Luận án tác động cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành nhựa và bao bì niêm yết tại Việt Nam

Phân tích tác động cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì. Đề xuất giải pháp tối ưu nâng cao hiệu quả tài chính.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Nghiên cứu

Số trang

221

Thời gian đọc

34 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, DN được coi như một tài sản, một loại hàng hóa có khả năng sinh lời và đem lại lợi ích cho nhà đầu tư. Do đó, khi nhà đầu tư thực hiện bỏ vốn đầu tư vào DN, hoặc khi đưa ra các quyết định đầu tư, quyết định tài chính phù hợp cần phải cân nhắc đến giá trị của DN. Trên góc độ tài chính, giá trị của DN được hiểu là tổng giá trị hiện tại của các khoản lợi ích mà nhà đầu tư thu được trong tương lai từ các hoạt động của DN mang lại. Các khoản lợi ích mà nhà đầu tư thu được từ DN được thể hiện qua dòng tiền mà DN đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Đặt trong bối cảnh có sự biến động của thời gian, rủi ro và sự tăng trưởng trong tương lai…, ngoài mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, nhà quản trị DN còn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hóa giá trị của DN. Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố tác động đến giá trị của DN bao gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài DN. Trong đó, CCNV là một yếu tố rất quan trọng tác động đến giá trị của DN. Nhận định này được đề cập đến trong nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm khác nhau nhưng mối quan hệ giữa CCNV và giá trị của DN có kết quả không thống nhất. Các nghiên cứu của Dalbor, Lee & Upneja (2007), Cheng & Tzeng (2011), Sudivat et al.(2012), Rathinasamy et al. (2000), Altan & Arkan (2011), Ogbulu & Emeni (2012) cho thấy CCNV có tác động cùng

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Định giá doanh nghiệp: Yếu tố then chốt thành công
Số trang:
221 trang
Chuyên ngành:
Tài chính doanh nghiệp
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Định giá doanh nghiệp Yếu tố then chốt thành công

Doanh nghiệp được xem là tài sản. Nó có khả năng sinh lời, mang lại lợi ích cho nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư bỏ vốn, họ đưa ra quyết định tài chính. Cần cân nhắc kỹ giá trị doanh nghiệp. Trên góc độ tài chính, giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị hiện tại của các lợi ích tương lai. Các lợi ích này thể hiện qua dòng tiền doanh nghiệp. Yếu tố thời gian, rủi ro và tăng trưởng tương lai đều tác động. Quản trị doanh nghiệp đặt mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Đây là mục tiêu quan trọng bên cạnh tối đa hóa lợi nhuận.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng giá trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp hoạt động để tạo ra giá trị. Giá trị doanh nghiệp phản ánh khả năng sinh lời trong tương lai. Nó là thước đo hiệu quả của mọi quyết định đầu tư, tài chính. Nhà đầu tư dựa vào giá trị để đánh giá tiềm năng. Quyết định mua, bán, sáp nhập đều căn cứ vào đó. Việc định giá doanh nghiệp chính xác là rất cần thiết. Nó đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan.

1.2. Các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Chúng bao gồm các yếu tố nội tại và bên ngoài. Yếu tố nội tại như hiệu quả hoạt động, cấu trúc vốn, quản trị. Yếu tố bên ngoài như kinh tế vĩ mô, ngành nghề, thị trường. Cơ cấu nguồn vốn là một yếu tố nội tại quan trọng. Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và giá trị doanh nghiệp đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, các kết quả thường không thống nhất. Một số nghiên cứu cho thấy tác động cùng chiều. Một số khác chỉ ra tác động ngược chiều. Thậm chí có lý thuyết cho rằng không có mối quan hệ nào.

II. Tác động cơ cấu vốn đến định giá doanh nghiệp

Cơ cấu nguồn vốn là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay doanh nghiệp. Nó quyết định chi phí sử dụng vốn (WACC) của doanh nghiệp. WACC thấp giúp tăng giá trị doanh nghiệp. Cơ cấu vốn cũng ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính. Việc lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu là bài toán khó. Nó đòi hỏi cân bằng giữa lợi ích thuế từ nợ và chi phí rủi ro vỡ nợ. Các lý thuyết khác nhau đưa ra nhiều quan điểm. Từ giả định thị trường hoàn hảo đến các yếu tố thực tế như chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin.

2.1. Các quan điểm lý thuyết về cơ cấu vốn

Lý thuyết Modigliani & Miller (1958, 1963) cho rằng cơ cấu vốn không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường hoàn hảo. Tuy nhiên, khi có thuế, nợ vay tạo ra lá chắn thuế, làm tăng giá trị. Lý thuyết chi phí đại diện của Jensen & Meckling (1976) tập trung vào xung đột lợi ích. Lý thuyết trật tự phân hạng (Myers & Majluf, 1984) ưu tiên nguồn vốn nội bộ. Các lý thuyết này cung cấp nền tảng để hiểu về cấu trúc vốn.

2.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đa dạng

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khảo sát mối quan hệ này. Các công trình của Dalbor, Lee & Upneja (2007) hay Cheng & Tzeng (2011) chỉ ra tác động cùng chiều. Điều này có nghĩa, thay đổi cơ cấu vốn theo hướng nhất định sẽ làm tăng giá trị. Ngược lại, Aggarwal & Zhao (2007) hay Rayan (2008) lại tìm thấy tác động ngược chiều. Sự khác biệt này xuất phát từ mẫu nghiên cứu, ngành nghề và điều kiện thị trường. Điều này cho thấy tính phức tạp của mối quan hệ này.

2.3. Cấu trúc vốn và các chỉ số hiệu quả tài chính

Cấu trúc vốn tác động trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền doanh nghiệp. Mức độ đòn bẩy tài chính cao có thể khuếch đại lợi nhuận khi kinh doanh tốt. Nhưng nó cũng làm tăng rủi ro tài chính khi kinh doanh khó khăn. Quyết định về vốn chủ sở hữu và nợ vay ảnh hưởng đến các chỉ số hiệu quả tài chính như ROA, ROE. WACC cũng là một chỉ số quan trọng, phản ánh chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn.

III. Ngành nhựa bao bì Đặc điểm thách thức nguồn vốn

Ngành công nghiệp nhựa và bao bì (N&BB) là ngành phát triển mạnh mẽ. Nó đóng góp quan trọng vào kinh tế Việt Nam. Giai đoạn 2012 – 2018, ngành này tăng trưởng cao, bình quân 16%-18% hàng năm. Có gần 4000 doanh nghiệp hoạt động, chủ yếu là tư nhân (99,8%). Sản phẩm N&BB được sử dụng rộng rãi. Từ xây dựng, điện tử, ô tô đến tiêu dùng hàng ngày. Tuy nhiên, ngành này đối mặt với nhiều khó khăn. Các khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu vốn và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

3.1. Tiềm năng và vai trò của ngành nhựa bao bì

Ngành nhựa bao bì là ngành năng động của nền kinh tế. Nó tạo ra nhiều công ăn việc làm. Sản phẩm của ngành là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành khác. Nhu cầu tiêu dùng hàng ngày về sản phẩm nhựa cũng rất lớn. Sự tăng trưởng ổn định của ngành này chứng tỏ tiềm năng phát triển. Nó là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng.

3.2. Hạn chế khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu

Doanh nghiệp ngành N&BB còn quy mô nhỏ. Họ phụ thuộc vào các ngành sản phẩm cuối như thực phẩm, xây dựng. Nguyên liệu sản xuất phần lớn phải nhập khẩu. Điều này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí sản xuất. Nguyên liệu nhựa nguyên sinh kém đa dạng. Nguồn cung phân bố không đồng đều. Điều này buộc doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn vay nhiều hơn. Nó giúp giải quyết khó khăn tài chính. Biến động thị trường tiêu thụ và thị trường đầu vào làm tăng rủi ro tài chính.

3.3. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của ngành N BB

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành N&BB có xu hướng giảm. Trong giai đoạn 2012 – 2018, các chỉ số như BEP, ROA, ROE đều biến động giảm xuống. Sự gia tăng quy mô của doanh nghiệp chủ yếu do tăng nợ vay doanh nghiệp và vốn chủ sở hữu. Nó chưa thực sự xuất phát từ sự gia tăng hiệu quả kinh doanh. Đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến hoạt động. Giá trị doanh nghiệp có xu hướng giảm. Điều này đặt ra vấn đề cấp bách về quản trị cấu trúc vốn.

IV. Phân tích cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính

Thực trạng cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp nhựa bao bì niêm yết đang là một vấn đề. Các doanh nghiệp này thường phụ thuộc nhiều vào nợ vay doanh nghiệp. Điều này nhằm giải quyết khó khăn tài chính trước biến động thị trường. Tuy nhiên, họ chưa có định hướng rõ ràng trong điều chỉnh cấu trúc vốn. Việc này làm tăng rủi ro tài chính. Nó cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền doanh nghiệp. Việc phân tích sâu hơn cấu trúc vốn là cần thiết. Nó giúp xác định mức độ tác động đến giá trị doanh nghiệp.

4.1. Mối liên hệ giữa nợ vay và hiệu quả tài chính

Tỷ lệ nợ vay cao có thể tạo đòn bẩy tài chính. Nó giúp khuếch đại lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, nó cũng làm tăng chi phí sử dụng vốn và rủi ro tài chính. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, gánh nặng nợ có thể làm giảm lợi nhuận. Nó gây áp lực lên dòng tiền doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng xấu đến các chỉ số hiệu quả tài chính. Việc quản lý nợ vay cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

4.2. Ảnh hưởng đến các chỉ số định giá doanh nghiệp

Cơ cấu nguồn vốn tối ưu giúp giảm WACC. Điều này làm tăng giá trị doanh nghiệp. Ngược lại, cấu trúc vốn không hiệu quả sẽ làm giảm giá trị. Việc phân tích cấu trúc vốn giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về mối quan hệ này. Nó giúp đưa ra quyết định quản trị phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Điều này cần xem xét cả vốn chủ sở hữu và nợ vay.

V. Tối ưu cấu trúc vốn Nâng cao giá trị doanh nghiệp

Việc nghiên cứu tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì là thiết yếu. Nó giúp trả lời các câu hỏi quan trọng. Cơ cấu nguồn vốn hiện tại của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành như thế nào? Nó có tác động đến giá trị doanh nghiệp không? Nếu có, tác động này là cùng chiều hay ngược chiều? Những câu trả lời này cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn. Nó giúp nhà quản trị đưa ra quyết định tối ưu về cấu trúc vốn. Mục đích là nâng cao hiệu quả tài chính và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

5.1. Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm đề tài

Đề tài tập trung giải quyết ba câu hỏi chính. Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp ngành nhựa bao bì niêm yết hiện nay như thế nào? Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn này có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không? Thứ ba, nếu có tác động, tác động đó là cùng chiều hay ngược chiều với giá trị doanh nghiệp? Các câu hỏi này là nền tảng cho việc phân tích và đưa ra khuyến nghị.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của nghiên cứu

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn. Nó cung cấp hàm ý chính sách cụ thể. Giúp nhà quản trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn. Mục tiêu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Nó cũng góp phần bổ sung vào lý luận về cấu trúc vốn. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho ngành cụ thể. Các kết quả có thể làm cơ sở cho các quyết định đầu tư và chính sách tài chính. Việc tối ưu cấu trúc vốn sẽ cải thiện hiệu quả tài chính, giảm rủi ro tài chính và tăng lợi nhuận doanh nghiệp.

Mục lục chi tiết luận án

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Thảo luận về các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị DN
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngành nhựa và bao bì niêm yết việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (221 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, DN được coi như một tài sản, một loại hàng hóa có khả năng sinh lời và đem lại lợi ích cho nhà đầu tư. Do đó, khi nhà đầu tư thực hiện bỏ vốn đầu tư vào DN, hoặc khi đưa ra các quyết định đầu tư, quyết định tài chính phù hợp cần phải cân nhắc đến giá trị của DN. Trên góc độ tài chính, giá trị của DN được hiểu là tổng giá trị hiện tại của các khoản lợi ích mà nhà đầu tư thu được trong tương lai từ các hoạt động của DN mang lại.

Các khoản lợi ích mà nhà đầu tư thu được từ DN được thể hiện qua dòng tiền mà DN đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Đặt trong bối cảnh có sự biến động của thời gian, rủi ro và sự tăng trưởng trong tương lai…, ngoài mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, nhà quản trị DN còn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hóa giá trị của DN. Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố tác động đến giá trị của DN bao gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài DN. Trong đó, CCNV là một yếu tố rất quan trọng tác động đến giá trị của DN.

Nhận định này được đề cập đến trong nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm khác nhau nhưng mối quan hệ giữa CCNV và giá trị của DN có kết quả không thống nhất. Các nghiên cứu của Dalbor, Lee & Upneja (2007), Cheng & Tzeng (2011), Sudivat et al.(2012), Rathinasamy et al. (2000), Altan & Arkan (2011), Ogbulu & Emeni (2012) cho thấy CCNV có tác động cùng chiều đến giá trị DN. Các nghiên cứu của Aggarwal & Zhao (2007), Rayan (2008), Aggarwal et al.

(2011) lại cho thấy CCNV có tác động ngược chiều đến giá trị DN. Nhưng có lý thuyết cho rằng CCNV không có mối quan hệ với giá trị của DN như Modigliani & Miller (1958, 1963); Jensen & Meckling (1976); Miller (1977); Myer (1977,1984); Myer & Majluf (1984); Graham, (2000); Baker & Wurgler (2002); Welch (2004). Ngành công nghiệp N&BB là ngành công nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong giai đoạn 2012 – 2018, ngành N&BB là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hàng năm đạt từ 16% - 18%.

Với gần 4000 DN, phần lớn là DN tư nhân (chiến 99,8% tổng số DN tham gia hoạt động trong ngành công nghiệp N&BB Việt Nam), ngành N&BB được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Sản phẩm N&BB do các DN Việt Nam sản xuất đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực khác nhau như 2 ngành xây dựng, ngành điện tử, ngành ô tô. Trong tiêu dùng, sản phẩm từ nhựa được sử dụng làm bao bì đóng gói, các vận dụng bằng nhựa trong sinh hoạt như văn phòng phẩm, đồ chơi. Các sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong tiêu dùng hàng ngày cũng như làm nguyên liệu cho các ngành khác.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các DN ngành N&BB gặp phải những khó khăn và hạn chế nhất định như quy mô các DN trong ngành còn nhỏ, phụ thuộc vào các ngành sản phẩm cuối như thực phẩm, xây dựng, thiết bị điện tử, ô tô; Nguyên liệu phục vụ sản xuất phần lớn được nhập khẩu, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí sản xuất và nguyên liệu nhựa nguyên sinh kém đa dạng, đồng thời phân bố không đồng đều. Điều này buộc DN phải sử dụng nguồn vốn vay nhiều hơn nhằm giải quyết tình trạng khó khăn về tài chính do những biến động của thị trường tiêu thụ cũng như thị trường đầu vào. Nguồn vốn của DN phụ thuộc lớn vào các chủ thể bên ngoài. Các DN ngành N&BB chưa có định hướng điều chỉnh CCNV.

Bên cạnh đó, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của các DN ngành N&BB như BEP, ROA, ROE đều có xu hướng biến động giảm xuống trong giai đoạn 2012 – 2018. Sự gia tăng quy mô của các DN ngành N&BB do sự gia tăng quy mô nợ vay và vốn chủ sở hữu, chưa thực sự xuất phát từ sự gia tăng hiệu quả kinh doanh đem lại; Đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. Giá trị DN có xu hướng biến động giảm xuống. Vấn đề đặt ra, CCNV của DN ngành N&BB niêm yết hiện nay như thế nào? Có tác động đến giá trị DN không? Nếu có thì tác động này là cùng chiều hay ngược chiều với giá trị DN.

Đây là căn cứ rất quan trọng đề xuất hàm ý chính sách giúp nhà quản trị của các DN ngành N&BB điều chỉnh CCNV nhằm tối đa hóa giá trị DN. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngành Nhựa và Bao bì niêm yết tại Việt Nam” là vấn đề thiết thực có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xem xét tác động của CCNV đến giá trị DN được công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín. Tuy nhiên, với các mẫu nghiên cứu khác nhau, trong các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và địa điểm hoạt động của DN đa dạng đã cho ra các kết quả khác nhau.

Theo đó, tác động của CCNV đến giá trị DN được thể hiện qua 3 hướng nhận định cụ thể sau: 3 Thứ nhất, Cơ cấu nguồn vốn không có tác động đến giá trị DN. Quan điểm này xuất phát từ lý thuyết về CCNV của Modigliani và Miller (1958) [34], M&M chỉ ra rằng, trong điều kiện không có thuế thu nhập DN, giá trị DN có vay nợ bằng giá trị của DN không có vay nợ. Tức là, CCNV không có ảnh hưởng gì đến giá trị DN. Vì vậy, không có CCNV nào là tối ưu và DN cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi CCNV.

Đồng thuận với quan điểm này, một số nghiên cứu thực nghiệm trong các ngành tại các quốc gia khác nhau được thực hiện, tiêu biểu là nghiên cứu của Fumani & Moghadam (2015) [24] cho 55 DN niêm yết trong giai đoạn 2010 – 2014 trên thị trường chứng khoán Tehran. Nghiên cứu xem xét tác động của CCNV, với biến đại diện là hệ số nợ phải trả (LEV) đến giá trị DN với biến được lựa chọn lần lượt là giá trị thị trường của cổ phiếu (MV), tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) và thu nhập trên 1 cổ phần thường (EPS). Các biến kiểm soát gồm quy mô DN (Size) và tốc độ tăng trưởng tài sản DN (Growth). Kết quả ước lượng cho thấy, không có bằng chứng thống kê cho thấy tác động ngược chiều của LEV đến MV và EPS.

Nghiên cứu của Asif & Aziz (2016) [8] nghiên cứu mẫu 20 DN xi măng tại Pakistan niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi trong giai đoạn 2006 – 2015, kết quả ước lượng chỉ ra rằng không có bằng chứng thống kê cho thấy CCNV (được đại diện bằng chỉ tiêu hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (DE)) có tác động cùng chiều đến giá trị DN (được đại diện bằng chỉ tiêu EVA). Thứ hai, Cơ cấu nguồn vốn có tác động tuyến tính đến giá trị DN. Nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958) về CCNV trong điều kiện có thuế thu nhập DN đã chỉ ra rằng: Giá trị của DN có vay nợ cao hơn giá trị của DN không có vay nợ nhờ khoản tiết kiệm thuế do lãi vay. DN sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị DN càng gia tăng và gia tăng tối đa khi DN được tài trợ bằng 100% nợ.

Tức là, CCNV có tác động cùng chiều đến giá trị DN. Theo quan điểm này, một số nghiên cứu thực nghiệm đồng thuận với kết luận trên như nghiên cứu của Ogbulu & Emeni (2012)[39] xem xét tác động của CCNV đến giá trị DN của 124 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria (NSE) trong năm 2007. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng có mối quan hệ tuyến tính giữa vốn cổ phần và nợ dài hạn đến giá trị DN. Nợ dài hạn có tác động cùng chiều đến giá trị DN và là nhân tố chính ảnh hưởng đến giá trị DN, vốn cổ phần có tác động ngược chiều đến giá trị DN.

Nghiên cứu của Võ Minh Long (2017) [82] nghiên cứu tác động của CCNV đến giá trị DN của 123 công ty niêm yết 4 trên HSX, Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015. Kết quả cho thấy CCNV được đo bằng tổng nợ trên tổng tài sản (DA), nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (SDA) và nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDA) có tác động tích cực lên giá trị DN với biến đại diện là chỉ số Tobin’s Q. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy bằng chứng tác động cùng chiều của hệ số nợ đến giá trị DN như nghiên cứu của Trần Hùng Sơn (2008), Altan & Arkan (2011), Drăniceanu & Ciobanu (2013), Gill& Obradovich (2012), Đỗ Văn Thắng & Trịnh Quang Thiều (2010), Lê Thị Thanh Tâm (2020)… Bên cạnh đó, một số nghiên cứu thực nghiệm khác lại cho thấy CCNV có tác động ngược chiều đến giá trị DN. Nghiên cứu của Myers & Majluf (1984) cho rằng: Không phải giá trị DN gia tăng mãi khi DN gia tăng hệ số nợ.

Khi giá trị hiện tại của các khoản chi phí kiệt quệ tài chính lớn hơn giá trị hiện tại của các lợi ích do lá chắn thuế đem lại thì việc gia tăng sử dụng nợ vay sẽ có tác động làm giảm giá trị DN. Đồng thuận với nhận định của Myers & Majluf (1984), nghiên cứu của Kausar, Nazir & Butt (2014) [31] kiểm tra tác động của việc lựa chọn CCNV đến giá trị DN của 197 DN niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 2004 – 2011, với các biến phản ánh CCNV gồm có hệ số nợ ngắn hạn, hệ số nợ dài hạn và hệ số nợ phải trả. Biến phản ánh giá trị DN gồm 2 biến là hệ số P/E và Tobin’s Q. Kết quả ước lượng cho thấy rằng, có bằng chứng thống kê cho thấy CCNV có tác động ngược chiều đến giá trị DN (P/E).

CCNV được xác định bằng hệ số nợ ngắn hạn có tác động ngược chiều đến giá trị DN (Tobin’s Q. Nghiên cứu của Kodongo, Mokoaleli- Mokoteli & Maina (2014) [32] nghiên cứu mối quan hệ giữa CCNV, lợi nhuận và giá trị DN của các DN niêm yết tại Kenya trong giai đoạn 2002 – 2011.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/quan-tri-kinh-doanh/quan-tri-tai-chinh-doanh-nghiep/luan-an-tac-dong-cua-co-cau-nguon-von-den-gia-tri-doanh-nghiep-cua-cac-doanh

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" nghiên cứu về vấn đề gì?

Phân tích tác động cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì. Đề xuất giải pháp tối ưu nâng cao hiệu quả tài chính.

Luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" thuộc chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp. Danh mục: Quản Trị Tài Chính Doanh Nghiệp.

Luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" có bao nhiêu trang?

Luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" có 221 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Cơ cấu nguồn vốn tác động giá trị doanh nghiệp ngành nhựa bao bì" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter