Luận án tiến sĩ: Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới
Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới, đóng góp mới cho lý thuyết thơ Việt Nam.
Văn học Việt Nam
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
168
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Trường thơ loạn và tiến trình phát triển của Thơ mới
Trường thơ loạn là một hiện tượng văn học đột phá trong tiến trình Thơ mới 1932-1945. Xuất phát từ Bình Định, trường thơ này mang đậm tính cách tân, kết hợp yếu tố tượng trưng và siêu thực phương Tây. Các thi sĩ như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê đã góp phần định hình phong cách nghệ thuật mới. Trường thơ loạn không chỉ đổi mới tư duy sáng tác mà còn mở rộng biên giới của thơ ca Việt Nam, đưa nền văn học hội nhập với xu hướng quốc tế.
1.1. Khái quát về Thơ mới
Thơ mới (1932-1945) đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử thơ Việt. Phong trào này phá vỡ lối thơ truyền thống, tiếp nhận tư tưởng hiện đại từ châu Âu. Các nhà thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Huy tạo nên làn sóng đổi mới về ngôn ngữ, hình thức và nội dung. Thơ mới nhấn mạnh cá tính sáng tác, cảm xúc cá nhân và hình ảnh biểu tượng.
1.2. Sự hình thành Trường thơ loạn
Trường thơ loạn ra đời năm 1937, tập trung tại Bình Định. Các thi sĩ như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan mang phong cách siêu thực, dùng ngôn ngữ cường điệu và hình ảnh phi thực. Họ kết nối qua tình bạn sâu sắc, cùng chia sẻ lý tưởng nghệ thuật. Trường thơ nhanh chóng trở thành trung tâm sáng tác tân kỳ, ảnh hưởng mạnh đến Thơ mới.
1.3. Đóng góp của Trường thơ loạn
Trường thơ loạn củng cố nền tảng nghệ thuật của Thơ mới, đồng thời thiết lập giá trị biểu hiện độc đáo. Các thi sĩ đổi mới cách nhìn nhận hiện thực, sử dụng biểu tượng và ẩn dụ sâu sắc. Họ mở rộng không gian thi ca, kết hợp yếu tố tâm linh và hiện thực. Tác phẩm của Trường thơ loạn trở thành nguồn cảm hứng cho thơ ca sau này.
II. Sự hình thành Trường thơ loạn tại Bình Định
Bình Định là mảnh đất văn hóa miền Trung với truyền thống thơ ca lâu đời. Đầu thế kỷ XX, nơi đây trở thành trung tâm sáng tác của Trường thơ loạn. Các thi sĩ chọn Bình Định như nơi lưu giữ tinh thần nghệ thuật tân kỳ. Sự kết hợp giữa thiên nhiên hùng vĩ và tâm hồn lãng mạn tạo nên những tác phẩm đậm chất cá tính.
2.1. Bối cảnh lịch sử
Thế kỷ XX là thời kỳ chuyển đổi của văn hóa Việt Nam. Sự giao thoa giữa phương Đông và phương Tây tạo nên làn sóng đổi mới. Bình Định, với vị trí chiến lược, trở thành điểm giao thoa văn hóa. Các thi sĩ Thơ mới tìm đến nơi đây để tìm kiếm cảm hứng và xây dựng Trường thơ loạn.
2.2. Các thi sĩ tiêu biểu
Hàn Mặc Tử là linh hồn của Trường thơ loạn. Tác phẩm như 'Tương Tư' thể hiện nỗi đau và khát vọng vượt thời gian. Chế Lan Viên với 'Đêm nay Bác không ngủ' kết hợp yếu tố chính trị và thi ca. Bích Khê và Yến Lan mang phong cách siêu thực, sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ tinh tế.
2.3. Đặc điểm sáng tác
Trường thơ loạn ưa chuộng hình ảnh cường điệu và ngôn ngữ đối lập. Các thi sĩ sử dụng từ ngữ mạnh mẽ, kết hợp giữa hiện thực và ảo tưởng. Tác phẩm thường có nhịp điệu gấp gáp, tạo cảm giác hoang mang và kịch tính. Đây là điểm khác biệt lớn so với các trường phái Thơ mới khác.
III. Trường thơ loạn và thay đổi mô hình thế giới
Trường thơ loạn phản ánh sự chuyển dịch trong nhận thức nghệ thuật. Các thi sĩ không còn nhìn nhận hiện thực một cách khách quan mà thông qua cảm xúc chủ quan. Sự kết hợp giữa biểu tượng phương Đông và siêu thực phương Tây tạo nên hệ thống nghệ thuật độc đáo. Trường thơ mở rộng biên cương của thơ, kết nối cá nhân với vũ trụ.
3.1. Quan niệm nghệ thuật mới
Trường thơ loạn coi thi ca là công cụ thể hiện nội tâm. Các thi sĩ không quan tâm đến cấu trúc truyền thống mà tập trung vào cảm xúc. Tác phẩm như 'Tương Tư' của Hàn Mặc Tử là minh chứng cho lối diễn đạt nội tâm sâu sắc. Quan niệm này phá vỡ lối thơ cân đối của Thơ mới giai đoạn đầu.
3.2. Tư duy biểu tượng
Biểu tượng là yếu tố cốt lõi trong thơ của Trường thơ loạn. Các hình ảnh như 'tháp nghiêng', 'đêm', 'nắng' mang nhiều tầng nghĩa. Biểu tượng không chỉ mô tả hiện thực mà còn phản chiếu thế giới nội tâm. Điều này giúp thơ trở nên đa nghĩa và sâu sắc hơn.
3.3. Hệ thống biểu tượng độc đáo
Trường thơ xây dựng hệ thống biểu tượng kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Ví dụ, 'nắng' trong thơ Hàn Mặc Tử vừa là hiện thực vừa là biểu tượng cho sự sống. Biểu tượng 'đêm' thường gắn với nỗi đau và cô đơn. Sự kết hợp này tạo nên tính đa chiều cho tác phẩm.
IV. Cách tân thi pháp trong Trường thơ loạn
Trường thơ loạn đổi mới mạnh mẽ về thi pháp. Các thi sĩ phá vỡ luật lục bát truyền thống, ưa chuộng thể thơ tự do. Ngôn ngữ thơ trở nên đa dạng, kết hợp yếu tố hiện đại và cổ điển. Sự cách tân này giúp thơ phản ánh chính xác hơn trạng thái tâm hồn và thế giới xung quanh.
4.1. Không gian nghệ thuật
Trường thơ mở rộng không gian thi ca từ hiện thực đến siêu thực. Các thi sĩ mô tả không gian như một thực thể sống động. Ví dụ, 'tháp nghiêng' trong thơ Hàn Mặc Tử vừa là địa danh vừa là biểu tượng cho sự sụp đổ và hồi sinh. Không gian trở thành công cụ thể hiện nội tâm.
4.2. Ngôn ngữ hiện đại
Trường thơ ưa dùng từ ngữ mới, kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Ngôn ngữ cường điệu, ẩn dụ và đối lập tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ. Ví dụ, 'đêm' và 'nắng' trong thơ thường được đặt cạnh nhau để tăng tính biểu cảm. Ngôn ngữ trở thành công cụ thể hiện thế giới nội tâm phức tạp.
4.3. Ảnh hưởng quốc tế
Trường thơ tiếp nhận mạnh mẽ các xu hướng nghệ thuật phương Tây. Chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực ảnh hưởng rõ rệt đến thơ của Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên. Các thi sĩ kết hợp yếu tố này với văn hóa Việt Nam, tạo nên phong cách độc đáo. Ảnh hưởng quốc tế giúp thơ trở nên phong phú và đa chiều hơn.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (168 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI CHU LÊ PHƯƠNG TRƯỜNG “THƠ LOẠN” TRONG TIẾN TRÌNH THƠ MỚI LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM HÀ NỘI - 2018 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI CHU LÊ PHƯƠNG TRƯỜNG “THƠ LOẠN” TRONG TIẾN TRÌNH THƠ MỚI Ngành: Văn học Việt Nam Mã số : 9 22 01 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP HÀ NỘI - 2018 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất. Các tài liệu tham khảo trích dẫn có xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. Hà Nội, tháng 10 năm 2018 Tác giả Chu Lê Phương MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu đề tài. 33 Chương 2: TRƯỜNG “THƠ LOẠN” VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI. Các giai đoạn phát triển của Thơ mới. Sự xuất hiện Trường “thơ loạn” trên đất Bình Định đầu thế kỉ XX.
Trường “thơ loạn” – cuộc cách mạng nội tại trong phong trào Thơ mới. 67 Chương 3: TRƯỜNG “THƠ LOẠN” TRONG TIẾN TRÌNH THƠ MỚI – TỪ SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH THẾ GIỚI. Quan niệm nghệ thuật. Đặc tính tư duy.
Hệ thống biểu tượng. 98 Chương 4: TRƯỜNG “THƠ LOẠN” TRONG TIẾN TRÌNH THƠ MỚI – TỪ SỰ CÁCH TÂN THI PHÁP. Không – thời gian nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật.
148 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ. 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài 1. Chỉ trong vòng 13 năm (1932 - 1945), phong trào Thơ mới đã làm nên cuộc cách mạng trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Thơ mới tấn công vào thành trì kiên cố mười thế kỉ của thơ trung đại và tiếp nhận luồng tư tưởng mới mẻ từ phương Tây. Thơ mới cho ra đời nhiều nhà thơ tên tuổi cùng nhiều sáng tác hấp dẫn, mới lạ, sản sinh ra nhiều khuynh hướng mới… từ đó đem lại tư tưởng mới, hệ hình thi pháp mới, làm phong phú và hiện đại hóa nền thơ ca dân tộc. Với Thơ mới, thơ ca Việt Nam đã thật sự hội nhập với thơ ca hiện đại thế giới, và phong trào này được tôn vinh như một hiện tượng văn học có giá trị xuyên suốt thế kỉ XX đến nay. Trên bản đồ địa lý Việt Nam, Bình Định chỉ là một mảnh đất bình dị nhỏ hẹp ven biển miền Trung.
Nhưng trên bản đồ văn học Việt Nam, đầu thế kỉ XX, Bình Định là nơi hội tụ nhiều thi sỹ ưu tú của phong trào Thơ mới. Xuất hiện năm 1937, Trường “thơ loạn” quy tụ các thi sĩ Thơ mới nổi danh, có phong cách mới lạ, độc đáo với những thi phẩm đậm cá tính: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Yến Lan, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao. Họ không chỉ là người có cùng khuynh hướng sáng tác mà còn là những tâm hồn “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” gắn bó tương trợ sắt son. Bằng nguồn tư duy sáng tạo cùng nhiều quan điểm nghệ thuật tân kỳ, “thơ loạn” rất nhanh đã tạo bước nhảy vọt về chất lượng và cả số lượng.
Các thi sĩ “thơ loạn” đã đem đến cho thơ ca đương thời một chân trời mới lạ đậm chất tượng trưng, siêu thực phương Tây, đổi mới cách nhìn, cách cảm, cách khơi gợi, mở rộng biên giới cho thơ, thay đổi tư duy thơ. Bên cạnh việc củng cố lại các nền tảng nghệ thuật bền vững của Thơ mới, “thơ loạn” còn thiết lập cho riêng mình những giá trị biểu hiện độc đáo. Trong toàn bộ tiến trình Thơ mới, Trường “thơ loạn” muốn tìm một hướng đi mới, một sự đột phá mới sau khi phong trào ấy đã đi đến đỉnh vinh quang. Bằng nỗ lực phi thường, trường thơ này có nhiều đóng góp quyết định vào chặng đường phát triển cuối cùng, giành chiến thắng vang dội cho phong trào Thơ mới 1932 – 1945, mở ra nhiều đường hướng phát triển cho thơ Việt hiện đại, bắt kịp xu thế phát triển của thơ ca thế giới trong thế kỉ XX.
Trải qua những giai đoạn thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, Trường “thơ loạn” có lúc được ngợi ca, tôn vinh hết lời, có khi bị phủ nhận, chỉ trích gay gắt. Hiện tượng văn học này thật sự còn chứa nhiều bí ẩn. Trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, trong quá trình mở rộng cánh cửa giao lưu với văn học thế giới, Trường “thơ loạn” thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới yêu thích văn chương. “Thơ loạn” được xem là một bước cách tân đầy đột phá, có sức vang vọng đến thơ ca sau này.
Các thi sĩ của trường thơ được đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình quan tâm, được đưa vào chương trình Ngữ Văn ở trường phổ thông, trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu ở các trường đại học cao đẳng, các viện nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu Trường “thơ loạn” chủ yếu tập trung ở những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của bản thân trường thơ. Việc đặt “thơ loạn” trong toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của phong trào Thơ mới vẫn chưa nhận được quan tâm thỏa đáng. Đặt Trường “thơ loạn” trong toàn bộ tiến trình phát triển của Thơ mới, thiết nghĩ là một việc làm cần thiết và cấp bách, góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện, hoàn chỉnh về sự vận động, phát triển của “thơ loạn” - vốn là bước đột phá của Thơ mới.
Điều này có ý nghĩa khẳng định sự đóng góp tích cực của trường thơ này trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Đây không chỉ là nhiệm vụ của người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học, còn là con đường để giữ gìn, phát huy những giá trị mang tính đổi mới độc đáo của tiền nhân, góp phần tôn vinh giá trị văn học đặc sắc của quê hương Bình Định nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung trong bối cảnh thời đại mới. Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Trường “thơ loạn” trong tiến trình Thơ mới. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.
Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu Trường “thơ loạn” trong toàn bộ tiến trình phát triển của Thơ mới 1932 – 1945, trong sự so sánh với các trường nhóm khác của phong trào. Từ đó, công trình đi đến những kết luận khoa học, khách quan, khẳng định diện mạo, đặc 2 trưng, vị trí, đóng góp nhất định của trường thơ này đối với phong trào Thơ mới nói riêng và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nói chung. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện đề tài, chúng tôi hệ thống những công trình nghiên cứu về Trường “thơ loạn” từ khi trường thơ này mới bắt đầu xuất hiện năm 1937. Chương 2, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề chung về phong trào Thơ mới, sự xuất hiện và vị trí của Trường “thơ loạn” trong phong trào Thơ mới.
Các chương còn lại, chúng tôi khảo sát sự kiến tạo mô hình thế giới, thi pháp Trường “thơ loạn”. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi chú trọng đến diện mạo của hai “vòng tròn đồng tâm”: vòng tròn đồng tâm thứ nhất bên trong được hình thành bởi ba cây bút tiêu biểu Hàn Mặc Tử – Chế Lan Viên – Bích Khê, tạo nên diện mạo đặc biệt của Trường “thơ loạn”, vòng tròn đồng tâm thứ hai lớn hơn bao quanh bên ngoài do Yến Lan – Hoàng Diệp – Quỳnh Dao tạo nên, làm thành đặc trưng riêng và sự thống nhất của trường thơ. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là cơ sở hình thành, sự vận động phát triển, đặc trưng thi pháp, định hướng cách tân của Trường “thơ loạn” trong toàn bộ tiến trình Thơ mới 1932 – 1945.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận án là toàn bộ sáng tác của Trường “thơ loạn”: Hàn Mặc Tử với tập Đau thương (1938), Xuân như ý (1939), Thượng thanh khí (1940). Chế Lan Viên với tập Điêu tàn (1937). Bích Khê với tập Tinh huyết (1939). Yến Lan với tập Giếng loạn (đương thời chưa xuất bản và bản thảo đã bị thất lạc, chỉ còn lại một số bài thơ được đăng trên các báo trước 1945 và trong các tập thơ sau 1945).
Hoàng Diệp với tập Xác thu (1937). Quỳnh Dao với tập Tơ trăng (1939). 3 Những sáng tác trên của Trường “thơ loạn” được đặt trong toàn bộ tiến trình phát triển của phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Ngoài ra, chúng tôi sẽ khảo sát thêm một số tác phẩm văn xuôi, bình luận của các tác giả trong trường thơ có liên quan đến đề tài.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án Để thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây: - Phương pháp loại hình: nghiên cứu các sáng tác của Trường “thơ loạn” như một loại hình thơ cách tân trong sự chuyển biến mạnh mẽ từ khuynh hướng lãng mạn vốn chiếm ưu thế trong Thơ mới sang khuynh hướng tượng trưng và siêu thực; từ đó đưa thơ Việt hòa nhập với quỹ đạo chung của thơ hiện đại thế giới. - Phương pháp liên ngành: đặt Trường “thơ loạn” vào nhiều điểm nhìn từ những ngành khoa học khác nhau (văn hóa học – văn học, nhân học – văn hóa, ngôn ngữ học – văn học) để có sự khai phá cụ thể, toàn diện. Trong đó, đặc biệt chú ý phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học – văn học: đặt “thơ loạn” trong bối cảnh giao lưu văn hóa, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX nói chung (đất Bình Định nói riêng) với văn hóa, văn học phương Tây để thấy điều kiện nảy nở Trường “thơ loạn”, làm rõ sự tiếp nhận những ảnh hưởng từ thơ Pháp đến Thơ mới nói chung và “thơ loạn” nói riêng trên cơ sở tư tưởng, tình cảm, tôn giáo đậm bản sắc dân tộc.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới, đóng góp mới cho lý thuyết thơ Việt Nam.
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học.
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" có 168 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Trường thơ loạn trong tiến trình thơ mới luận án tiến sĩ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.