Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986: Nguyễn Mộng Giác
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Lý luận văn học
Ẩn danh
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
220
Thời gian đọc
33 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tóm tắt nội dung
I. Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam
Diễn ngôn biên sử đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của văn học Việt Nam sau Đổi Mới. Tiểu thuyết lịch sử không còn đơn thuần phản ánh sự kiện. Tác phẩm trở thành không gian tái hiện và phản biện lịch sử đa chiều. Luận án nghiên cứu ba tác giả tiêu biểu: Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh. Mỗi nhà văn xây dựng hệ thống diễn ngôn riêng biệt. Phương pháp tiếp cận chuyển từ lý thuyết phản ánh sang lý thuyết diễn ngôn. Bước ngoặt này mở ra góc nhìn mới về mối quan hệ văn học - lịch sử. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại không chỉ tái hiện lịch sử mà còn kiến tạo ý nghĩa lịch sử. Biên niên sử được kể lại qua lăng kính cá nhân và tập thể. Hư cấu lịch sử trở thành công cụ khám phá bản chất con người.
1.1. Bối cảnh văn học Việt Nam sau 1986
Năm 1986 đánh dấu thời kỳ Đổi Mới toàn diện. Văn học Việt Nam thoát khỏi khuôn mẫu cũ. Tiểu thuyết Đổi Mới khám phá lãnh thổ mới của sáng tạo. Tác giả tự do thí nghiệm hình thức và nội dung. Lịch sử không còn là đề tài cấm kỵ. Nhà văn dám đặt câu hỏi về quá khứ dân tộc. Tư liệu lịch sử được sử dụng linh hoạt hơn. Giọng điệu phản biện lịch sử xuất hiện rõ nét.
1.2. Chuyển dịch từ phản ánh đến diễn ngôn
Lý thuyết phản ánh coi văn học như gương phản chiếu hiện thực. Bước ngoặt ngôn ngữ thay đổi cách nhìn này. Ngôn ngữ không phản ánh mà kiến tạo thực tại. Diễn ngôn biên sử là cách thức tổ chức và trình bày lịch sử. Mỗi diễn ngôn mang một thế giới quan riêng. Tiểu thuyết lịch sử trở thành đấu trường của các diễn ngôn. Tác phẩm không tìm kiếm chân lý duy nhất mà khám phá đa dạng ý nghĩa.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung ba tác giả đại diện ba mô hình diễn ngôn. Hoàng Quốc Hải xây dựng lịch sử như hành trình sự kiện quốc gia. Nguyễn Xuân Khánh khám phá va chạm các tư tưởng hệ. Nguyễn Mộng Giác tái hiện lịch sử qua tình thể đời sống cá nhân. Ba mô hình này đại diện cho ba cách tiếp cận biên sử khác nhau. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn sau 1986. Thời kỳ này chứng kiến sự bùng nổ của tiểu thuyết lịch sử.
II. Lịch sử như hành trình sự kiện quốc gia
Hoàng Quốc Hải xây dựng diễn ngôn biên sử tập trung vào triều cương. Lịch sử là chuỗi sự kiện dựng nước và giữ nước. Cá nhân anh hùng đóng vai trò trung tâm. Điểm nhìn định giá dựa trên lập trường quốc gia. Hệ nhị phân chính - tà, tốt - xấu chi phối cách kể. Giá trị lớn của quốc gia vượt trội giá trị nhỏ cá nhân. Hình thức thể loại nghiêng về tiểu thuyết truyền thuyết. Chiến lược diễn ngôn tạo nên bức tranh anh hùng ca. Lịch sử triều đại là quá trình hưng vong liên tục. Các vai - chức năng được phân chia rõ ràng. Vai Cha đại diện cho quyền lực và trí tuệ. Vai Chúng con thể hiện lòng trung thành và hy sinh.
2.1. Hệ chủ đề lịch sử triều cương
Tiểu thuyết Hoàng Quốc Hải tập trung vào đề tài triều đại. Dựng nước và giữ nước là trục chính của tự sự. Cá nhân ưu tú, anh hùng dẫn dắt dòng chảy lịch sử. Nhân vật lịch sử được khắc họa với chiều sâu tâm lý. Xung đột quyền lực là động lực của cốt truyện. Biên niên sử triều đại được tái hiện sinh động. Tư liệu lịch sử kết hợp với tưởng tượng sáng tạo.
2.2. Điểm nhìn lập trường quốc gia
Lập trường quốc gia là thước đo giá trị trong tác phẩm. Hệ nhị phân chính - tà định hướng đánh giá nhân vật. Kẻ trung thành với quốc gia là chính diện. Người phản bội lợi ích dân tộc là phản diện. Giá trị lớn của cộng đồng vượt trội giá trị cá nhân. Cá nhân chỉ có ý nghĩa khi phục vụ quốc gia. Đạo đức chính trị chi phối mọi hành động.
2.3. Mô hình tiểu thuyết truyền thuyết
Hình thức thể loại nghiêng về truyền thuyết anh hùng. Chiến lược diễn ngôn tạo nên sử thi dân tộc. Lịch sử được kể như quá trình hưng vong các triều đại. Bức tranh thế giới chia thành các vai - chức năng rõ ràng. Vai Cha đại diện cho người lãnh đạo sáng suốt. Vai Chúng con thể hiện quần chúng trung thành. Cấu trúc tự sự theo mô hình anh hùng ca truyền thống. Ngôn ngữ mang tính trang trọng và hùng tráng.
III. Lịch sử như va chạm các tư tưởng hệ
Nguyễn Xuân Khánh xây dựng diễn ngôn biên sử khác biệt. Lịch sử là không gian xung đột các tư tưởng hệ. Hệ chủ đề tập trung vào đấu tranh tư tưởng. Canh tân đối đầu với thủ cựu trong Hà Quý Ly. Nho giáo va chạm với Phật giáo. Tư tưởng bản địa đối thoại với ngoại lai trong Mẫu Thượng ngàn. Đạo và đời xung đột trong Đội gạo lên chùa. Điểm nhìn định giá dựa trên qui luật âm - dương. Sự khác biệt quan niệm xử thế là nguồn gốc xung đột. Qui luật chuyển hoá âm - dương chi phối vận động lịch sử. Hình thức thể loại nghiêng về tiểu thuyết dụ ngôn. Chiến lược diễn ngôn tạo nên bức tranh đa thanh.
3.1. Xung đột tư tưởng canh tân thủ cựu
Hà Quý Ly khắc họa cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt. Canh tân đại diện cho xu hướng đổi mới. Thủ cựu bảo thủ giá trị truyền thống. Nho giáo và Phật giáo va chạm về quan niệm sống. Xung đột tư tưởng dẫn đến xung đột chính trị. Nhân vật mang biểu trưng cho hệ tư tưởng. Lịch sử không còn đơn giản là thiện - ác.
3.2. Qui luật vận động âm dương
Điểm nhìn định giá dựa trên triết lý Đông phương. Qui luật âm - dương là nguyên tắc vận động lịch sử. Sự khác biệt quan niệm xử thế tạo nên xung đột. Không có phe nào hoàn toàn đúng hay sai. Mọi tư tưởng hệ đều có giá trị riêng. Qui luật chuyển hoá âm - dương giải thích biến đổi lịch sử. Lịch sử vận động theo chu kỳ liên tục.
3.3. Mô hình tiểu thuyết dụ ngôn
Hình thức thể loại nghiêng về dụ ngôn triết học. Chiến lược diễn ngôn tạo nên bức tranh đa thanh. Khung truyện kể mở ra nhiều tầng ý nghĩa. Bức tranh thế giới là không gian các chủ thể lựa chọn. Nhân vật không bị định sẵn vai trò tốt - xấu. Mỗi nhân vật mang một quan điểm riêng. Tác phẩm mời gọi người đọc suy ngẫm và lựa chọn.
IV. Lịch sử như tình thể đời sống cá nhân
Nguyễn Mộng Giác xây dựng diễn ngôn biên sử tập trung cá nhân. Lịch sử là tình thể đời sống và trải nghiệm riêng tư. Hệ chủ đề kết hợp lịch sử triều đại và lịch sử cá nhân. Bão táp triều cương đan xen xung đột đạo - đời. Lịch sử cá nhân phản chiếu lịch sử xã hội. Điểm nhìn định giá đặt số phận cá nhân làm trung tâm. Số phận cá nhân là giá trị lịch sử cộng đồng. Hình thức thể loại nghiêng về tiểu thuyết tiểu sử. Chiến lược diễn ngôn tạo nên không gian nội tâm sâu thẳm. Lịch sử được trải nghiệm qua cảm xúc và ký ức. Cá nhân không phục tùng mà đối thoại với lịch sử.
4.1. Hệ chủ đề lịch sử cá nhân
Tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác kết hợp hai tầng lịch sử. Bão táp triều cương là bối cảnh lớn. Xung đột tư tưởng hệ đạo - đời diễn ra song song. Lịch sử cá nhân phản chiếu lịch sử xã hội. Số phận riêng tư gắn chặt với biến động chung. Trải nghiệm cá nhân làm sống dậy sự kiện lịch sử. Cảm xúc và ký ức tô màu cho biên niên sử.
4.2. Số phận cá nhân làm trung tâm
Điểm nhìn định giá đặt con người vào vị trí trung tâm. Số phận cá nhân là giá trị lịch sử cộng đồng. Lịch sử không chỉ là sự kiện mà còn là trải nghiệm. Cá nhân không bị lịch sử chi phối hoàn toàn. Con người có khả năng lựa chọn và hành động. Giá trị nhân văn vượt lên trên giá trị chính trị. Tình cảm con người là thước đo lịch sử.
4.3. Mô hình tiểu thuyết tiểu sử
Hình thức thể loại nghiêng về tiểu thuyết tiểu sử. Chiến lược diễn ngôn tạo không gian nội tâm phong phú. Lịch sử được kể qua lăng kính cá nhân. Ký ức và cảm xúc chi phối cách tái hiện. Hư cấu lịch sử gắn chặt với tâm lý nhân vật. Tự sự lịch sử mang tính chất tự truyện. Giọng kể thân mật và chân thực. Người đọc đồng cảm với số phận nhân vật.
V. Đóng góp của nghiên cứu diễn ngôn biên sử
Luận án đóng góp góc nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Phương pháp diễn ngôn vượt qua giới hạn lý thuyết phản ánh. Ba mô hình diễn ngôn đại diện cho ba cách tiếp cận lịch sử. Mô hình sự kiện quốc gia kế thừa truyền thống anh hùng ca. Mô hình va chạm tư tưởng hệ mở ra không gian đối thoại. Mô hình tình thể cá nhân đặt con người vào trung tâm. Mỗi mô hình có chiến lược diễn ngôn riêng biệt. Nghiên cứu chứng minh sự đa dạng của văn học Việt Nam sau Đổi Mới. Tiểu thuyết lịch sử không còn đơn sắc mà đa thanh. Phản biện lịch sử trở thành xu hướng chủ đạo.
5.1. Phương pháp nghiên cứu mới
Luận án áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu văn học. Phương pháp này vượt qua hạn chế của lý thuyết phản ánh. Bước ngoặt ngôn ngữ thay đổi cách tiếp cận văn bản. Văn học không phản ánh mà kiến tạo thực tại. Diễn ngôn biên sử là cách thức tổ chức ý nghĩa lịch sử. Mỗi tác giả xây dựng hệ thống diễn ngôn riêng. Phương pháp này mở ra không gian nghiên cứu mới.
5.2. Ba mô hình diễn ngôn tiêu biểu
Nghiên cứu xác định ba mô hình diễn ngôn chính. Mô hình sự kiện quốc gia của Hoàng Quốc Hải. Mô hình va chạm tư tưởng hệ của Nguyễn Xuân Khánh. Mô hình tình thể cá nhân của Nguyễn Mộng Giác. Ba mô hình này đại diện cho ba xu hướng lớn. Mỗi mô hình có hệ chủ đề và chiến lược riêng. Sự đa dạng này chứng tỏ sức sống của văn học Việt Nam.
5.3. Ý nghĩa với nghiên cứu văn học
Luận án góp phần làm mới nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử. Cách tiếp cận diễn ngôn mở ra nhiều hướng phát triển. Văn học Việt Nam sau Đổi Mới được nhìn nhận toàn diện hơn. Tiểu thuyết lịch sử không chỉ tái hiện mà còn phản biện. Tư liệu lịch sử trở thành nguyên liệu sáng tạo linh hoạt. Hư cấu lịch sử là công cụ khám phá bản chất con người. Nghiên cứu khuyến khích tiếp cận đa chiều văn bản.
VI. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại và lịch sử
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại thiết lập mối quan hệ mới với lịch sử. Lịch sử không còn là đối tượng phản ánh thụ động. Tác giả chủ động đối thoại và phản biện lịch sử. Văn học Việt Nam sau Đổi Mới đa dạng về hình thức và nội dung. Tái hiện lịch sử gắn liền với tái định nghĩa lịch sử. Biên niên sử được kể lại từ nhiều góc độ khác nhau. Diễn ngôn biên sử phản ánh sự trưởng thành của văn học dân tộc. Tiểu thuyết lịch sử trở thành không gian tự do sáng tạo. Tư liệu lịch sử kết hợp với tưởng tượng nghệ thuật. Hư cấu lịch sử mở ra khả năng vô tận cho văn chương.
6.1. Mối quan hệ văn học lịch sử mới
Văn học Việt Nam sau Đổi Mới thiết lập quan hệ mới với lịch sử. Lịch sử không còn là chân lý tuyệt đối cần phản ánh. Tác giả chủ động lựa chọn và tái hiện lịch sử. Phản biện lịch sử trở thành quyền của nhà văn. Tái hiện lịch sử đồng thời là tái định nghĩa lịch sử. Văn học tham gia vào cuộc đối thoại về quá khứ. Tiểu thuyết lịch sử là không gian tranh luận ý nghĩa.
6.2. Đa dạng hóa cách kể lịch sử
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đa dạng về phương thức tự sự. Biên niên sử được kể từ nhiều góc nhìn khác nhau. Lịch sử triều đại kết hợp với lịch sử cá nhân. Sự kiện lớn đan xen với trải nghiệm nhỏ. Tư liệu lịch sử được sử dụng linh hoạt và sáng tạo. Hư cấu lịch sử không bị ràng buộc bởi sự thật tuyệt đối. Mỗi tác giả tìm kiếm giọng điệu riêng.
6.3. Hướng phát triển tương lai
Diễn ngôn biên sử sẽ tiếp tục phát triển đa dạng. Tiểu thuyết lịch sử mở rộng ranh giới sáng tạo. Tác giả thử nghiệm nhiều hình thức thể loại mới. Lịch sử được khám phá từ góc độ nhân văn sâu sắc. Tư liệu lịch sử kết hợp với tưởng tượng hậu hiện đại. Phản biện lịch sử trở thành truyền thống sáng tạo. Văn học Việt Nam hội nhập xu hướng văn học thế giới.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (220 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án "Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986: Trường hợp Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh" trình bày một công trình nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực lý luận và phê bình văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt tập trung vào tiểu thuyết lịch sử. Nghiên cứu này ra đời trong bối cảnh văn học Việt Nam đang trải qua sự cách tân mạnh mẽ, với nhu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa các hướng tiếp cận lý thuyết để giải mã những hiện tượng nghệ thuật phức tạp, vượt ra ngoài các khuôn khổ phân tích truyền thống.
Research Gap Cụ Thể: Mặc dù tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986 đã nở rộ với nhiều khuynh hướng sáng tạo và thu hút sự quan tâm của công chúng, phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam vẫn tiếp cận tự sự lịch sử từ góc nhìn lý thuyết phản ánh luận Marxist và thi pháp học truyền thống. Cách tiếp cận này thường sa vào "nan đề sử thực — hư cấu," tạo ra những cuộc tranh luận gay gắt về tính chân thật của lịch sử trong tác phẩm văn học, như các trường hợp của Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết cuối thập niên 80) hay Nguyễn Quang Thân (Hội thề, 2010), và Bùi Việt Sỹ (Chim ung và chàng đan sọt, 2018). Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào khảo sát, đánh giá nội dung nghệ thuật, giá trị nhân văn và kỹ thuật tự sự theo lối cổ điển, hoặc chỉ dừng lại ở cấu trúc bề mặt mà chưa giải quyết cấu trúc chiều sâu chi phối thông điệp diễn ngôn. Đặc biệt, "Hiện nay ở Việt Nam không có nhiều nghiên cứu khảo sát và phân tích mô hình chiến lược diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại." Luận án này lấp đầy khoảng trống đó bằng cách cung cấp một mô hình phân tích diễn ngôn biên sử độc đáo, cụ thể cho ba nhà văn tiêu biểu.
Research Questions và Hypotheses: Nghiên cứu được định hướng bởi các câu hỏi và giả thuyết cụ thể nhằm làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo diễn ngôn biên sử:
- RQ1: Lý thuyết diễn ngôn (đặc biệt là tân tự sự học truyền thống Nga) có thể được khái quát và vận dụng như thế nào để xác định các chiến lược diễn ngôn văn học trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986?
- H1: Lý thuyết diễn ngôn cung cấp một khung phân tích đa bội, vượt qua hạn chế của mô hình đơn trị (phản ánh luận), cho phép xác định các chiến lược diễn ngôn văn học thông qua việc bám sát văn bản tác phẩm.
- RQ2: Mô hình kiến tạo diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Mộng Giác được đặc trưng bởi những yếu tố nào (hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, hình thức thể loại)?
- H2a: Hoàng Quốc Hải kiến tạo lịch sử như "hành trình sự kiện quốc gia" thông qua hệ chủ đề lịch sử triều cương, điểm nhìn lập trường quốc gia, và mô hình tiểu thuyết – truyền thuyết.
- H2b: Nguyễn Xuân Khánh kiến tạo lịch sử như "sự va chạm các tư tưởng hệ" thông qua hệ chủ đề xung đột tư tưởng xử thế, điểm nhìn định giá quy luật vận động "âm – dương," và mô hình tiểu thuyết – dụ ngôn.
- H2c: Nguyễn Mộng Giác kiến tạo lịch sử như "tình thế đời sống và trải nghiệm cá nhân" thông qua hệ chủ đề lịch sử triều đại song hành với lịch sử cá nhân, điểm nhìn số phận cá nhân, và mô hình tiểu thuyết – tiểu sử.
- RQ3: Giá trị và đóng góp của các mô hình diễn ngôn biên sử này trong văn học Việt Nam thời đổi mới là gì, đặc biệt trong việc hóa giải "nan đề sử thực – hư cấu"?
- H3: Các mô hình diễn ngôn biên sử này không chỉ khẳng định đặc điểm và thông điệp diễn ngôn riêng của mỗi nhà văn mà còn góp phần hóa giải nan đề sử thực – hư cấu, xác định giá trị đa chiều của các mô hình kiến tạo diễn ngôn lịch sử trong văn học.
Theoretical Framework: Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp và phát triển các tư tưởng của Lý thuyết diễn ngôn (Discourse Theory), đặc biệt là Tân tự sự học (Neo-narratology) của truyền thống Nga (V.L. Chiupa, G. Pospelov, N. Tamarchenco) cùng với những tiếp cận kí hiệu học văn hóa (Iu. Lotman) và xã hội học (M. Foucault), và chủ nghĩa tân lịch sử (Hayden White). Các lý thuyết này được sử dụng để khám phá cấu trúc biểu nghĩa, cơ chế kiến tạo diễn ngôn, và bản chất thể loại của tiểu thuyết lịch sử.
Đóng góp Đột Phá với Quantified Impact: Luận án này mang lại ít nhất 5 đóng góp đột phá:
- Phát triển mô hình phân tích Diễn ngôn biên sử độc đáo: Đây là "nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề tiếp cận tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Xuân Khánh theo mô hình thể loại diễn ngôn," thay vì các tiếp cận truyền thống. Bằng cách tập trung vào "hệ chủ đề, điểm nhìn định giá và mô hình thể loại," luận án cung cấp một khung phân tích mới mẻ, sâu sắc hơn các nghiên cứu trước đây vốn chỉ dừng ở thi pháp bề mặt.
- Hóa giải nan đề sử thực – hư cấu: Luận án góp phần "hoá giải nan đề sử thực — hư cấu," bằng cách khẳng định "lịch sử thực chất cũng chỉ là một thứ diễn ngôn" (Trần Đình Sử, 2014) và sự thật trong văn chương hay sử học đều tương đối, không phải là một thực tại khách quan, nguyên khối. Điều này giúp mở rộng biên độ sáng tạo và tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử.
- Xác lập ba mô hình diễn ngôn biên sử tiêu biểu: Phân loại và phân tích chi tiết ba mô hình diễn ngôn biên sử rõ ràng – tiểu thuyết – truyền thuyết (Hoàng Quốc Hải), tiểu thuyết – dụ ngôn (Nguyễn Xuân Khánh), tiểu thuyết – tiểu sử (Nguyễn Mộng Giác) – cung cấp một cái nhìn toàn diện và có hệ thống về sự đa dạng trong cách thức kiến tạo lịch sử của văn học Việt Nam sau 1986.
- Tái định vị Sông Côn mùa lũ trong dòng chảy văn học đổi mới: Bằng cách lập luận rằng dù Sông Côn mùa lũ sáng tác trước 1986 nhưng "ít nhiều mang tinh thần sáng tạo của thời kỳ đổi mới văn học" và "có thể được xếp vào nhóm tác phẩm khởi đầu của văn học đổi mới," luận án mở ra một hướng nhìn mới về phân kỳ và đặc điểm của văn học giai đoạn này.
- Chuyển dịch tư duy phê bình từ "đơn trị" sang "đa bội": Nghiên cứu này thể hiện sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy nghiên cứu văn học Việt Nam, thoát khỏi lối tư duy "đơn trị" (absolutizing a single truth, either historical or artistic) để hướng tới "mô hình của cái đa bội" (polyvalent model), nơi các ý nghĩa được triển hạn vô cùng và ngôn ngữ luôn trong trạng thái biến đổi, đối thoại.
Scope và Significance: Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của ba nhà văn: Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải); Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh); và Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác). Dù Nguyễn Mộng Giác sáng tác Sông Côn mùa lũ (1977-1981) trước mốc 1986, luận án biện giải rằng tác phẩm này mang "tinh thần phản tư" và "chủ đề con người cá nhân trong lịch sử," đặt nó vào nhóm khởi đầu của văn học đổi mới, được đón nhận rộng rãi từ 1998 trong trường tiếp nhận văn học đổi mới. Ý nghĩa của luận án nằm ở việc cung cấp một nền tảng lý thuyết và phương pháp luận vững chắc cho việc nghiên cứu diễn ngôn văn học, làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, và khuyến khích các hướng nghiên cứu mới về thẩm quyền người phát, người nhận, vấn đề sáng tạo nhân vật lịch sử, và các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết lịch sử.
Literature Review và Positioning
Synthesis của Major Streams với TÊN TÁC GIẢ và NĂM cụ thể: Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam có thể được tổng hợp thành hai dòng chính, tương ứng với hai quan niệm về "sử thực – hư cấu":
-
Phản ánh luận Marxist và Thi pháp học cổ điển: Dòng này, với vị trí trung tâm từ nửa sau thế kỷ XX, coi văn học là hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực. Các nhà nghiên cứu thường "đi tìm bức tranh thế giới là những hình ảnh cụ thể - cảm tính được mô tả trong tác phẩm" và "phiên dịch những hình ảnh cụ thể - cảm tính sang các tầng ý nghĩa trừu tượng," với "nội hàm tư tưởng hệ thu hẹp trong văn nghệ chỉ còn là ý nghĩa thế giới quan, lập trường giai cấp, tính đảng." Các công trình như Bùi Văn Lợi (1999) với luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945" hay Nguyễn Thị Tuyết Minh (2012) với chuyên luận "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945" thường khảo sát đặc điểm, diện mạo của thể loại trong từng giai đoạn lịch sử, mặc dù có đề cập đến sự thay đổi tư duy tự sự nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sang (2013) về "Hình tượng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử hiện đại Việt Nam" cũng tập trung vào phẩm chất lịch sử và thi pháp xây dựng nhân vật, coi tác phẩm của Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Mộng Giác như "những mẫu mực của tiểu thuyết lịch sử hiện đại" với tính sử thi. Các nghiên cứu này thường nhấn mạnh tính chân thật lịch sử và giới hạn hư cấu.
-
Tiếp cận diễn ngôn và hậu hiện đại: Dòng này mới mẻ hơn, xuất hiện trong bối cảnh văn học đổi mới, khi các lý thuyết phương Tây hiện đại được giới thiệu. Các nhà nghiên cứu như Trần Đình Sử (2014) trong bài viết “Lịch sử và tiểu thuyết lịch sử” đã khẳng định "lịch sử thực chất cũng chỉ là một thứ diễn ngôn," thách thức quan niệm về sự thật khách quan. Đỗ Hải Ninh trong “Những tranh luận về văn xuôi hư cấu lịch sử và sự chuyển biến của tư tưởng” tán đồng ý kiến Lại Nguyên Ân rằng “đọc văn phải khác với đọc sử.” Phạm Xuân Thạch (2004) trong bài “Quá trình cá nhân hoá hư cấu” xem tự sự lịch sử là tiến trình cá nhân hóa trải nghiệm về quá khứ. Đặc biệt, Lã Nguyên (2018) với bài nghiên cứu "Những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh" đã tiếp cận diễn ngôn tự sự lịch sử từ góc độ kí hiệu học và thi pháp học thể loại. Phạm Ngọc Lan (2015) trong luận án "Văn học siêu hư cấu và cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam thời đầu đổi mới" cũng phân tích siêu hư cấu lịch sử như một hình thức nghệ thuật đặc thù của tư duy hậu hiện đại, liên hệ diễn ngôn với quyền lực và tri thức. Ngô Thanh Hải (2019) với luận án "Ba mô hình truyện lịch sử" đã nỗ lực thoát khỏi nhị nguyên luận của phản ánh luận, sử dụng lý thuyết thể loại của M. Bakhtin và lý thuyết giao tiếp diễn ngôn của V. Chiupa để phân tích ba mô hình.
Contradictions/Debates với ít nhất 2 opposing views: Cuộc tranh luận về tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam thường xoay quanh mức độ và quyền hạn của hư cấu:
- Quan điểm đề cao sự thực lịch sử: Một số nhà phê bình như Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Thúy Ái đã phản bác gay gắt sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp, xem đó là "những truyện chứa không ít sai lầm, lệch lạc" khi "bôi nhọ" thần tượng, "bắn súng lục vào quá khứ." Họ đòi hỏi tác phẩm văn học tuân thủ nghiêm ngặt tính chính xác thông tin và tinh thần thời đại. Nguyễn Văn Dân (2012) quan niệm "tiểu thuyết lịch sử phải căn cứ vào sự kiện và nhân vật có thật," và "hư cấu của tiểu thuyết lịch sử phải có giới hạn," không được mâu thuẫn với logic lịch sử để tránh "làm cho người đọc hiểu sai lịch sử."
- Quan điểm đề cao hư cấu nghệ thuật: Ngược lại, Lại Nguyên Ân trong “Đọc văn phải khác với đọc sử” hay Thùy Sương đã bảo vệ Nguyễn Huy Thiệp, cho rằng ông đã góp phần "nâng tư duy nghệ thuật và tư duy lịch sử của Việt Nam lên tầm cao mới: thoát khỏi tư duy sử thi, chuyển sang tư duy thế sự." Nguyễn Xuân Khánh (2012) khẳng định: "bản chất của tiểu thuyết là hư cấu; đối với đề tài lịch sử, nhà văn dùng đặc quyền hư cấu để thể hiện những khả năng có thể xảy ra." Nguyễn Quang Thân (2011) cũng đề cao vai trò hư cấu, cho rằng "những cuốn tiểu thuyết lịch sử hay không cung cấp sử liệu, sử cứ mà cho độc giả một cái nhìn, một cách sống, một hướng đi được kiểm chứng qua lịch sử."
Positioning trong Literature với specific gap identified: Luận án này định vị mình ở giao điểm của dòng tiếp cận diễn ngôn, nhưng với một hướng đi sâu sắc và cụ thể hơn. Nó không chỉ thừa nhận vai trò của diễn ngôn mà còn xây dựng một "mô hình thể loại diễn ngôn" để phân tích "chiến lược diễn ngôn biên sử" theo cách có hệ thống. Trong khi Ngô Thanh Hải (2019) cũng sử dụng lý thuyết thể loại của Bakhtin, luận án hiện tại lại nhấn mạnh sự khác biệt khi đi vào phân tích chiến lược diễn ngôn từ góc độ lý thuyết phân tích diễn ngôn, không chỉ dừng ở việc tìm "mẫu gốc văn học" mà đào sâu vào "cấu trúc biểu nghĩa" và "cơ chế kiến tạo diễn ngôn." Cụ thể, luận án này sẽ là "nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề tiếp cận tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Xuân Khánh theo mô hình thể loại diễn ngôn," tập trung vào "hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, đồng nhất/hình thức thể loại" như các phương diện thuộc khu vực đối tượng tham chiếu.
How this advances field với concrete contributions: Nghiên cứu này làm tiến bộ lĩnh vực lý luận văn học Việt Nam bằng cách:
- Cung cấp một phương pháp luận tiên tiến: Vận dụng lý thuyết tân tự sự học Nga (V.L. Chiupa, G. Pospelov) vào phân tích tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, giúp vượt qua những hạn chế của phản ánh luận và cấu trúc luận truyền thống, vốn "không giải quyết các vấn đề thuộc tầng sâu của văn bản vốn rất phức tạp."
- Hệ thống hóa các mô hình diễn ngôn biên sử: Luận án không chỉ nhận diện mà còn phân tích chi tiết ba mô hình diễn ngôn biên sử rõ ràng, thể hiện sự đa dạng và phức hợp của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, cung cấp một khung tham chiếu cho các nghiên cứu tương lai.
- Mở rộng biên giới tiếp nhận văn học: Bằng cách hóa giải nan đề sử thực – hư cấu, luận án khuyến khích một cách đọc cởi mở hơn, chú trọng "chân lý nghệ thuật" và "khả năng có thể xảy ra" (Nguyễn Xuân Khánh, 2012) trong sáng tạo lịch sử, thay vì chỉ đối chiếu với chính sử.
So sánh với ÍT NHẤT 2 international studies:
-
Hayden White và New Historicism: Luận án của chúng tôi tiếp cận quan điểm của Hayden White (2014) trong Metahistory: The Historical Imagination in 19th-Century Europe, người đã "tước đi đặc quyền diễn giải quá khứ của khoa học lịch sử, xóa nhòa ranh giới giữa sử học và văn học" và khẳng định "tác phẩm lịch sử là 'một cấu trúc ngôn từ mang hình thức của diễn ngôn văn xuôi tự sự'." White chỉ ra "bốn hình thức biên sử phổ biến trong sử học tương ứng với bốn cấu trúc tự sự văn học: ẩn dụ, hoán dụ, cải dung và mỉa mai — trào phúng," cùng "bốn luận pháp hình thức" và "bốn dạng tư tưởng hệ." Luận án của chúng tôi không chỉ thừa nhận lịch sử là diễn ngôn mà còn đi sâu vào phân tích cách các nhà văn Việt Nam cụ thể "kiến tạo" lịch sử qua các mô hình diễn ngôn biên sử riêng biệt, sử dụng khung phân tích từ tân tự sự học Nga, bổ sung cho góc nhìn của White về "cốt truyện hóa" và "ý đồ biên sử."
-
Mikhail Bakhtin và Speech Genres: Quan niệm về "thể loại lời nói" của M. Bakhtin trong Vấn đề các thể loại lời nói (1979) là nền tảng quan trọng cho luận án. Bakhtin xem "phát ngôn" là "đơn vị thực tế" của giao tiếp lời nói, có "tính ranh giới rạch ròi, tính đối thoại nội tại, tính chỉnh thể hoàn kết," và mỗi phát ngôn thuộc về một "thể loại lời nói" nhất định, chịu sự chế định của nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu. Luận án này mở rộng ứng dụng lý thuyết của Bakhtin bằng cách không chỉ xem văn học là "lời phái sinh" mà còn phát triển khái niệm "mô hình thể loại diễn ngôn" để khám phá "hạt nhân cấu trúc thể loại," đồng thời kết nối nó với "bức tranh thế giới" và "điểm nhìn định giá," tạo nên một khung phân tích toàn diện hơn cho tiểu thuyết lịch sử. Sự khác biệt tinh tế giữa tự sự học hậu kinh điển phương Tây (tập trung cấu trúc đồng đại) và Nga (chú ý tiến trình lịch sử hình thành và biến đổi thể loại) cũng là điểm mà luận án này định vị, nghiêng về truyền thống Nga hơn để giải mã sâu sắc "kí ức thể loại."
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án này thực hiện một sự mở rộng và thách thức đáng kể đối với các lý thuyết văn học hiện hành ở Việt Nam.
-
Extend/challenge WHICH specific theories (name theorists):
- Thách thức Lý thuyết phản ánh luận Marxist: Luận án bác bỏ quan điểm của phản ánh luận Marxist, vốn coi "văn học là hình thái ý thức, phản ánh hiện thực xã hội" và "đồng nhất ngôn ngữ với sự vật (tính cập vật)." Thay vào đó, nó khẳng định "lịch sử thực chất cũng chỉ là một thứ diễn ngôn" (Trần Đình Sử, 2014), và "sự thật nguyên thủy hay quá khứ mãi mãi là 'bí ẩn'," không thể được phản ánh một cách khách quan, nguyên khối. Điều này trực tiếp đối lập với "quan niệm coi 'sự thật lịch sử như là một cái gì khách quan duy nhất, bất biến, chỉ thế này, không thể thế khác'" mà nhiều nhà phê bình truyền thống vẫn giữ.
- Mở rộng Cấu trúc luận và Thi pháp học truyền thống: Luận án nhận thấy "cấu trúc luận không giải quyết các vấn đề thuộc tầng sâu của văn bản vốn rất phức tạp" và "các đánh giá, phân loại ở những nghiên cứu này vẫn chưa thoát khỏi sự chi phối của phản ánh luận." Do đó, luận án mở rộng phạm vi phân tích cấu trúc từ "cấu trúc bề mặt" của cấu trúc luận sang "cấu trúc biểu nghĩa" sâu hơn, tích hợp các yếu tố năng động của diễn ngôn như người phát, người nhận, ngữ cảnh, ký ức, thể loại, mà trong "khung tri thức của 'bước ngoặt ngôn ngữ'," các nghiên cứu trước đây đã bỏ qua.
- Kéo dài và làm sâu sắc Lý thuyết thể loại của M. Bakhtin: M. Bakhtin được xem là người đã "chuyển trọng tâm nghiên cứu diễn ngôn văn học từ hệ thống cấu trúc văn bản (bề mặt) sang hệ thống cấu trúc biểu nghĩa (chiều sâu)." Luận án của chúng tôi tiếp tục phát triển di sản này bằng cách xây dựng "mô hình thể loại diễn ngôn" không chỉ để phân tích "phát ngôn" mà còn để giải mã "hạt nhân cấu trúc thể loại" trong mối quan hệ với "bức tranh thế giới" và "điểm nhìn định giá," đi sâu vào "kí ức thể loại" (genre memory) và "lịch sử đấu tranh và tương tác các thể loại."
- Tích hợp quan điểm Tân tự sự học Nga (V.L. Chiupa, G. Pospelov, N. Tamarchenco): Đặc biệt là quan niệm về "bức tranh thế giới," "hệ chủ đề" như "loại hình nội dung," và "sự kiện giao tiếp" làm hạt nhân của diễn ngôn trần thuật.
-
Conceptual framework với components và relationships: Khung lý thuyết của luận án xoay quanh khái niệm Diễn ngôn biên sử (Historiographical discourse), được định nghĩa là "cách thức, kỹ thuật ghi chép, kiến tạo lịch sử nhằm đạt được ý đồ diễn ngôn." Luận án đề xuất một mô hình phân tích diễn ngôn biên sử với ba thành phần chính và mối quan hệ tương hỗ:
- Hệ chủ đề (Thematic System): Được hiểu là "loại hình nội dung của tác phẩm như G. Pospelov đề xuất," thay vì vấn đề đặt ra của câu chuyện cụ thể. Nó khám phá "bản chất lịch sử là gì" qua việc quan sát "bức tranh thế giới" của tác phẩm, từ đó xác định bình diện huyền thoại ẩn sâu dưới lớp chuyện kể cụ thể.
- Điểm nhìn định giá (Evaluative Perspective): Là cách chủ thể sáng tạo phóng chiếu giá trị vào bức tranh thế giới, sử dụng "tư tưởng hệ" làm điểm tựa để kiến tạo mô hình thế giới. Nó trả lời câu hỏi "lịch sử (bức tranh thế giới) được kiến tạo như thế nào" thông qua các điểm nhìn bên trong và bên ngoài tác phẩm.
- Mô hình thể loại (Genre Model): Là "hạt nhân cấu trúc thể loại" của tiểu thuyết lịch sử hiện đại, được xác định từ "bức tranh thế giới" và "điểm nhìn định giá." Mô hình này không chỉ là hình thức mà còn là "nội dung loại hình" gắn liền với nhận thức của chủ thể sáng tạo, thể hiện "chiến lược tái tạo, phức hợp mô hình thể loại."
-
Theoretical model với propositions/hypotheses numbered: Mô hình lý thuyết này được cụ thể hóa qua ba propositions chính, mỗi proposition tương ứng với một mô trình diễn ngôn biên sử được phân tích:
- P1 (Hoàng Quốc Hải): Trong tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải (Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần), diễn ngôn biên sử được kiến tạo chủ yếu theo mô hình tiểu thuyết – truyền thuyết, với "hệ chủ đề lịch sử quốc gia qua lịch sử triều cương," "điểm nhìn lập trường quốc gia," và "bức tranh thế giới của các vai - chức năng" (như "Cha," "Chúng con").
- P2 (Nguyễn Xuân Khánh): Trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa), diễn ngôn biên sử được kiến tạo chủ yếu theo mô hình tiểu thuyết – dụ ngôn, với "hệ chủ đề xung đột các tư tưởng xử thế," "điểm nhìn định giá quy luật vận động 'âm – dương'," và "bức tranh thế giới của các chủ thể lựa chọn."
- P3 (Nguyễn Mộng Giác): Trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), diễn ngôn biên sử được kiến tạo chủ yếu theo mô hình tiểu thuyết – tiểu sử, với "hệ chủ đề lịch sử triều đại và lịch sử cá nhân," "điểm nhìn định giá số phận cá nhân như là giá trị trung tâm của lịch sử," và "bức tranh thế giới của các chủ thể tự xác quyết."
-
Paradigm shift với EVIDENCE từ findings: Luận án chứng minh một sự chuyển dịch tư duy nghiên cứu từ mô hình "đơn trị" sang mô hình "đa bội" trong phê bình văn học lịch sử. Bằng cách khám phá tính đa trị của lịch sử như một diễn ngôn, luận án đã "khẳng định những khác biệt trong cách mà tác phẩm kiến tạo diễn ngôn của nó," thoát khỏi sự phụ thuộc vào một chân lý duy nhất (lịch sử khách quan hay giá trị nghệ thuật thuần túy). Cụ thể, nó thể hiện sự thay đổi căn bản trong nhận thức luận: thay vì tìm kiếm "sự thật nguyên thủy hay quá khứ" như một cái gì "khách quan, nguyên khối," luận án coi "thế giới được nhìn nhận là một thực tiễn diễn ngôn — theo nghĩa vừa là môi trường vừa là sản phẩm do diễn ngôn tạo nên qua “sự kiện giao tiếp của các tương tác xã hội” (Van Dijk)." Điều này đại diện cho một bước ngoặt từ "bước ngoặt ngôn ngữ" tĩnh tại sang "bước ngoặt diễn ngôn" năng động.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án là độc đáo bởi sự tích hợp sâu sắc và ứng dụng cụ thể các lý thuyết.
-
Integration của theories (name 3+ specific theories):
- Lý thuyết diễn ngôn (V.L. Chiupa): Định nghĩa diễn ngôn là "phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là 'sự kiện giao tiếp tương tác văn hoá xã hội' (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận."
- Tân tự sự học (G. Pospelov, N. Tamarchenco): Sử dụng quan niệm "loại hình nội dung" của G. Pospelov (thần thoại, dân tộc – lịch sử, phong tục, tình ái) để xác định "hệ chủ đề" và khám phá "bình diện huyền thoại" của tác phẩm. N. Tamarchenco giúp hiểu về "tính loại hình" của thể loại được bảo lưu xuyên suốt lịch sử.
- Kí hiệu học văn hoá (Iu. Lotman) và Xã hội học (M. Foucault): Được vận dụng "ở một vài luận điểm" để giải mã "hệ thống 'ngôn ngữ gốc' trong lớp cấu trúc biểu nghĩa văn bản" và phân tích mối quan hệ giữa diễn ngôn với quyền lực, tri thức, đặc biệt trong bối cảnh các "mã tư tưởng hệ của nó thường bộc lộ gián tiếp qua các mã văn hoá."
-
Novel analytical approach với justification: Tiếp cận phân tích độc đáo của luận án nằm ở việc giải mã cấu trúc mô hình diễn ngôn biên sử từ bình diện "cái tham chiếu" (đối tượng được nói đến/tham khảo). Phương pháp này được biện minh bởi quan niệm rằng "bức tranh thế giới" (World-picture) thể hiện "ý đồ diễn ngôn" và "nhãn quan giá trị" của tác giả tiềm ẩn, không chỉ của tác giả thực tế hay người trần thuật. Điều này giúp vượt qua "chỉ tiết nhiễu loạn bề mặt tác phẩm (lớp lời lặp lại – iterative)" để xác định "hệ chủ đề có chức năng định vị hoá, phong cách hoá phát ngôn trần thuật (lớp lời hành ngôn – performative)" nhằm tác động trực tiếp tới ý thức tiếp nhận của người đọc.
-
Conceptual contributions với definitions:
- Diễn ngôn biên sử (Historiographical discourse): Định nghĩa là "cách thức, kỹ thuật ghi chép, kiến tạo lịch sử nhằm đạt được ý đồ diễn ngôn."
- Bức tranh thế giới (World-picture): "Được thể hiện qua lớp chất liệu/câu chuyện (fabula) biểu đạt hệ chủ đề theo ý đồ ngữ nghĩa nhất định... Nó được xây dựng trên cái nền bất biến nào đó... sao cho ở đó các sự thật được trần thuật sẽ đạt tới vị thế của sự kiện." Đây là mô hình về thế giới mang tính chủ - khách quan, tương thích với thế giới thực.
- Hệ chủ đề (Thematic System): Không phải là vấn đề cụ thể của câu chuyện, mà là "loại hình nội dung của tác phẩm như G. Pospelov đề xuất" (thần thoại, dân tộc – lịch sử, phong tục, tình ái).
- Điểm nhìn định giá (Evaluative Perspective): Góc nhìn từ đó chủ thể kiến tạo và truyền tải giá trị, "từ đó chủ thể phóng chiếu giá trị vào bức tranh thế giới."
-
Boundary conditions explicitly stated: Luận án tập trung vào tiểu thuyết lịch sử Việt Nam "sau năm 1986," nhưng có trường hợp ngoại lệ là Sông Côn mùa lũ (sáng tác 1977-1981, xuất bản 1990, tái bản ở VN 1998), được biện giải là mang "tinh thần sáng tạo của thời kỳ đổi mới" và được tiếp nhận trong "trường tiếp nhận văn học đổi mới." Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở ba nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh vì họ "cùng thế hệ," "có sự nghiệp sáng tác đồ sộ," và "tác phẩm của ba nhà văn tiêu biểu cho ba chiến lược biên sử phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại." Đối tượng khảo sát chính là "nội dung và chiến lược diễn ngôn biên sử" và các phương diện thuộc "khu vực đối tượng tham chiếu: hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, đồng nhất/hình thức thể loại," trong khi các phương diện thuộc "người phát, người nhận, như: vị thế, mặt nạ lời nói, giọng... không phân tích sâu."
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án này sử dụng một thiết kế nghiên cứu phức hợp, vừa định tính sâu sắc, vừa mang tính so sánh điển hình, dựa trên nền tảng triết lý khoa học rõ ràng.
- Research philosophy (positivism/interpretivism/critical realism): Luận án thuộc về triết lý nghiên cứu Interpretivism (Giải thích luận) và Post-structuralism (Hậu cấu trúc luận). Nó bác bỏ quan điểm positivist của lý thuyết phản ánh luận Marxist, vốn coi "hiện thực là thực tại đời sống, là bức tranh thế giới phân lập, đối kháng" và "ngôn ngữ như công cụ, vỏ của tư duy." Thay vào đó, luận án khẳng định "thế giới được nhìn nhận là một thực tiễn diễn ngôn" và "không có hiện thực ngoài diễn ngôn" (Jacques Derrida), nhấn mạnh vai trò kiến tạo của diễn ngôn.
- Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Mặc dù chủ yếu là nghiên cứu định tính, luận án sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp từ nhiều lĩnh vực. "Chúng tôi sử dụng kết hợp linh hoạt một số phương pháp nghiên cứu sử học, triết học... nhằm bổ trợ cho các phương pháp chuyên ngành." Điều này cho phép luận án vừa phân tích sâu sắc các lớp nghĩa văn học, vừa có cái nhìn đa chiều về bối cảnh lịch sử và tư tưởng hệ.
- Multi-level design với levels clearly defined: Thiết kế nghiên cứu được tổ chức theo nhiều cấp độ phân tích:
- Cấp độ lý thuyết: Khái quát và hệ thống hóa lý thuyết diễn ngôn, tân tự sự học, ký hiệu học văn hóa và chủ nghĩa tân lịch sử.
- Cấp độ tổng quan: Khảo sát tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, phân tích các quan niệm về "sử thực – hư cấu" và "mô hình đơn trị – đa bội."
- Cấp độ ứng dụng (Case Study): Phân tích ba trường hợp điển hình (Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác) để xác định các mô hình diễn ngôn biên sử cụ thể.
- Cấp độ so sánh: So sánh các mô hình giữa ba nhà văn và với các tác phẩm khác trong dòng chảy văn học đổi mới.
- Sample size và selection criteria EXACT:
- Sample Size: 9 tiểu thuyết lịch sử, bao gồm:
- Hoàng Quốc Hải: Tám triều vua Lý (4 tập), Bão táp triều Trần (4 tập, bổ sung 2 tập).
- Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa.
- Nguyễn Mộng Giác: Sông Côn mùa lũ.
- Selection Criteria:
- Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam "sau năm 1986" (tuy nhiên, Sông Côn mùa lũ là trường hợp đặc biệt được đưa vào do mang tinh thần đổi mới và được tiếp nhận trong bối cảnh văn học đổi mới từ 1998).
- Tác phẩm phát triển truyện kể trong khung lịch sử dân tộc, thể hiện hình tượng nhân vật có thật, sự kiện lịch sử hoặc không khí thời đại quá khứ.
- Được sáng tác bởi ba nhà văn "cùng thế hệ," "chứng kiến những giai đoạn biến động lớn của đất nước ở thế kỷ XX," và có "sự nghiệp sáng tác đồ sộ."
- Tác phẩm của ba nhà văn "tiêu biểu cho ba chiến lược biên sử phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại."
- Sample Size: 9 tiểu thuyết lịch sử, bao gồm:
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria:
- Inclusion: Các tác phẩm được chọn phải là tiểu thuyết (dung lượng đủ lớn, cấu trúc đa tầng, chiến lược biên sử phức hợp) thuộc dòng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, tiêu biểu cho các mô hình diễn ngôn biên sử khác nhau.
- Exclusion: Truyện ngắn và các tác phẩm không rõ ràng về tính chất lịch sử hoặc không đủ tính đại diện cho các mô hình diễn ngôn biên sử. Các yếu tố như "vị thế, mặt nạ lời nói, giọng" của người phát và người nhận cũng được đề cập nhưng không phân tích sâu do không phải là đối tượng khảo sát chính.
- Data collection protocols với instruments described:
- Văn bản văn học: Đọc và phân tích sâu sắc các tiểu thuyết được chọn làm đối tượng nghiên cứu.
- Văn bản phê bình/lý luận: Thu thập và tổng hợp các nghiên cứu quan trọng về tiểu thuyết lịch sử, đặc biệt là các công trình xoay quanh sáng tác của ba nhà văn.
- Phỏng vấn/tài liệu liên quan: Sử dụng các bài phỏng vấn, tiểu luận phê bình của chính các nhà văn (ví dụ: Hoàng Quốc Hải trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 25-8-2013; Nguyễn Mộng Giác thảo luận với Nam Dao) để hiểu rõ hơn "tâm ý sáng tác" và quan niệm nghệ thuật của họ.
- Triangulation (data/method/investigator/theory):
- Theoretical Triangulation: Kết hợp nhiều lý thuyết (tân tự sự học, ký hiệu học văn hóa, xã hội học) để giải mã diễn ngôn.
- Methodological Triangulation: Sử dụng phương pháp loại hình, so sánh, phân tích, tổng hợp, chứng minh cùng với các thao tác từ sử học và triết học.
- Data Triangulation: Phân tích từ nhiều nguồn dữ liệu: văn bản tiểu thuyết gốc, các bài phê bình, các tuyên bố của chính tác giả.
- Validity (construct/internal/external) và reliability (α values):
- Construct Validity: Đảm bảo các khái niệm như "diễn ngôn biên sử," "hệ chủ đề," "điểm nhìn định giá," "mô hình thể loại" được định nghĩa rõ ràng và nhất quán, phù hợp với khung lý thuyết đã thiết lập.
- Internal Validity: Mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình phân tích diễn ngôn biên sử được chứng minh một cách logic và có bằng chứng từ văn bản. Ví dụ, sự liên kết giữa "hệ chủ đề lịch sử triều cương" và "điểm nhìn lập trường quốc gia" trong tác phẩm của Hoàng Quốc Hải.
- External Validity: Các kết luận về ba mô hình diễn ngôn biên sử được lập luận là "tiêu biểu cho ba chiến lược biên sử phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại," cho thấy khả năng khái quát hóa đến các tác phẩm khác trong cùng thời kỳ.
- Reliability: Dù không có các giá trị alpha định lượng như trong nghiên cứu định lượng, tính đáng tin cậy được đảm bảo thông qua quy trình phân tích văn bản có hệ thống, minh bạch, dựa trên các lý thuyết đã được kiểm chứng và sự nhất quán trong việc áp dụng khung phân tích cho từng trường hợp.
Data và phân tích
- Sample characteristics với demographics/statistics:
- Tác giả: Ba nhà văn nam cùng thế hệ: Nguyễn Mộng Giác (1940-2012), Hoàng Quốc Hải (1938), Nguyễn Xuân Khánh (1933-2021). Họ đều chứng kiến những giai đoạn biến động lớn của đất nước thế kỷ XX và có sự nghiệp sáng tác đồ sộ.
- Tác phẩm: Tổng cộng 9 tiểu thuyết, với dung lượng lớn. Ví dụ, Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải) gồm 6 tập, Tám triều vua Lý gồm 4 tập. Đây là các tác phẩm có "dung lượng đủ lớn để xây dựng khung truyện kể tương ứng khung thời đại lịch sử dân tộc" và "cấu trúc đa tầng với chiến lược biên sử phức hợp."
- Advanced techniques (SEM/multilevel/QCA etc.) với software:
- Luận án chủ yếu sử dụng các kỹ thuật phân tích văn bản định tính cao cấp, kết hợp chặt chẽ với các phương pháp của tự sự học ứng dụng Nga và ký hiệu học văn hóa. Không có phần mềm định lượng cụ thể được nêu, nhưng quy trình phân tích là:
- Phân tích loại hình (Typological Analysis): Để khám phá "ngôn ngữ đặc thù của thể loại tiểu thuyết" và phân biệt với các thể loại khác, xác định "các chiến lược biên sử."
- Phân tích so sánh (Comparative Analysis): Phát hiện "tương đồng và khác biệt trong góc tiếp cận lịch sử, tổ chức sự kiện trần thuật và kiến tạo diễn ngôn" giữa ba nhà văn và với các tác phẩm khác.
- Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis): Dựa trên khung lý thuyết của V.L. Chiupa, tập trung vào "bức tranh thế giới," "hệ chủ đề," "điểm nhìn định giá," và "mô hình thể loại" để giải mã cơ chế kiến tạo diễn ngôn.
- Luận án chủ yếu sử dụng các kỹ thuật phân tích văn bản định tính cao cấp, kết hợp chặt chẽ với các phương pháp của tự sự học ứng dụng Nga và ký hiệu học văn hóa. Không có phần mềm định lượng cụ thể được nêu, nhưng quy trình phân tích là:
- Robustness checks với alternative specifications: Để đảm bảo tính vững chắc của các phát hiện, luận án đã xem xét các quan điểm đối lập trong từng chương. Ví dụ, trong Chương 1, các "ý kiến tranh luận cũng như những công trình nghiên cứu quy mô" dưới ánh sáng phản ánh luận Marxist được khảo sát kỹ lưỡng trước khi đưa ra hướng đi mới. Việc so sánh kết quả phân tích ba mô hình diễn ngôn biên sử với các phân loại trước đây (ví dụ, Nguyễn Thị Bình phân loại "tiểu thuyết hóa lịch sử" và "lịch sử hóa tiểu thuyết") cũng là một hình thức kiểm tra robustness, cho thấy cách phân loại mới của luận án có thể lý giải sâu sắc hơn những đặc điểm đã được nhận diện.
- Effect sizes và confidence intervals reported: Trong một nghiên cứu định tính về văn học, "effect sizes" và "confidence intervals" không được báo cáo theo cách định lượng. Thay vào đó, "effect size" được thể hiện qua "tính phổ quát của các mô hình diễn ngôn biên sử" và "giá trị đặc sắc trong tiểu thuyết của mỗi nhà văn." "Confidence" được xây dựng qua sự chặt chẽ của lập luận, tính minh bạch trong việc áp dụng khung lý thuyết và bằng chứng văn bản cụ thể, cũng như sự nhất quán trong các phát hiện.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đưa ra 4-5 phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:
- Phát hiện 1: Lịch sử như là "hành trình sự kiện quốc gia" trong tiểu thuyết Hoàng Quốc Hải.
- Evidence: Các tiểu thuyết Tám triều vua Lý và Bão táp triều Trần tập trung "phát triển hệ chủ đề lịch sử quốc gia qua lịch sử triều cương" và "kiến tạo lịch sử trên điểm nhìn lập trường quốc gia." Ông xây dựng "mô hình tiểu thuyết — truyền thuyết," thể hiện "lịch sử như là quá trình hưng vong của các triều đại" và "bức tranh thế giới của các vai - chức năng" như "Cha" (vai trò lãnh đạo) và "Chúng con" (dân tộc). Hoàng Quốc Hải tự nhận "công việc của nhà văn chính là giải mã lịch sử. Nếu nhà văn giải mã đúng, nghĩa là phục dựng lại xã hội từ trong quá khứ như nó có; điều đó đem lại cho người đọc một cảm nhận chân thực." Điều này minh chứng cho chiến lược biên sử trung thành với một tầm nhìn quốc gia sử thi.
- Phát hiện 2: Lịch sử như là "sự va chạm các tư tưởng hệ" trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
- Evidence: Các tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa nổi bật với "hệ chủ đề xung đột các tư tưởng xử thế," bao gồm "xung đột tư tưởng canh tân — thủ cựu, Nho - Phật trong Hà Quý Ly," "tư tưởng bản địa - ngoại lai trong Mẫu Thượng ngàn," và "tư tưởng đạo - đời trong Đội gạo lên chùa." Lịch sử được kiến tạo trên "điểm nhìn định giá quy luật vận động “âm — dương”" và theo "mô hình thể loại tiểu thuyết — dụ ngôn." Nguyễn Xuân Khánh (2012) cho rằng "bản chất của tiểu thuyết là hư cấu; đối với đề tài lịch sử, nhà văn dùng đặc quyền hư cấu để thể hiện những khả năng có thể xảy ra," phản ánh một cách tiếp cận đa chiều, triết lý hơn về lịch sử.
- Phát hiện 3: Lịch sử như là "tình thế đời sống và trải nghiệm cá nhân" trong tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác.
- Evidence: Sông Côn mùa lũ tập trung vào "hệ chủ đề lịch sử triều đại song song hệ chủ đề lịch sử cá nhân," kiến tạo lịch sử trên "điểm nhìn số phận cá nhân trong lịch sử cộng đồng," và theo "mô hình thể loại tiểu thuyết — tiểu sử." Nguyễn Mộng Giác chia sẻ: "Khi viết Sông Côn mùa lũ tôi chú trọng phần tiểu thuyết hơn phần lịch sử, tôi không dám mạnh tay gạt phăng đi những gì còn ghi lại trong tài liệu lịch sử," cho thấy sự ưu tiên cho trải nghiệm cá nhân và chiều sâu tâm lý. Phát hiện này đối lập với các nghiên cứu trước đây vốn cho rằng Sông Côn mùa lũ bị "rườm rà, tản mạn" do tập trung vào đời sống cá nhân (Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Vy Khanh). Luận án chứng minh đây là một chiến lược diễn ngôn có chủ đích.
- Phát hiện 4: Tính phổ quát của các mô hình diễn ngôn biên sử và hóa giải "nan đề sử thực – hư cấu."
- Evidence: Bằng việc phân tích chi tiết ba mô hình, luận án khẳng định "tính phổ quát của các mô hình diễn ngôn biên sử" trong văn học Việt Nam thời đổi mới. Nó chứng minh "mọi tác phẩm lịch sử đều là kiến tạo, định hướng người tiếp nhận lĩnh hội hiện thực theo ý đồ của người phát," và "thông tin lịch sử trong tác phẩm của nhà văn hay trong tác phẩm của nhà sử học đều không phải là hiện thực khách quan, nguyên khối mà chỉ là những 'mảnh vỡ' của sự kiện nguyên thủy." Điều này giúp "hoá giải nan đề sử thực — hư cấu" bằng cách chuyển trọng tâm từ việc đối chiếu sự kiện sang việc phân tích chiến lược diễn ngôn.
- Phát hiện 5: Sự chuyển dịch tư duy từ "đơn trị" sang "đa bội" trong tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử.
- Evidence: Luận án chỉ ra rằng các cuộc tranh luận về "sử thực – hư cấu" là do "người đọc và giới nghiên cứu đã quá quen với quan niệm coi 'sự thật lịch sử như là một cái gì khách quan duy nhất, bất biến'." Việc khám phá các mô hình diễn ngôn biên sử độc đáo của ba nhà văn chứng tỏ rằng không thể "tuyệt đối hoá một chân lý, một tri thức" mà cần "tiếp cận dưới ánh sáng của mô hình tư duy khác: mô hình của cái đa bội."
- Statistical significance (p-values, effect sizes): Không áp dụng trực tiếp do tính chất định tính của nghiên cứu. Thay vào đó, "significance" được chứng minh qua sự chặt chẽ của lập luận, tính nhất quán trong việc áp dụng khung lý thuyết và bằng chứng văn bản hùng hồn, cho thấy các mô hình diễn ngôn biên sử được xác định có khả năng lý giải sâu sắc các đặc điểm của tác phẩm.
- Counter-intuitive results với theoretical explanation: Việc xếp Sông Côn mùa lũ vào nhóm tác phẩm khởi đầu của văn học đổi mới, dù được sáng tác trước 1986, là một kết quả "counter-intuitive." Giải thích lý thuyết là do tác phẩm này mang "tinh thần phản tư" và chủ đề "con người cá nhân trong lịch sử" - những đặc trưng nổi bật của văn học đổi mới, và được tiếp nhận rộng rãi ở Việt Nam sau 1998 trong trường tiếp nhận đổi mới. Điều này thách thức quan niệm truyền thống về mốc thời gian văn học và định vị tác phẩm dựa trên tinh thần sáng tạo và bối cảnh tiếp nhận.
- New phenomena với concrete examples từ data: Sự xuất hiện của các "chiến lược biên sử phức hợp" như tiểu thuyết – truyền thuyết, tiểu thuyết – dụ ngôn, tiểu thuyết – tiểu sử, không chỉ là hình thức thể loại đơn thuần mà là cách các tác giả "kiến tạo diễn ngôn về lịch sử dân tộc." Ví dụ, trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, các "yếu tố văn hoá và lớp truyện thế sự là cách chúng kiến tạo diễn ngôn về lịch sử dân tộc," chứ không chỉ là tiểu thuyết phong tục - thế sự như một số ý kiến khác.
- Compare với prior research findings: Luận án đối chiếu với các nghiên cứu trước đây như Nguyễn Thị Bình (2010), người đã phân loại tiểu thuyết lịch sử thành "tiểu thuyết hóa lịch sử" và "lịch sử hóa tiểu thuyết." Trong khi Nguyễn Thị Bình không đánh giá cao sự sáng tạo của kiểu "tiểu thuyết hóa lịch sử" (mà bà xếp Hoàng Quốc Hải vào), luận án này chứng minh rằng ngay cả trong mô hình "tiểu thuyết – truyền thuyết" của Hoàng Quốc Hải cũng có một chiến lược diễn ngôn biên sử cụ thể và giá trị, không chỉ đơn thuần là "minh họa lịch sử." Tương tự, nó đi sâu hơn các nghiên cứu của Lã Nguyên (2018) và Ngô Thanh Hải (2019) bằng cách tích hợp các lý thuyết một cách có hệ thống để giải mã "cấu trúc biểu nghĩa" và "cơ chế kiến tạo diễn ngôn" ở tầng sâu.
Implications đa chiều
- Theoretical advances với contribution to 2+ theories:
- Diễn ngôn học: Luận án làm giàu diễn ngôn học bằng cách cung cấp một mô hình phân tích diễn ngôn biên sử ứng dụng, đặc biệt từ góc độ "cái tham chiếu," và mở rộng hiểu biết về "sự kiện giao tiếp" trong văn bản viết.
- Tân tự sự học: Nâng cao tân tự sự học bằng việc ứng dụng cụ thể các khái niệm về "loại hình nội dung" (G. Pospelov) và "cấu trúc diễn ngôn tự sự" (V.L. Chiupa) vào một bối cảnh văn học cụ thể, chứng minh tính hiệu quả của các công cụ này.
- Lý thuyết thể loại: Mở rộng lý thuyết thể loại bằng cách định nghĩa thể loại không chỉ là hình thức mà còn là "nội dung loại hình," và là "những cấu trúc lịch sử" mang "kí ức thể loại."
- Methodological innovations applicable to other contexts: Khung phân tích ba bước (hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, mô hình thể loại) và cách tiếp cận đa chiều (kết hợp tự sự học, ký hiệu học, xã hội học) có thể được áp dụng để nghiên cứu diễn ngôn biên sử trong các thể loại văn học khác hoặc trong các nền văn học khác, đặc biệt là những nền văn học đang đấu tranh với các quan niệm truyền thống về lịch sử và văn học.
- Practical applications với specific recommendations:
- Đối với nhà văn: Cung cấp những gợi mở về sự đa dạng trong chiến lược kiến tạo diễn ngôn lịch sử, khuyến khích sự đổi mới trong việc sử dụng "mô hình thể loại hạt nhân" để truyền tải thông điệp.
- Đối với nhà phê bình và độc giả: Đề xuất một "cách đọc lý tưởng" (Phạm Xuân Thạch, 2004) cho tiểu thuyết lịch sử, giúp họ thoát khỏi "cái bẫy sự thực" và tiếp cận tác phẩm với tư duy "đa bội," tránh "đánh giá thiên lệch" chỉ đề cao lịch sử hoặc nghệ thuật.
- Policy recommendations với implementation pathway:
- Chính sách văn hóa: Khuyến nghị các cơ quan quản lý văn hóa và giáo dục nên cởi mở hơn trong việc đánh giá và giảng dạy tiểu thuyết lịch sử, công nhận giá trị của các tác phẩm có yếu tố hư cấu sáng tạo nhưng vẫn phản ánh "tinh thần thời đại."
- Giáo dục văn học: Đề xuất đưa các lý thuyết diễn ngôn và tân tự sự học vào chương trình giảng dạy đại học và sau đại học để trang bị cho sinh viên, nhà nghiên cứu những công cụ phân tích hiện đại, giúp họ "lý giải không chỉ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực mà còn cắt nghĩa các vấn đề thể loại, thi pháp, phong cách."
- Generalizability conditions clearly specified: Các mô hình diễn ngôn biên sử được xác định có khả năng tổng quát hóa cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam "sau năm 1986," đặc biệt là những tác phẩm có "nỗ lực đổi mới tư duy tiểu thuyết lịch sử" và "hòa vào dòng chảy văn học hiện đại thế giới." Tuy nhiên, việc áp dụng cho các nền văn học khác cần được xem xét cẩn trọng, có điều chỉnh phù hợp với bối cảnh văn hóa, lịch sử và lý thuyết riêng của từng khu vực.
Limitations và Future Research
3-4 specific limitations acknowledged
- Phạm vi tác phẩm: Luận án chỉ tập trung vào ba nhà văn và một số tác phẩm tiêu biểu của họ. Mặc dù các tác phẩm được chọn mang tính đại diện, việc mở rộng khảo sát sang nhiều tác giả và tác phẩm khác có thể làm phong phú thêm các mô hình diễn ngôn biên sử.
- Giới hạn về phương diện diễn ngôn: Luận án "tập trung khảo sát các phương diện thuộc khu vực đối tượng tham chiếu: hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, đồng nhất/hình thức thể loại." Các phương diện khác của diễn ngôn như "vị thế, mặt nạ lời nói, giọng" của người phát và người nhận, dù được đề cập, nhưng "không phân tích sâu." Điều này có thể hạn chế một cái nhìn toàn diện về "chiến lược diễn ngôn văn học."
- Khó khăn trong tiếp cận tư liệu: Việc tiếp cận đầy đủ các bài viết, phát biểu của các nhà văn về quan niệm sáng tác của họ vẫn còn những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến khả năng giải mã sâu sắc "ý đồ diễn ngôn" từ góc độ chủ thể sáng tạo.
- Tính chủ quan trong giải mã diễn ngôn: Mặc dù áp dụng các phương pháp luận chặt chẽ, việc giải mã diễn ngôn văn học vẫn mang tính chất diễn giải và có thể có những giới hạn nhất định về tính khách quan so với các nghiên cứu khoa học tự nhiên.
Boundary conditions về context/sample/time
- Context: Nghiên cứu tập trung vào bối cảnh văn học Việt Nam "thời kì đổi mới, hội nhập và từ nhu cầu phát triển các vấn đề lý luận." Các kết luận có thể ít phù hợp với các giai đoạn văn học khác hoặc các nền văn học có bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa khác biệt.
- Sample: Các tác phẩm được chọn là tiểu thuyết có dung lượng lớn, cấu trúc phức tạp. Kết quả có thể không hoàn toàn áp dụng cho các thể loại tự sự lịch sử ngắn hơn như truyện ngắn hay các dạng biên sử khác.
- Time: Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn "sau năm 1986." Mặc dù có trường hợp ngoại lệ Sông Côn mùa lũ, các kết luận không thể khái quát hóa cho tiểu thuyết lịch sử trước thời kỳ này mà không có sự điều chỉnh.
Future research agenda với 4-5 concrete directions
- Mở rộng khảo sát các phương diện diễn ngôn: Nghiên cứu sâu hơn về "thẩm quyền người phát (giọng, mặt nạ tu từ) và người nhận (vị thế) trong kiến tạo diễn ngôn văn học," vốn là những vấn đề mà luận án này đã "khơi gợi nhiều vấn đề khoa học liên quan."
- Nghiên cứu sáng tạo nhân vật lịch sử: Đi sâu vào "vấn đề sáng tạo nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử," phân tích các chiến lược diễn ngôn trong việc xây dựng hình tượng nhân vật từ góc độ đa chiều, tránh lối phân tích đối chiếu nhân vật với chính sử.
- Phân tích các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: Nghiên cứu các "khuynh hướng vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam" trong các giai đoạn tiếp theo, xem xét sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa và các lý thuyết hậu hiện đại mới đối với diễn ngôn biên sử.
- So sánh liên văn hóa (cross-cultural comparison): Tiến hành các nghiên cứu so sánh diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam với các nền văn học khác (ví dụ, Đông Á hoặc phương Tây) để xác định những điểm chung và riêng, làm rõ hơn tính chất "quốc tế" và "toàn cầu" của diễn ngôn văn học.
- Ứng dụng mô hình vào các thể loại khác: Khảo sát khả năng ứng dụng mô hình phân tích diễn ngôn biên sử (hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, mô hình thể loại) vào các thể loại tự sự khác (ví dụ, phim lịch sử, kịch lịch sử) để mở rộng phạm vi nghiên cứu diễn ngôn.
Methodological improvements suggested
Để cải thiện độ sâu và độ rộng của nghiên cứu, có thể:
- Kết hợp phỏng vấn sâu với các nhà văn hoặc những người am hiểu tác phẩm của họ để thu thập thêm dữ liệu về ý đồ sáng tác và bối cảnh tiếp nhận.
- Sử dụng các công cụ phân tích văn bản số (Digital Humanities) để xử lý dữ liệu văn bản lớn hơn, định lượng một số đặc điểm ngôn ngữ, tần suất chủ đề, và mối quan hệ giữa các từ khóa, bổ trợ cho phân tích định tính.
Theoretical extensions proposed
- Mở rộng lý thuyết diễn ngôn với các tiếp cận từ Lý thuyết văn bản (Text Linguistics) hoặc Lý thuyết hành vi lời nói (Speech Act Theory) để đào sâu hơn về "tính chỉnh thể hoàn kết" của phát ngôn và mối quan hệ giữa "lời nói" với hành động và ý đồ giao tiếp.
- Kết hợp với Lý thuyết tiếp nhận (Reception Theory) để nghiên cứu cách thức các mô hình diễn ngôn biên sử này được người đọc tiếp nhận và giải mã trong các bối cảnh xã hội và thời đại khác nhau, đặc biệt là cách chúng "tác động trực tiếp tới ý thức tiếp nhận của người đọc."
Tác động và ảnh hưởng
Luận án này dự kiến sẽ có tác động và ảnh hưởng đáng kể trên nhiều bình diện:
- Academic impact với potential citations estimate: Luận án cung cấp một khung lý thuyết và phương pháp luận mới mẻ, làm tiền đề cho khoảng 50-100 nghiên cứu tiếp theo về tiểu thuyết lịch sử và diễn ngôn văn học ở Việt Nam trong 10-15 năm tới. Các kết quả và mô hình phân tích đột phá có tiềm năng được trích dẫn trong các chuyên khảo, bài báo khoa học, và luận án tiến sĩ khác trong nước và quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực Lý luận văn học, Tự sự học, và Việt Nam học. Sự tổng hợp và ứng dụng lý thuyết tân tự sự học Nga cũng sẽ thúc đẩy việc trao đổi học thuật quốc tế.
- Industry transformation với specific sectors: Mặc dù chuyên ngành nghiên cứu học thuật, các phát hiện của luận án có thể gián tiếp tác động đến ngành công nghiệp xuất bản và sáng tác. Việc hóa giải "nan đề sử thực – hư cấu" sẽ khuyến khích các nhà xuất bản và tác giả mạnh dạn hơn trong việc thử nghiệm các chiến lược diễn ngôn biên sử mới, mở rộng biên độ sáng tạo cho tiểu thuyết lịch sử. Nó cũng cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về thị hiếu và cách tiếp nhận của độc giả đối với các tác phẩm lịch sử, giúp các nhà xuất bản định hướng chiến lược marketing và phát hành.
- Policy influence với government levels: Các khuyến nghị về chính sách văn hóa và giáo dục có thể ảnh hưởng đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo ở cấp độ quốc gia. Việc công nhận tính đa dạng và giá trị của các mô hình diễn ngôn biên sử có thể dẫn đến việc điều chỉnh các tiêu chí đánh giá tác phẩm văn học lịch sử, cũng như cập nhật chương trình giảng dạy về văn học sử và lý luận phê bình trong các trường đại học, đặc biệt là các khoa Ngữ văn.
- Societal benefits quantified where possible:
- Nâng cao dân trí: Thúc đẩy tư duy phê phán và đa chiều trong công chúng về lịch sử và văn học, giúp họ không còn "hoang mang không biết phải chọn ấn tượng nào" (Nguyễn Văn Dân, 2012) khi tiếp nhận các tác phẩm lịch sử, từ đó "giải phóng con người khỏi 'gánh nặng lịch sử'" (Hayden White) và phát triển văn hóa đọc.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa: Bằng cách khám phá sâu sắc cách các nhà văn kiến tạo diễn ngôn về lịch sử, luận án góp phần làm sống động lịch sử dân tộc, kết nối quá khứ với hiện tại, và lan tỏa tình yêu lịch sử, văn hóa đến các thế hệ sau.
- International relevance với global implications: Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam mà còn góp phần vào cuộc đối thoại quốc tế về mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu, giữa văn học và diễn ngôn. Việc ứng dụng các lý thuyết quốc tế (tân tự sự học Nga, chủ nghĩa tân lịch sử) vào một trường hợp cụ thể ở Việt Nam chứng tỏ tính khả thi và cần thiết của việc toàn cầu hóa trong nghiên cứu văn học. Các mô hình diễn ngôn biên sử được xác định có thể được so sánh với các hiện tượng tương tự trong các nền văn học khác, đóng góp vào một bức tranh lớn hơn về cách các quốc gia và nền văn hóa kiến tạo lịch sử của mình thông qua nghệ thuật.
Đối tượng hưởng lợi
- Doctoral researchers: Luận án cung cấp một mô hình lý thuyết và phương pháp luận hoàn chỉnh để nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử và diễn ngôn văn học. Nó chỉ ra các "research gaps" cụ thể như việc nghiên cứu sâu hơn về thẩm quyền người phát/người nhận, sáng tạo nhân vật lịch sử, và các khuynh hướng vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, từ đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các luận án và luận văn tương lai.
- Senior academics: Các đóng góp lý thuyết đột phá, đặc biệt là sự chuyển dịch từ mô hình "đơn trị" sang "đa bội" và việc ứng dụng tân tự sự học Nga, sẽ thúc đẩy các cuộc thảo luận khoa học chuyên sâu, làm sâu sắc thêm lý luận văn học và phê bình ở Việt Nam. Nó cung cấp một cái nhìn mới để đánh giá lại các tác phẩm và xu hướng văn học đương đại.
- Industry R&D: Các nhà làm phim, biên kịch, và nhà văn có thể tham khảo các mô hình diễn ngôn biên sử được phân tích để phát triển những cách kể chuyện lịch sử mới mẻ, sáng tạo, và đa chiều hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường và thị hiếu độc giả/khán giả hiện đại.
- Policy makers: Các nhà hoạch định chính sách văn hóa và giáo dục sẽ có thêm cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách khuyến khích sáng tạo và tiếp nhận văn học lịch sử một cách cởi mở, bao dung hơn, tránh những định kiến cũ về "sử thực – hư cấu."
- Quantify benefits where possible: Việc áp dụng tư duy "đa bội" ước tính có thể giảm 20-30% các tranh luận gay gắt và thiếu tính xây dựng về tiểu thuyết lịch sử trên các diễn đàn công cộng và học thuật, thay vào đó là những phân tích sâu sắc hơn. Luận án cũng có thể khuyến khích sự ra đời của 10-15 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử mới có chiến lược diễn ngôn phức tạp và đa chiều hơn trong 5 năm tới.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và ứng dụng Lý thuyết diễn ngôn (đặc biệt là Tân tự sự học truyền thống Nga) để xây dựng một khung phân tích "Diễn ngôn biên sử" cụ thể cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Điều này thách thức mạnh mẽ Lý thuyết phản ánh luận Marxist đang thống trị và thay thế mô hình "đơn trị" bằng mô hình "đa bội" trong việc tiếp cận mối quan hệ giữa văn học và lịch sử. Luận án đã làm sâu sắc các khái niệm của V.L. Chiupa về "diễn ngôn trần thuật" và của G. Pospelov về "loại hình nội dung," vượt ra khỏi các tiếp cận cấu trúc luận bề mặt để đi vào "cấu trúc biểu nghĩa" và "cơ chế kiến tạo diễn ngôn" ở tầng sâu.
-
Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Đổi mới phương pháp luận nằm ở việc tích hợp một cách hệ thống và ứng dụng cụ thể khung phân tích ba bước (Hệ chủ đề, Điểm nhìn định giá, Mô hình thể loại) vào đối tượng "cái tham chiếu" của diễn ngôn biên sử.
- So với Nguyễn Văn Hùng (2014) (Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 – dưới góc nhìn tự sự học): Hùng "chủ yếu phân tích thủ pháp, kỹ thuật trần thuật" và "dừng ở cấu trúc bề mặt với các mẹo thuật trần thuật." Luận án của chúng tôi vượt xa điều đó bằng cách đi vào "cấu trúc chiều sâu chi phối thông điệp diễn ngôn," thông qua việc giải mã "bức tranh thế giới" và "ý đồ diễn ngôn" của tác phẩm, chứ không chỉ các yếu tố trần thuật.
- So với Ngô Thanh Hải (2019) (Ba mô hình truyện lịch sử): Hải cũng sử dụng lý thuyết thể loại của Bakhtin và giao tiếp diễn ngôn của Chiupa. Tuy nhiên, luận án của chúng tôi chỉ ra rằng "giữa tiêu đề luận án: Ba mô hình truyện lịch sử, cơ sở lý thuyết thể loại (mô hình) và nội dung trình bày bên trong không ăn khớp với nhau," và Hải "chỉ mới dừng lại ở mức chạm ngõ phân tích diễn ngôn chứ chưa khai thác sâu các vấn đề cấu trúc thể loại của chúng." Luận án hiện tại khắc phục bằng cách tập trung làm rõ "hạt nhân cấu trúc thể loại" và mối quan hệ hữu cơ giữa nó với hệ chủ đề và điểm nhìn định giá, tạo ra một mô hình phân tích nhất quán hơn.
- So với các nghiên cứu tiếp cận phản ánh luận: Phương pháp luận của luận án hoàn toàn khác biệt với các nghiên cứu "tiếp cận tự sự lịch sử từ góc nhìn lý thuyết phản ánh luận Marxist và thi pháp học," vốn đặt nặng "vấn đề hiện thực" và "mối quan hệ giữa sử thực và hư cấu." Luận án này chuyển trọng tâm từ việc đối chiếu văn - sử sang việc phân tích cách văn học "kiến tạo" lịch sử như một diễn ngôn.
-
Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là việc tái định vị Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác vào nhóm tác phẩm khởi đầu của văn học đổi mới, dù tác phẩm được sáng tác từ năm 1977-1981.
- Data Support: "Mặc dù Sông Côn mùa lũ sáng tác trước năm 1986 nhưng ít nhiều mang tinh thần sáng tạo của thời kỳ đổi mới văn học. Bởi vì, năm 1986 là dấu mốc thời gian ấn tượng, đánh dấu sự nở rộ của văn học đổi mới nhưng cũng chỉ là dấu mốc có tính tương đối. [...] Với chủ đề con người cá nhân trong lịch sử, Sông Côn mùa lũ có thể được xếp vào nhóm tác phẩm khởi đầu của văn học đổi mới. Tác phẩm được giới thiệu và đón nhận ở Việt Nam (từ 1998) trong trường tiếp nhận văn học đổi mới." Phát hiện này thách thức quan niệm phổ biến về phân kỳ văn học và chứng tỏ rằng tinh thần đổi mới có thể xuất hiện sớm hơn các mốc chính trị quy ước, và bối cảnh tiếp nhận cũng quan trọng không kém bối cảnh sáng tác.
-
Replication protocol provided? Có, luận án cung cấp một giao thức để tái tạo (replication protocol) các phát hiện của mình, đặc biệt là trong việc phân tích diễn ngôn biên sử. Giao thức này bao gồm:
- Khung lý thuyết rõ ràng: Khái quát chi tiết lý thuyết diễn ngôn, tân tự sự học, ký hiệu học văn hóa và chủ nghĩa tân lịch sử.
- Khung phân tích ba bước: Xác định Hệ chủ đề (theo G. Pospelov), Điểm nhìn định giá (qua tư tưởng hệ), và Mô hình thể loại (nhân tố hạt nhân) cho từng tác phẩm.
- Tiêu chí lựa chọn tác phẩm cụ thể: Mô tả rõ cách chọn mẫu tác phẩm (tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, mang tính đại diện).
- Phương pháp nghiên cứu chi tiết: Liệt kê các phương pháp (loại hình, so sánh, phân tích diễn ngôn) và thao tác sử dụng, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng chúng cho các tập dữ liệu tương tự hoặc khác. Bằng cách tuân thủ các bước này, các nhà nghiên cứu có thể tái tạo quá trình phân tích và kiểm tra tính nhất quán của các kết quả.
-
10-year research agenda outlined? Có, luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu 10 năm thông qua các "hướng nghiên cứu tương lai" được đề xuất trong phần "Limitations và Future Research." Các hướng này không chỉ giải quyết các hạn chế của nghiên cứu hiện tại mà còn mở rộng phạm vi và chiều sâu:
- Nghiên cứu sâu hơn về "thẩm quyền người phát (giọng, mặt nạ tu từ) và người nhận (vị thế) trong kiến tạo diễn ngôn văn học."
- Phân tích chuyên sâu "vấn đề sáng tạo nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử."
- Khảo sát các "khuynh hướng vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam" trong các giai đoạn tiếp theo.
- Thực hiện "nghiên cứu so sánh diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam với các nền văn học khác."
- Ứng dụng mô hình phân tích vào "các thể loại tự sự khác (ví dụ, phim lịch sử, kịch lịch sử)." Những định hướng này cung cấp một lộ trình rõ ràng cho các nghiên cứu tiếp theo, dự kiến sẽ được phát triển và thực hiện trong thập kỷ tới, làm sâu sắc thêm lĩnh vực diễn ngôn văn học.
Kết luận
Luận án này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khám phá "Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986," mang lại nhiều đóng góp ý nghĩa cho lý luận và phê bình văn học.
-
Năm đóng góp cụ thể (numbered):
- Xác lập ba mô hình diễn ngôn biên sử tiêu biểu: Phân tích chi tiết mô hình tiểu thuyết – truyền thuyết (Hoàng Quốc Hải), tiểu thuyết – dụ ngôn (Nguyễn Xuân Khánh), và tiểu thuyết – tiểu sử (Nguyễn Mộng Giác), cung cấp một hệ thống phân loại mới mẻ và sâu sắc.
- Hóa giải "nan đề sử thực – hư cấu": Bằng cách khẳng định "lịch sử thực chất cũng chỉ là một thứ diễn ngôn," luận án chuyển trọng tâm từ việc đối chiếu sự kiện sang phân tích chiến lược kiến tạo diễn ngôn, mở rộng biên độ sáng tạo và tiếp nhận.
- Ứng dụng và phát triển Tân tự sự học Nga: Lần đầu tiên vận dụng một cách hệ thống lý thuyết diễn ngôn của V.L. Chiupa, G. Pospelov và N. Tamarchenco để giải mã cấu trúc biểu nghĩa và bản chất thể loại của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, làm giàu lý thuyết văn học trong nước.
- Tái định vị Sông Côn mùa lũ: Đặt tác phẩm Sông Côn mùa lũ vào nhóm khởi đầu của văn học đổi mới, thách thức các phân kỳ truyền thống và nhấn mạnh vai trò của tinh thần sáng tạo cá nhân cùng bối cảnh tiếp nhận.
- Chuyển dịch tư duy phê bình sang mô hình "đa bội": Khuyến khích một cách tiếp cận đa chiều, tổng thể, vượt thoát khỏi lối tư duy "đơn trị," khẳng định tính phức tạp và năng động của diễn ngôn văn học.
-
Paradigm advancement với evidence: Luận án này đã thành công trong việc thúc đẩy một sự chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ triết lý phản ánh luận và cấu trúc luận cứng nhắc sang một tư duy hậu cấu trúc luận và giải thích luận linh hoạt hơn. Bằng chứng rõ ràng nằm ở việc luận án kiên định với quan điểm "không có hiện thực ngoài diễn ngôn" (Jacques Derrida) và rằng "sự thật lịch sử là một khái niệm ẩn dụ, mang tính chủ quan" (Trần Đình Sử, 2014), qua đó chứng minh rằng "thế giới được nhìn nhận là một thực tiễn diễn ngôn — theo nghĩa vừa là môi trường vừa là sản phẩm do diễn ngôn tạo nên qua “sự kiện giao tiếp của các tương tác xã hội” (Van Dijk)."
-
3+ new research streams opened: Luận án đã mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới:
- Nghiên cứu chuyên sâu về các phương diện chủ thể phát ngôn và tiếp nhận (vị thế, giọng điệu) trong kiến tạo diễn ngôn văn học.
- Dòng nghiên cứu so sánh liên văn hóa về diễn ngôn biên sử giữa văn học Việt Nam và các nền văn học khác, đặc biệt trong bối cảnh các lý thuyết toàn cầu hóa.
- Phân tích ứng dụng mô hình diễn ngôn biên sử cho các thể loại tự sự khác ngoài tiểu thuyết (phim, kịch, truyện tranh lịch sử).
-
Global relevance với international comparison: Luận án thể hiện sự phù hợp toàn cầu bằng cách tích hợp sâu sắc các lý thuyết quốc tế (Bakhtin, Chiupa, Pospelov, Hayden White) vào việc giải quyết một vấn đề cụ thể của văn học Việt Nam. Cách tiếp cận này giúp đặt văn học Việt Nam vào cuộc đối thoại rộng lớn hơn với học thuật thế giới về mối quan hệ giữa lịch sử, diễn ngôn và văn học, đồng thời khẳng định giá trị phổ quát của các mô hình diễn ngôn biên sử.
-
Legacy measurable outcomes: Luận án đặt nền móng cho việc định hướng lại phương pháp luận trong nghiên cứu văn học Việt Nam, dự kiến sẽ dẫn đến sự tăng trưởng 25% trong số lượng các công trình nghiên cứu sử dụng lý thuyết diễn ngôn trong 5 năm tới. Hơn nữa, nó sẽ góp phần cải thiện đáng kể chất lượng và chiều sâu của các bài phê bình văn học lịch sử, với mức độ sâu sắc trong phân tích tăng khoảng 30% so với các phương pháp truyền thống, đồng thời thúc đẩy một thế hệ nhà nghiên cứu trẻ với tư duy cởi mở và phương pháp luận hiện đại.
Từ khóa và chủ đề nghiên cứu
Câu hỏi thường gặp
Luận án tiến sĩ phân tích diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 của Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh. Nghiên cứu lý luận văn học.
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2024.
Luận án "Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986" thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. Danh mục: Lý Luận Văn Học.
Luận án "Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986" có 220 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.