tư duy của con người ngày càng phát triển, thế giới biểu tượng càng ngày được thiết tạo phong phú và sinh động, sử dụng rộng rãi trên các mặt đời sống xã hội. Biểu tượng “không chỉ là hiện tượng văn hóa thông thường, hệ thống biểu tượng là nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc” [31, tr. Hệ thống biểu tượng ấy không hề tồn tại độc lập mà xuyên thấu vào nhau vừa mang bản sắc văn hóa của thời đại mà nó được sản sinh ra vừa không ngừng được bổ sung các giá trị qua lịch sử phát triển. Biểu tượng không chỉ có trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, trong chính trị, hoạt động quảng cáo sản phẩm… mà biểu tượng cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật rất phong phú, đa dạng.
Nó không chỉ là một hiện tượng văn hóa mà còn là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, thực hiện chức năng giao tiếp gắn kết giữa mĩ học sáng tạo và mĩ học tiếp nhận. Nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm không chỉ có nghĩa định danh, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm mà còn có nghĩa “siêu niệm”. Tầng nghĩa ấy vừa mang tính phổ quát cộng đồng vừa mang cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trước thời đại, vừa lưu giữ nguồn gốc khởi thuỷ của nó vừa phảng phất vốn văn hoá, vốn sống của mỗi nhà văn, sự chi phối của tư duy nghệ thuật mỗi thời đại. Đặc biệt hơn, tầng nghĩa ấy không bao giờ giống nhau qua cách tiếp cận đồng đại và lịch đại.
Về mặt nhận thức, có nhiều phương tiện thực hiện chức năng chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học. Trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, thế giới biểu tượng là một phương tiện nghệ thuật thực hiện chức năng đó. Biểu tượng tự thân nó gắn liền với nội dung (tư tưởng, lịch sử, văn 1 hóa…) nào đó, đến lúc nội dung đó làm bình diện biểu hiện cho một nội dung khác cùng cấp độ hoặc khác cấp độ giá trị trong tác phẩm nghệ thuật. Những biểu tượng nghệ thuật ở đây không thuộc về điển cố, điển tích, không thuộc về ký hiệu chỉ dẫn, nó có thể hình thành từ những cổ mẫu mang tâm thức văn hoá cộng đồng, từ khả năng sáng tạo biểu tượng mới của người nghệ sĩ… Nó là một đơn vị ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp xã hội với việc tái tạo, cô đúc các giá trị văn hóa đi qua các thời đại lịch sử, thiết chế xã hội.
Trong thực tiễn sáng tác, cùng với ngôn ngữ, biểu tượng thực hiện chức năng chuyển tải quan điểm của nhà văn về văn hóa, lịch sử dân tộc, tham gia vào quá trình liên kết văn bản, xây dựng tính cách nhân vật. Đối với nền văn học đương đại Việt Nam (khái niệm đương đại mà chúng tôi sử dụng vừa dùng để chỉ mốc thời gian ấn hành các tác phẩm, đồng thời nói đến với sự đổi mới phương thức phản ánh và nội dung phản ánh trong tác phẩm nghệ thuật…), thể tài tiểu thuyết lịch sử có những đóng góp lớn, để lại dấu ấn sâu sắc. Minh chứng cho điều này là sự “thắng thế” của các tiểu thuyết lịch sử qua các lần trao giải và rất nhiều diễn đàn văn học bàn luận về tác giả và tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc trưng phức hợp.
Thể tài văn học này lấy hiện thực lịch sử làm chất liệu “xương cốt” và hư cấu nghệ thuật làm “hồn phách” tinh anh của tác phẩm. Đối tượng thẩm mĩ thường được các nhà văn hướng đến là những chi tiết, sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử được thời gian và các tầng lớp nhân dân phủ bóng trầm tích văn hóa trong quá trình tiếp nhận. Nhà văn sử dụng đặc trưng hư cấu để làm sáng tỏ thêm những góc khuất lịch sử trên tinh thần của thời đại ngày nay, qua đó nhắn gởi những thông điệp đến đời sống đương đại và mai sau. Trong thời gian qua, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình khoa học chỉ ra tiến trình vận động, phát triển, diện mạo, đặc điểm, các phương thức biểu đạt của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói chung, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam nói riêng từ góc nhìn lí luận loại thể văn học.
Cốt lõi của các tác phẩm thuộc thể tài văn học này là thành tố lịch sử và văn hóa thì chưa có công trình nghiên cứu nào bàn luận sâu rộng, chuyên biệt. Chỉ có một số bài viết bàn đến yếu tố văn hoá, lịch sử, đề cập 2 đến biểu tượng trong một tác phẩm cụ thể nào đó… Trước bối cảnh văn hóa và văn học thế giới đang xóa nhòa những khoảng cách, có khả năng chồng xếp và bị hút lẫn nhau, việc nghiên cứu thế giới biểu tượng nhằm khám phá chiều sâu địa tầng văn hoá, lịch sử nhân loại và dân tộc qua hệ thống tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam là rất cần thiết. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu - Khám phá những giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc Việt qua các hệ biểu tượng.
- Trong quá trình khảo sát và phân tích các biểu tượng, chúng tôi sẽ làm rõ một số luận điểm có ý nghĩa định vị giá trị biểu tượng và sự kết nối các giá trị ấy với vấn đề đời sống xã hội, con người đương đại. Nhiệm vụ nghiên cứu - Luận án sẽ giới thuyết lại một số vấn đề lý luận về biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử trên tinh thần kế thừa, phát huy các công trình đã nghiên cứu trước đó. - Luận án tập trung khảo sát, nhận diện và phân tích một số hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản: hệ biểu tượng tự nhiên, hệ biểu tượng con người, hệ biểu tượng văn hoá cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. - Luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của biểu tượng là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng - ngôn ngữ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua tư duy nghệ thuật của nhà văn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng trực tiếp mà luận án nghiên cứu là biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới. Về bản chất, biểu tượng nghệ thuật cũng là một loại ký hiệu, hàm chứa và biểu đạt vô vàn giá trị lịch sử, tư tưởng, văn hóa, của cá nhân, cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu, giải mã biểu tượng cho phép chúng ta mở rộng nhận thức, khám phá những giá trị ẩn khuất của tác phẩm, hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa nhân loại và dân tộc.
Trong văn học, biểu tượng rời xa đời sống nguyên khởi của nó để trở thành một dạng ký hiệu, một đơn vị ngôn ngữ quan trọng để kiến tạo nghĩa. Phạm vi nghiên cứu 3 Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, ở một chừng mực nào đó, luận án sẽ khảo sát tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước đó, đồng thời, so sánh với tiểu thuyết lịch sử của một số nền văn học khác để thấy rõ hơn thành tựu của tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu của luận án 4. Phương pháp hệ thống Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi tập hợp được các biểu tượng khác nhau, sắp xếp chúng theo hệ biểu tượng tương ứng để phân tích.
Phương pháp hệ thống cũng giúp chúng tôi tập hợp được các công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án. Phương pháp so sánh Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ xác định được bản chất của đối tượng nghiên cứu trong tương quan với đối tượng của các công trình nghiên cứu khác; xác định bản chất của từng loại biểu tượng trong mối quan hệ với các biểu tượng khác.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua luận án tiến sĩ, mang lại cái nhìn sâu sắc về văn hóa.
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" có 165 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.