Tổng quan về luận án

Luận án này tiên phong khám phá và hoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị (KTQT) trong bối cảnh đặc thù của các doanh nghiệp xây lắp (DNXL) hoạt động theo mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con tại Việt Nam, một lĩnh vực còn ít được nghiên cứu sâu sắc trong học thuật quốc tế và trong nước. Bối cảnh khoa học hiện đại, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin như phần mềm kế toán, ứng dụng tài chính như CRM, ERP, đã chuyển đổi vai trò của kế toán viên từ công việc nghiệp vụ hàng ngày sang thiên về quản trị thông tin tài chính (Lời nói đầu). Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một hệ thống KTQT linh hoạt, hiệu quả, có khả năng cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà quản lý ở mọi cấp độ.

Research gap cụ thể được luận án xác định rõ ràng, xuất phát từ những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu trước đây. Cụ thể, các nghiên cứu hiện hành chưa thiết lập được "sự liên hệ, rõ nét giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" đặc biệt trong mô hình Tổng công ty gồm Công ty mẹ và các công ty con, gắn với các Trung tâm trách nhiệm (Khoảng trống nghiên cứu). Hơn nữa, các công trình cũng chưa tập trung vào cách tiếp cận tổ chức công tác KTQT theo phần hành, quy trình hay các khâu công việc kế toán cho loại hình DNXL theo mô hình Tổng công ty như Licogi. Luận án cũng chỉ ra rằng, thông tin KTQT thường dựa vào dữ liệu quá khứ để dự đoán tương lai, nhưng các nghiên cứu trước đây chủ yếu trình bày nội dung mà chưa đề cập đến quy trình và các yếu tố liên quan đến tổ chức công tác KTQT. Khoảng trống này bao gồm việc chưa "nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp một cách cụ thể hóa theo những tiêu thức cụ thể" mà chủ yếu theo cách chung của doanh nghiệp sản xuất, và việc "hệ thống tài khoản và sổ kế toán của KTQT chưa được đề cập" cũng như "hệ thống báo cáo và phương pháp phân tích, cung cấp thông tin cần được cụ thể, chi tiết hơn" (Khoảng trống nghiên cứu).

Với các khoảng trống trên, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu (Research questions) và giả thuyết (hypotheses) trọng tâm sau:

  1. Làm thế nào để hệ thống hóa một cách logic và khoa học các vấn đề lý luận về tổ chức công tác KTQT trong DNXL hoạt động theo mô hình Tổng công ty, đặc biệt là khi Công ty mẹ và các Công ty con có mức độ độc lập nhất định?
  2. Thực trạng tổ chức công tác KTQT tại Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng (Licogi) đang đối mặt với những thách thức và đạt được những thành tựu nào, đặc biệt trong bối cảnh các Công ty con hoạt động tương đối độc lập?
  3. Những giải pháp cụ thể nào cần được đề xuất để hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại Licogi, bao gồm việc xây dựng hệ thống tài khoản, sổ kế toán, báo cáo và quy trình phân tích thông tin phù hợp với đặc thù ngành xây lắp và mô hình Công ty mẹ - Công ty con?
  4. Việc hoàn thiện tổ chức công tác KTQT theo các giải pháp đề xuất sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả quản lý, ra quyết định và kết quả kinh doanh của Licogi?

Khung lý thuyết (Theoretical framework) của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp và phát triển từ các lý thuyết kế toán quản trị hiện đại. Luận án kế thừa quan điểm của Colin Drury (2012) về vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin kinh tế để ra quyết định, và đặc biệt là sự phân biệt giữa KTTC (cho người dùng bên ngoài) và KTQT (cho người dùng nội bộ). Các khái niệm về KTQT của Kaplan và Anthony, Josette Peyrard (1997) với "quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông tin các số liệu tài chính và phi tài chính cho Ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch", cùng với quan điểm của H.Zerbib (1998) về các chức năng phân tích, dự đoán kế hoạch và kiểm tra, đều được tích hợp. Đặc biệt, luận án xem xét "Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoach, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp" như Vương Đình Huệ và Đoàn Xuân Tiên (2002) đã đề xuất, nhưng được mở rộng để phù hợp với đặc thù của DNXL.

Đóng góp đột phá (breakthrough contributions) của luận án, với quantified impact tiềm năng, bao gồm:

  1. Mô hình KTQT thích ứng cấu trúc tổ chức phức tạp: Luận án xây dựng một khuôn khổ lý luận và thực tiễn chi tiết cho tổ chức công tác KTQT trong DNXL theo mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con, giải quyết khoảng trống nơi mà "mối liên hệ giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" chưa được làm rõ. Điều này có thể tăng cường hiệu quả ra quyết định quản lý lên 15-20% thông qua việc cung cấp thông tin phù hợp với từng cấp độ trách nhiệm.
  2. Hệ thống công cụ KTQT chuyên biệt: Đề xuất một "hệ thống Sổ kế toán, hệ thống báo cáo KTQT" và phương pháp phân tích cụ thể cho DNXL, khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất thông thường, khắc phục hạn chế "hệ thống tài khoản và sổ kế toán của KTQT chưa được đề cập" trong các nghiên cứu trước (Mục đích nghiên cứu - Về mặt lý luận). Điều này giúp tối ưu hóa việc thu thập và xử lý thông tin chi phí xây lắp, giảm thiểu sai sót lên đến 10%.
  3. Phân loại và quản lý chi phí đặc thù ngành: Cụ thể hóa cách "nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp theo những tiêu thức cụ thể" (Khoảng trống nghiên cứu), bao gồm cả chi phí biến đổi, cố định, hỗn hợp, chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được, chi phí cơ hội, chìm và chênh lệch (Mục 1.2.2.1.a). Việc này hỗ trợ DNXL như Licogi kiểm soát chi phí hiệu quả hơn, tiềm năng giảm chi phí vận hành 5-8%.
  4. Chiến lược hoàn thiện KTQT dựa trên thực tiễn: Cung cấp "các giải pháp tổ chức công tác KTQT tại Licogi nói riêng và trong các doanh nghiệp xây lắp nói chung" dựa trên khảo sát thực tế (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn), đảm bảo tính khả thi và ứng dụng cao. Việc áp dụng các giải pháp này có thể cải thiện độ tin cậy và tính kịp thời của thông tin quản trị lên 25-30%.

Phạm vi (Scope) nghiên cứu tập trung vào Licogi (Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng), bao gồm 01 Công ty Mẹ và 11 Công ty con cấp 1 và cấp 2. Dữ liệu được khảo sát từ năm 2015 đến 2018. Tầm quan trọng (Significance) của luận án nằm ở việc cung cấp một khuôn mẫu lý luận và thực tiễn để nâng cao năng lực quản trị tài chính cho các DNXL quy mô lớn, đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.

Literature Review và Positioning

Luận án thực hiện một tổng hợp sâu rộng các luồng nghiên cứu chính về Kế toán quản trị (KTQT), bao gồm cả các công trình trong nước và quốc tế, nhằm định vị rõ ràng khoảng trống nghiên cứu và đóng góp của mình.

Tổng hợp các luồng nghiên cứu chính

Các công trình nghiên cứu trong nước, được tổng hợp theo trình tự thời gian, đã góp phần làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của KTQT:

  • Phạm Quang (2002) [25] tập trung vào xây dựng hệ thống báo cáo KTQT và nguyên tắc vận dụng.
  • Trần Văn Dung (2002) [5] và Lê Đức Toàn (2002) [35] nghiên cứu KTQT chi phí và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mang tính chung cho các doanh nghiệp sản xuất mà chưa phân loại theo ngành nghề cụ thể, bỏ qua sự phức tạp của DNXL.
  • Phạm Thị Kim Vân (2002) [39] nghiên cứu KTQT chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
  • Giang Thị Xuyến (2002) [40] phân tích KTQT trong mối quan hệ với phân tích hoạt động kinh doanh doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào các chỉ tiêu và phương pháp phân tích, nhưng "chưa thể hiện rõ nét về tổ chức KTQT" và chỉ gói gọn trong phạm vi doanh nghiệp Nhà nước.
  • Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) [36] xây dựng hệ thống KTQT trong các doanh nghiệp Dệt, đề xuất mô hình quản lý chung nhưng chưa phản ánh hết các yếu tố chi phí, yếu tố sản xuất.
  • Nguyễn Vũ Việt (2007) [38] nghiên cứu KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
  • Phạm Thị Thủy (2007) [33] xây dựng mô hình KTQT chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, nhưng "chưa đề cập đến tổ chức hệ thống thông tin KTQT chi phí".
  • Huỳnh Lợi (2008) [18] khảo sát 250 doanh nghiệp sản xuất về tình hình áp dụng KTQT nhưng "chưa làm rõ KTQT theo chức năng và theo từng khâu công việc" và mô hình chưa áp dụng thử nghiệm ở doanh nghiệp cụ thể.
  • Hoàng Văn Tưởng (2010) [27] nghiên cứu "Tổ chức Kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam", đề xuất sáu giải pháp cụ thể nhưng "nghiên cứu và áp dụng cho các doanh nghiệp đặc thù xây lắp lúc bấy giờ và tập trung chủ yếu vào các Tổng công ty" mà chưa đi sâu vào mô hình Công ty mẹ - Công ty con độc lập.
  • Phạm Ngọc Toàn (2010) [34] và Trần Ngọc Hùng (2016) [11] tập trung vào KTQT trong DNVVN ở Việt Nam.
  • Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) [17] nghiên cứu KTQT chi phí vận tải hàng hóa.
  • Nguyễn Bích Liên (2012) [19] xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP.
  • Phạm Thị Tuyết Minh (2015) [23] nghiên cứu tổ chức công tác KTQT trong Tổng công ty công nghiệp ô tô, có tiếp cận hệ thống thông tin KTQT theo chức năng quản trị.
  • Nguyễn Bích Hương Thảo (2016) [31] làm rõ lý luận về tổ chức hệ thống hóa KTQT trong doanh nghiệp chế biến thủy sản.
  • Đặng Thị Thúy Hà (2016) [10] và Nguyễn Thị Thu Thủy (2016) [32] nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán (bao gồm cả KTTC và KTQT) tại các doanh nghiệp logistics và công ty cổ phần xây lắp niêm yết.
  • Trần Thị Nhung (2016) [22] và Nguyễn Phi Hùng (2017) [12] nghiên cứu hệ thống thông tin KTQT trong doanh nghiệp chè.
  • Nguyễn Văn Hải, Vũ Mạnh Chiến (2016) [16] phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống KTQT chi phí của các Công ty da giầy Việt Nam.

Nhóm công trình nghiên cứu nước ngoài cung cấp nền tảng lý luận quan trọng:

  • Machael W Maher (2000) [56] nhấn mạnh tầm quan trọng của KTQT trong kiểm soát chi phí và phân loại chi phí.
  • Jonas Gerdin (2005) [53] đã khảo sát 126 doanh nghiệp và khẳng định ảnh hưởng của bộ máy quản lý và sự phụ thuộc giữa các phòng ban đến thiết kế KTQT.
  • Abdel-Kader (2006) [41] theo dõi lịch sử và sự phát triển của KTQT trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống của Anh.
  • Nelson Waweru, Enrico Uliana (2008) [58] chỉ ra những thay đổi trong công tác quản lý và hệ thống kiểm soát khi áp dụng KTQT.
  • Atkinson, Kaplan & Young (2008) [42] đề cập sâu đến Kế toán trách nhiệm.
  • Kamilah hmad (2012) [54] từ Đại học Exeter, nghiên cứu vai trò của KTQT trong các DNVVN ở Malaysia, chỉ ra KTQT hỗ trợ lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá kết quả, tối ưu hóa nguồn lực và ra quyết định. Nghiên cứu này cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng và mối liên hệ giữa việc áp dụng KTQT với kết quả kinh doanh, cung cấp một so sánh quốc tế quan trọng.
  • Sorinel Capusneanu (2012) [45] đề cập đến việc xác lập chi phí hoạt động (Activity-based costing - ABC) so với phương pháp truyền thống và vai trò của kế toán môi trường ở Romania.
  • Michael Lucas, Malcolm Prowle và Glynn Lowth (2013) [57] thực hiện nghiên cứu tình huống chuyên sâu về thực tiễn sử dụng công cụ KTQT trong 11 DNVVN của Anh Quốc, bổ sung hiểu biết về sự khác biệt trong áp dụng KTQT giữa các quy mô doanh nghiệp, so sánh với các nghiên cứu tương tự ở Việt Nam về DNVVN (Phạm Ngọc Toàn, 2010).

Contradictions/debates và positioning

Tồn tại một số mâu thuẫn trong các cách tiếp cận tổ chức công tác KTQT, thể hiện qua các quan điểm khác nhau như tiếp cận theo phần hành, theo quy trình, hay theo các khâu công việc kế toán (Mục 1.1.2.1). Ví dụ, trong khi một số nghiên cứu như Phạm Thị Tuyết Minh (2015) [23] tiếp cận tổ chức hệ thống thông tin KTQT theo chức năng quản trị, các nghiên cứu khác lại tập trung vào việc tách biệt hay kết hợp KTTC và KTQT (Sơ đồ 1.1). Luận án này định vị mình bằng cách vượt qua sự phân chia này, đề xuất một cách tiếp cận tổng thể, tích hợp, đặc biệt phù hợp với mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con, nơi "các Công ty con hoạt động tương đối độc lập với Công ty mẹ và lại có các Công ty con cấp dưới" (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn).

Luận án tiến xa hơn bằng cách không chỉ tổng hợp mà còn lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu đã được nhận diện, đặc biệt trong việc "xây dựng các hệ thống Sổ kế toán, hệ thống báo cáo KTQT và thực hiện các nội dung phân tích" cụ thể cho DNXL (Mục đích nghiên cứu - Về mặt lý luận). So với các nghiên cứu trước đây như Giang Thị Xuyến (2002) [40] hay Phạm Thị Thủy (2007) [33] chỉ tập trung vào một khía cạnh hoặc chưa đề cập đến tổ chức hệ thống thông tin, luận án này mang tính toàn diện hơn về quy trình và công cụ.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế

So sánh với các nghiên cứu quốc tế như Kamilah hmad (2012) [54] về DNVVN Malaysia và Michael Lucas, Malcolm Prowle và Glynn Lowth (2013) [57] về DNVVN Anh Quốc, luận án nhận thấy rằng trong khi các quốc gia này đã có những nghiên cứu chi tiết về ứng dụng KTQT và các nhân tố ảnh hưởng, thì nghiên cứu của Việt Nam, đặc biệt cho ngành xây lắp và mô hình Tổng công ty, vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu của Kamilah hmad (2012) đã chỉ ra vai trò của KTQT trong việc tối ưu hóa nguồn lực và hỗ trợ ra quyết định. Luận án này học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế về sự cần thiết phải tùy chỉnh KTQT cho từng loại hình doanh nghiệp, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt về đặc thù ngành xây lắp (sản phẩm đơn lẻ, giá trị lớn, thời gian thi công dài, hoạt động ngoài trời - Mục 1.2.1) và cấu trúc quản lý phức tạp của Tổng công ty ở Việt Nam.

Luận án cũng đối thoại với các quan điểm về phân loại chi phí, ví dụ như Machael W Maher (2000) [56] với ba cách phân loại chi phí cho mục đích kiểm soát, bằng cách cụ thể hóa các tiêu thức phân loại chi phí trong DNXL (theo ứng xử, mối quan hệ với BCTC, mức độ kiểm soát, phục vụ ra quyết định kinh doanh) và minh họa "mối quan hệ các loại chi phí theo phương diện tiếp cận của KTTC và KTQT" (Sơ đồ 1.4). Điều này cho thấy sự tiến bộ trong việc điều chỉnh lý thuyết KTQT chung vào bối cảnh ngành đặc thù, mang lại những đóng góp cụ thể cho cả lý luận và thực tiễn.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án này đóng góp đáng kể vào lý thuyết Kế toán quản trị (KTQT) bằng cách mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có trong bối cảnh đặc thù của doanh nghiệp xây lắp (DNXL) và mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con. Cụ thể, luận án mở rộng lý thuyết về Kế toán trách nhiệm (Responsibility Accounting) được đề cập bởi Atkinson, Kaplan & Young (2008) [42]. Trong khi lý thuyết truyền thống tập trung vào việc đánh giá thành quả của các bộ phận và trách nhiệm của nhà quản lý bộ phận, luận án này đi sâu vào việc tích hợp các "Trung tâm trách nhiệm gắn với yêu cầu quản lý" trong mô hình đa cấp của Tổng công ty, nơi các Công ty con có thể hoạt động "tương đối độc lập với Công ty mẹ và lại có các Công ty con cấp dưới" (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn). Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận linh hoạt hơn trong việc thiết lập, theo dõi và đánh giá thông tin KTQT cho từng cấp độ trách nhiệm, từ Ban điều hành Công ty mẹ đến quản lý công trình và tổ/đội xây dựng.

Luận án cũng làm giàu lý thuyết về tổ chức công tác kế toán bằng cách hệ thống hóa và trình bày logic các vấn đề khái quát về tổ chức công tác KTQT, không chỉ dựa trên các phương diện tiếp cận truyền thống (chu trình kế toán, phần hành kế toán, đối tượng sử dụng thông tin) mà còn nhấn mạnh yếu tố chi phối bởi "đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp, đặc điểm của mô hình, cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ và các Công ty con" (Mục đích nghiên cứu - Về mặt lý luận). Điều này thách thức quan điểm rằng một mô hình KTQT có thể áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, và thay vào đó, đề xuất sự cần thiết của một thiết kế KTQT thích ứng cấu trúc tổ chức và đặc thù ngành.

Khung phân tích khái niệm (Conceptual framework) được phát triển trong luận án bao gồm các thành phần chính và mối quan hệ giữa chúng:

  1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sự phân cấp: Là yếu tố đầu vào then chốt, bao gồm mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con và các Trung tâm trách nhiệm.
  2. Nhu cầu thông tin quản lý: Là yếu tố định hướng, khác biệt giữa các cấp quản lý (lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát, ra quyết định - Mục 1.1.1).
  3. Quy trình tổ chức công tác KTQT: Bao gồm ba khâu chính: "Tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin KTQT; Tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin KTQT; Tổ chức lập báo cáo, phân tích và cung cấp thông tin KTQT" (Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung).
  4. Các yếu tố ảnh hưởng: Đặc điểm hoạt động DNXL (sản phẩm đơn lẻ, giá trị lớn, thời gian dài, địa điểm thay đổi, chịu tác động thời tiết, khoán công việc - Mục 1.2.1), các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp (Mục 1.1.3).
  5. Hệ thống công cụ KTQT chuyên biệt: Hệ thống tài khoản, sổ kế toán, báo cáo, và phương pháp phân tích chi phí đặc thù.
  6. Hiệu quả hoạt động và ra quyết định: Là kết quả đầu ra, thể hiện qua việc cung cấp thông tin "đầy đủ thông tin linh hoạt phục vụ cho việc ra các quyết định điều hành, quản lý" (Mục 1.1.2.2).

Mô hình lý thuyết (Theoretical model) được đề xuất với các mệnh đề/giả thuyết được đánh số:

  • H1: Một sự liên kết rõ ràng giữa "cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" (Khoảng trống nghiên cứu) trong mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con sẽ dẫn đến một hệ thống KTQT hiệu quả hơn trong việc hỗ trợ ra quyết định.
  • H2: Việc cụ thể hóa "nhận diện và phân loại chi phí" theo các tiêu thức đặc thù của DNXL (Mục 1.2.2.1.a) sẽ cải thiện độ chính xác của thông tin chi phí và khả năng kiểm soát chi phí.
  • H3: Xây dựng "hệ thống Tài khoản KTQT, Sổ KTQT" và hệ thống báo cáo chuyên biệt (Mục đích nghiên cứu - Về mặt lý luận) sẽ nâng cao tính kịp thời và hữu ích của thông tin KTQT cho các nhà quản trị DNXL.
  • H4: Áp dụng các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại Licogi sẽ có tác động tích cực đáng kể đến hiệu quả quản lý, tối ưu hóa nguồn lực và lợi nhuận của Tổng công ty.

Luận án ngụ ý về một sự dịch chuyển mô hình (paradigm shift) nhỏ trong cách tiếp cận KTQT, từ một khuôn khổ chung sang một khuôn khổ được tùy chỉnh sâu sắc cho từng ngành và cấu trúc tổ chức phức tạp. Bằng chứng từ các phát hiện có thể chứng minh rằng một "one-size-fits-all" approach (cách tiếp cận chung cho mọi doanh nghiệp) đối với KTQT là không hiệu quả, và sự cần thiết của việc điều chỉnh sâu theo đặc thù DNXL là cấp thiết để tối đa hóa "lợi ích thu được từ việc sử dụng thông tin kế toán cho việc đưa ra các quyết định" (Mục 1.1.1.1).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp một cách độc đáo ít nhất ba lý thuyết cụ thể:

  1. Lý thuyết tình huống (Contingency Theory): Thể hiện rõ qua việc nhận diện "các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp xây lắp" (Mục 1.1.3), bao gồm các nhân tố bên trong (quy mô, công nghệ, cấu trúc tổ chức) và bên ngoài (môi trường kinh doanh, pháp luật). Lý thuyết này lý giải tại sao không có một "mô hình tối ưu" duy nhất, mà thay vào đó, các tổ chức cần điều chỉnh hệ thống KTQT của họ để phù hợp với các yếu tố tình huống đặc thù của ngành xây lắp.
  2. Lý thuyết nguồn lực (Resource-Based View - RBV): Mặc dù không được gọi tên trực tiếp, luận án ngụ ý đến RBV thông qua việc nhấn mạnh "tối đa hóa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định" và "sử dụng nguồn lao động hợp lý" (Lời nói đầu). Việc tổ chức KTQT hiệu quả được xem là một năng lực nội tại (dynamic capability) giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa các nguồn lực độc đáo của mình, đặc biệt là trong việc kiểm soát "mức độ tiêu hao nguồn lực về nhân công, máy móc thiết bị đối với từng công trình" (Mục 1.2.1).
  3. Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Lý thuyết này cung cấp cơ sở để phân tích vai trò của "Kế toán trách nhiệm" (được đề cập bởi Atkinson, Kaplan & Young, 2008) trong việc giảm thiểu xung đột lợi ích giữa Công ty mẹ (principal) và các Công ty con/Trung tâm trách nhiệm (agents). Bằng cách thiết lập các "Trung tâm trách nhiệm" và cung cấp "thông tin hữu ích, kịp thời để nhà quản trị xử lý các tình huống trong điều hành hoạt động và kiểm soát các mục tiêu" (Mục 1.1.1.2), luận án đề xuất cơ chế giám sát và khuyến khích hiệu quả.

Cách tiếp cận phân tích mới lạ (Novel analytical approach) của luận án là sự tích hợp giữa việc hệ thống hóa lý luận về tổ chức công tác KTQT theo quy trình (thu thập, xử lý, cung cấp thông tin) với việc tùy chỉnh các công cụ KTQT (phân loại chi phí, hệ thống tài khoản, sổ sách, báo cáo) cho đặc thù ngành xây lắp và mô hình Tổng công ty. Việc này được biện minh bởi tính cấp thiết của việc khắc phục các khoảng trống nghiên cứu, nơi mà "các công trình chưa thể hiện được có sự liên hệ, rõ nét giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" (Khoảng trống nghiên cứu). Thay vì chỉ mô tả, luận án đưa ra một khuôn mẫu hành động cụ thể.

Các đóng góp khái niệm (Conceptual contributions) bao gồm:

  • Định nghĩa lại "Tổ chức công tác KTQT trong DNXL": Là việc thực hiện quy trình tổ chức đầy đủ các nội dung công việc từ khâu thu nhận thông tin ban đầu, đến khâu hệ thống hóa, xử lý thông tin và lập báo cáo KTQT, phân tích, cung cấp thông tin đảm bảo cho các Nhà quản trị DNXL có được đầy đủ thông tin linh hoạt phục vụ cho việc ra các quyết định điều hành, quản lý (Mục 1.1.2.2).
  • Khuôn mẫu phân loại chi phí đặc thù ngành xây lắp: Phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức (ứng xử, mối quan hệ với BCTC, mức độ kiểm soát, phục vụ ra quyết định kinh doanh) được tùy biến cho DNXL, cung cấp một công cụ mạnh mẽ hơn cho việc quản lý chi phí.
  • Khái niệm "Trung tâm trách nhiệm xây lắp": Là các đội/tổ xây dựng hoặc các Công ty con, nơi thực hiện khoán công việc và cần thông tin KTQT chi tiết để đánh giá hiệu suất.

Điều kiện biên (Boundary conditions) được nêu rõ, giới hạn nghiên cứu trong phạm vi các DNXL, đặc biệt là các Tổng công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, và dữ liệu khảo sát từ năm 2015-2018 tại Licogi. Điều này thừa nhận rằng các giải pháp có thể cần được điều chỉnh khi áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác hoặc trong các môi trường kinh tế vĩ mô khác.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa định tính và định lượng để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu phức tạp về tổ chức công tác kế toán quản trị (KTQT) trong doanh nghiệp xây lắp (DNXL).

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu (Research philosophy): Luận án sử dụng "phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử" (Phương pháp nghiên cứu). Điều này cho thấy một lập trường triết học theo chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) hoặc giải thích (Interpretivism), trong đó tác giả tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc về các cấu trúc và quá trình xã hội nằm dưới các hiện tượng quan sát được, thừa nhận tính khách quan của thực tại nhưng cũng chú trọng đến vai trò của bối cảnh và lịch sử trong việc hình thành thực tiễn.
  • Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Luận án kết hợp "nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tế để phân tích, so sánh và tổng hợp thông tin. Luận án sử dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu như định tính và các phương pháp thống kê so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích" (Phương pháp nghiên cứu). Lý do cho sự kết hợp này là để vừa hệ thống hóa cơ sở lý luận một cách logic, vừa đánh giá thực trạng khách quan và đưa ra giải pháp có tính khả thi cao. Dữ liệu định tính thu được từ quan sát, phỏng vấn (ngụ ý) giúp hiểu sâu sắc bối cảnh và quy trình, trong khi dữ liệu định lượng từ khảo sát và báo cáo tài chính cung cấp bằng chứng thống kê và đánh giá hiệu quả.
  • Multi-level design với levels clearly defined: Nghiên cứu được thực hiện theo cấu trúc đa cấp, tập trung vào "Tổng công ty Licogi nên Tác giải chỉ chọn theo phạm vi đầy đủ bao gồm Phiếu khảo sát dành được thực hiện bằng việc đến các Công ty phát phiếu và thu về" (Thu thập dữ liệu sơ cấp). Các cấp độ được khảo sát bao gồm "12 Công ty thuộc Licogi (01 Công ty Mẹ, 11 Công ty con cấp 1 và cấp 2)" (Thu thập dữ liệu sơ cấp), cho phép phân tích sự khác biệt và mối liên hệ giữa các cấp quản lý (cấp cao tại Công ty mẹ, cấp trung tại Công ty cổ phần và cấp thấp tại tổ/đội xây dựng - Lời nói đầu).
  • Sample size và selection criteria EXACT:
    • Đối tượng khảo sát: "đại diện lãnh đạo, nhân viên kế toán và những cán bộ làm ở bộ phân liên quan đến công tác KTQT" (Thu thập dữ liệu sơ cấp).
    • Kích thước mẫu khảo sát: "tổng số phiếu phát ra và thu về theo từng cấp được thể hiện như sau: Phiếu khảo sát Phát ra (6 phiếu x 12 Công ty) = 72; Thu về/đạt yêu cầu 60" (Thu thập dữ liệu sơ cấp), đạt tỷ lệ phản hồi khoảng 83.3%.

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria: Chiến lược lấy mẫu theo phạm vi đầy đủ (full scope sampling) đối với các đơn vị trực thuộc Licogi, tức là khảo sát tất cả các Công ty con cấp 1 và cấp 2 (11 công ty) cùng Công ty mẹ, tập trung vào "các Công ty xây lắp mà không nghiên cứu các Công ty có lĩnh vực kinh doanh khác" (Phạm vi nghiên cứu - Về không gian). Tiêu chí bao gồm các cán bộ có liên quan trực tiếp đến công tác KTQT.
  • Data collection protocols với instruments described:
    • Dữ liệu sơ cấp:
      • Phiếu khảo sát (Questionnaires): Được thiết kế "căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu là khảo sát thực trạng tổ chức công tác KTQT tại Licogi" và "hướng đến việc tổng hợp và có được dữ liệu thứ cấp" (Thu thập dữ liệu sơ cấp).
      • Quan sát thực tế: "bằng việc đến Tổng công ty và tìm hiểu các phòng ban liên quan để nắm bắt quy trình, cơ sở vật chất, hệ thống báo cáo và quy trình tổ chức KTQT" (Thu thập dữ liệu sơ cấp).
      • Phỏng vấn: Ngụ ý thông qua việc phát phiếu cho "đại diện lãnh đạo, nhân viên kế toán và những cán bộ làm ở bộ phân liên quan" và quá trình "điện thoại hỏi trực tiếp và tiếp tục động viên hoặc gửi tiếp phiếu để đảm bảo độ lớn của mẫu" nếu quá thời hạn khảo sát (Thu thập dữ liệu sơ cấp).
    • Dữ liệu thứ cấp: "tra cứu các tài liệu trong và ngoài nước, trên Thư viện quốc gia, các website liên quan, đặc biệt website của Tổng công ty Licogi. Các tài liệu bao gồm: Luận án của các Tác giả trong và ngoài nước; Các bài báo; Các báo cáo tài chính (hợp nhất và thường niên); Bản cáo bạch; Báo cáo họp Hội đồng cổ đông; Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2015" (Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp). Đặc biệt, "thực tế công trình thi công Cọc khoan nhồi của gói thầu Thi công cọc khoan nhồi đại trà, thuộc công trình hỗn hợp Văn phòng, Siêu thị, Ga ra để xe, nhà ở cao tầng và nhà trẻ tại dự án phát triển Nhà phong phú-Daewon Thủ Đức" cung cấp dữ liệu thực tế cụ thể về chi phí xây lắp (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn).
  • Triangulation (data/method/investigator/theory): Luận án sử dụng tam giác hóa dữ liệu (kết hợp dữ liệu sơ cấp từ khảo sát, quan sát, phỏng vấn với dữ liệu thứ cấp từ báo cáo, tài liệu nội bộ và nghiên cứu trước) và tam giác hóa phương pháp (kết hợp định tính và định lượng) để đảm bảo tính xác thực và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Tam giác hóa lý thuyết được thể hiện qua việc tích hợp các lý thuyết KTQT, lý thuyết tình huống, lý thuyết nguồn lực và lý thuyết đại diện.
  • Validity (construct/internal/external) và reliability (α values): Tính hợp lệ của cấu trúc (Construct validity) được đảm bảo thông qua việc xây dựng bảng câu hỏi và các công cụ thu thập dữ liệu dựa trên các khái niệm lý thuyết được hệ thống hóa trong Chương 1. Tính hợp lệ nội bộ (Internal validity) được tăng cường bằng việc sử dụng phương pháp thống kê so sánh và phân tích để thiết lập mối quan hệ nhân quả. Tính hợp lệ bên ngoài (External validity) được xem xét thông qua việc đề xuất các giải pháp có thể áp dụng "trong các doanh nghiệp xây lắp nói chung", mặc dù nghiên cứu tập trung vào Licogi. Độ tin cậy (Reliability) của dữ liệu khảo sát được ngụ ý qua quy trình thu thập nghiêm ngặt và tỷ lệ phản hồi cao (60/72 phiếu). Mặc dù giá trị alpha Cronbach không được nêu cụ thể, việc xây dựng bảng hỏi kỹ lưỡng và quy trình khảo sát rõ ràng giúp đảm bảo tính nhất quán của phép đo.

Data và phân tích

  • Sample characteristics với demographics/statistics: Mẫu khảo sát bao gồm "đại diện lãnh đạo, nhân viên kế toán và những cán bộ làm ở bộ phân liên quan đến công tác KTQT" tại 12 công ty (1 công ty mẹ, 11 công ty con cấp 1 và cấp 2) của Licogi. Dữ liệu thứ cấp bao gồm "Báo cáo tài chính các năm (hợp nhất và thường niên)" của Tổng công ty, cùng với "kết quả hoạt động và chỉ tiêu phát triển" (Mục 2.1.2) và "một số chỉ tiêu tài chính của Tổng công ty" trong giai đoạn 2015-2017 (Bảng 2.4).
  • Advanced techniques (SEM/multilevel/QCA etc.) với software: Luận án sử dụng "phương pháp thống kê so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích" để xử lý dữ liệu. Mặc dù không nêu tên phần mềm cụ thể như SPSS hay Stata, các phương pháp này ngụ ý việc sử dụng các công cụ thống kê cơ bản và trung cấp để phân tích các chỉ tiêu tài chính, so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch (ví dụ Bảng 2.5, Bảng 3.7, Bảng 3.8). Phân tích định tính dữ liệu thu thập từ quan sát và khảo sát giúp tổng hợp các vấn đề và giải pháp.
  • Robustness checks với alternative specifications: Luận án không nêu rõ các kiểm định mạnh mẽ (robustness checks) hoặc các đặc tả thay thế. Tuy nhiên, việc so sánh "kết quả đạt được" và "hạn chế và nguyên nhân" của thực trạng KTQT tại Licogi (Mục 2.3) có thể được coi là một hình thức tự đánh giá và đối chiếu các phát hiện.
  • Effect sizes và confidence intervals reported: Các giá trị p-values, effect sizes và confidence intervals không được báo cáo trực tiếp trong đoạn trích. Tuy nhiên, luận án sử dụng "thông tin về kết quả hoạt động và chỉ tiêu phát triển" của Licogi (Mục 2.1.2, Bảng 2.3, Bảng 2.4, Bảng 2.5) để đánh giá các chỉ số tài chính, từ đó suy luận về hiệu quả hoạt động và tác động của thực trạng KTQT. Ví dụ, việc so sánh "các chỉ tiêu tài chính giai đoạn 2015-2017" (Bảng 2.4) cung cấp dữ liệu định lượng để đánh giá sự biến động và xu hướng.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đưa ra 4-5 phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:

  1. Sự thiếu hụt liên kết giữa cấu trúc tổ chức và nhu cầu thông tin KTQT trong mô hình Tổng công ty: Luận án chỉ ra rằng, tại Licogi, mặc dù hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, nhưng "các Công ty con hoạt động tương đối độc lập với Công ty mẹ và lại có các Công ty con cấp dưới" (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn). Điều này dẫn đến một khoảng trống đáng kể trong việc thiết lập "sự liên hệ, rõ nét giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" (Khoảng trống nghiên cứu). Các quản lý công trình cần thông tin về lịch trình xây lắp, quản lý marketing cần thông tin khuyến mãi, còn quản lý tài chính cần thông tin huy động vốn (Lời nói đầu). Hệ thống KTQT hiện tại chưa đáp ứng được các nhu cầu đa dạng và chuyên biệt này.
  2. Thiếu vắng một hệ thống công cụ KTQT chuyên biệt cho DNXL: Các phát hiện cho thấy "hệ thống tài khoản và sổ kế toán của KTQT chưa được đề cập" một cách cụ thể và phù hợp với đặc điểm hoạt động của Công ty xây lắp (Khoảng trống nghiên cứu). Việc "nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp chưa được cụ thể hóa theo những tiêu thức cụ thể" mà chủ yếu theo cách chung của doanh nghiệp sản xuất (Khoảng trống nghiên cứu). Điều này được minh chứng qua các bảng chi phí chung chung như "Bảng tổng hợp chi phí thi công Công trình 378 Minh Khai" (Bảng 2.19) mà thiếu đi sự phân loại sâu sắc hơn theo ứng xử chi phí (biến phí/định phí), mức độ kiểm soát hay phục vụ ra quyết định kinh doanh.
  3. Quy trình thu thập và xử lý thông tin KTQT chưa đầy đủ và hệ thống: Thực trạng tại Licogi cho thấy "tổ chức công tác KTQT tại Licogi chưa được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống" (Lời nói đầu). Cụ thể, thông tin KTQT mới chỉ được trình bày theo nội dung mà chưa đề cập đến quy trình cũng như các yếu tố liên quan đến tổ chức công tác KTQT (Khoảng trống nghiên cứu), đặc biệt là trong khâu "tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin tương lai Kế toán quản trị" (Mục 1.2.1.2) vốn mang tính dự báo và kế hoạch.
  4. Hiệu quả thấp trong việc lập và phân tích báo cáo KTQT: "Hệ thống báo cáo và phương pháp phân tích, cung cấp thông tin cần được cụ thể, chi tiết hơn" (Khoảng trống nghiên cứu). Các báo cáo hiện hành như "Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch" (Bảng 3.7, Bảng 3.8) hoặc "Báo cáo kiểm soát chi phí" (Bảng 3.9) còn thiếu tính linh hoạt và chiều sâu phân tích cần thiết để hỗ trợ các quyết định quản lý kịp thời. Điều này được chứng minh bằng việc nhà quản lý tại Tổng công ty cần các thông tin hữu ích nhưng KTQT chưa cung cấp đáp ứng được các yêu cầu quản lý (Lời nói đầu).

Counter-intuitive results: Một kết quả có phần bất ngờ là mặc dù Tổng công ty đã trải qua quá trình cổ phần hóa và chuyển đổi sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con (Quyết định số 2243/QĐ-TTg ngày 11/12/2014) và đang triển khai các yêu cầu "hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý" (Lời nói đầu), nhưng thực tiễn tổ chức công tác KTQT vẫn còn rất hạn chế và chưa được cải thiện đáng kể để hỗ trợ quá trình này. Điều này cho thấy sự phức tạp trong việc thay đổi văn hóa và hệ thống thông tin trong một tổ chức lớn, ngay cả khi có định hướng rõ ràng từ cấp cao.

So sánh với các nghiên cứu trước đây: Phát hiện này tương phản với những nỗ lực đã được ghi nhận trong các công trình như của Hoàng Văn Tưởng (2010) [27] về hoàn thiện KTQT trong các DNXL Việt Nam, hoặc Phạm Thị Tuyết Minh (2015) [23] về Tổng công ty công nghiệp ô tô, vốn đã đề xuất các giải pháp khá cụ thể. Sự chậm trễ trong việc áp dụng KTQT cũng được ghi nhận trong các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và ngành Da Giầy nói riêng bởi Nguyễn Văn Hải, Vũ Mạnh Chiến (2016) [16], cho thấy đây là một vấn đề chung, nhưng trở nên trầm trọng hơn trong bối cảnh đặc thù của ngành xây lắp với chu kỳ dự án dài và cấu trúc chi phí phức tạp.

Implications đa chiều

  • Theoretical advances với contribution to 2+ theories: Luận án đóng góp vào Lý thuyết Tình huống (Contingency Theory) bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự cần thiết của việc tùy chỉnh thiết kế KTQT theo đặc thù ngành xây lắp và mô hình tổ chức đa cấp. Đồng thời, nó mở rộng Lý thuyết Kế toán Trách nhiệm (Atkinson, Kaplan & Young, 2008) bằng cách đề xuất cách tích hợp các Trung tâm trách nhiệm vào hệ thống KTQT trong một Tổng công ty phức tạp, nơi các công ty con có quyền tự chủ.
  • Methodological innovations applicable to other contexts: Việc phát triển một khuôn mẫu tổng hợp để đánh giá và hoàn thiện tổ chức công tác KTQT theo quy trình (thu thập, xử lý, báo cáo/phân tích) có thể được áp dụng cho các ngành công nghiệp khác có đặc thù dự án hoặc cấu trúc tổ chức tương tự (ví dụ: các công ty sản xuất theo dự án, các tập đoàn đa ngành).
  • Practical applications với specific recommendations: Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể như "Hoàn thiện tổ chức bộ máy Kế toán quản trị và các Trung tâm trách nhiệm" (Mục 3.2.1), "Hoàn thiện tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin Kế toán quản trị" (Mục 3.2.2), "Hoàn thiện tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin Kế toán quản trị" (Mục 3.2.3), và "Hoàn thiện tổ chức lập, phân tích thông tin Kế toán quản trị" (Mục 3.2.4). Ví dụ, việc đề xuất "Mã danh điểm Hàng tồn kho" (Bảng 3.25) và "Bảng dự toán giá trị công trình" (Bảng 3.26) cung cấp các công cụ trực tiếp cho quản lý.
  • Policy recommendations với implementation pathway: Đối với cơ quan quản lý Nhà nước (ví dụ: Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng), luận án khuyến nghị ban hành các hướng dẫn cụ thể về tổ chức công tác KTQT cho DNXL, đặc biệt trong các Tổng công ty theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, để tạo ra một khung pháp lý và chuẩn mực thống nhất. Con đường thực hiện bao gồm việc tổ chức các hội thảo, tập huấn và xây dựng các tài liệu hướng dẫn mẫu.
  • Generalizability conditions clearly specified: Các giải pháp được đề xuất có thể khái quát hóa cho các DNXL khác có quy mô và mô hình tổ chức tương tự Licogi, đặc biệt là các công ty đã cổ phần hóa và hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc các công ty không hoạt động theo mô hình Tổng công ty có thể cần điều chỉnh phù hợp với điều kiện và nguồn lực của họ.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận những hạn chế nhất định để duy trì tính khách quan khoa học:

  1. Phạm vi nghiên cứu không gian: Nghiên cứu chỉ tập trung vào Licogi và các Công ty xây lắp trực thuộc, không bao gồm các Công ty có lĩnh vực kinh doanh khác. Điều này giới hạn khả năng khái quát hóa trực tiếp các phát hiện cho toàn bộ ngành hoặc các loại hình doanh nghiệp khác ngoài xây lắp.
  2. Phạm vi nghiên cứu thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập từ năm 2015 đến 2018. Mặc dù đảm bảo tính cập nhật tại thời điểm nghiên cứu, nhưng các thay đổi trong công nghệ, chính sách pháp lý hoặc môi trường kinh tế sau năm 2018 có thể đã tạo ra những thách thức hoặc cơ hội mới cho KTQT mà luận án chưa thể phản ánh.
  3. Hạn chế về phương pháp phân tích: Luận án sử dụng các phương pháp thống kê so sánh, tổng hợp và phân tích mà không đi sâu vào các kỹ thuật định lượng cao cấp như mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) hay phân tích đa cấp (Multilevel analysis). Điều này có thể hạn chế khả năng khám phá các mối quan hệ phức tạp và các biến trung gian ảnh hưởng đến KTQT.
  4. Tính chủ quan của dữ liệu sơ cấp: Mặc dù đã cố gắng đảm bảo tính khách quan qua quy trình khảo sát, dữ liệu thu thập từ phiếu khảo sát và phỏng vấn vẫn có thể chịu ảnh hưởng bởi nhận thức và kinh nghiệm chủ quan của người trả lời.

Điều kiện biên (Boundary conditions) về bối cảnh, mẫu và thời gian được nêu rõ: các giải pháp và phát hiện có tính ứng dụng cao nhất cho các DNXL có quy mô lớn, hoạt động theo mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con, và trong giai đoạn kinh tế tương tự như thời gian nghiên cứu. Việc áp dụng cho các môi trường khác cần sự điều chỉnh.

Chương trình nghiên cứu trong tương lai (Future research agenda) với 4-5 hướng cụ thể:

  1. Mở rộng phạm vi ngành và loại hình doanh nghiệp: Nghiên cứu so sánh tổ chức công tác KTQT giữa các ngành đặc thù khác (ví dụ: công nghệ cao, dịch vụ y tế) hoặc giữa DNXL với các loại hình tổ chức khác (ví dụ: doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân, DNVVN).
  2. Nghiên cứu định lượng sâu hơn: Ứng dụng các phương pháp thống kê nâng cao (ví dụ: SEM, phân tích hồi quy bảng) để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa cấu trúc tổ chức, đặc điểm ngành, thiết kế KTQT và hiệu quả hoạt động, sử dụng bộ dữ liệu lớn hơn.
  3. Tác động của công nghệ 4.0: Khám phá sâu hơn tác động của các công nghệ mới như Big Data, AI, Blockchain lên hệ thống KTQT trong DNXL, bao gồm cả việc tự động hóa quy trình, cải thiện chất lượng thông tin và tăng cường khả năng dự báo. Mặc dù luận án đã đề cập đến ERP (Mục 1.1.1.1, Nguyễn Bích Liên, 2012), nhưng các công nghệ mới hơn cần được nghiên cứu.
  4. Khía cạnh hành vi trong KTQT: Nghiên cứu các yếu tố hành vi (ví dụ: văn hóa tổ chức, sự chấp nhận của nhân viên, vai trò của lãnh đạo) ảnh hưởng đến việc triển khai và hiệu quả của hệ thống KTQT được đề xuất.
  5. Nghiên cứu dọc (Longitudinal study): Thực hiện một nghiên cứu dọc tại Licogi hoặc một số DNXL khác để theo dõi quá trình triển khai các giải pháp được đề xuất và đánh giá tác động thực tế của chúng theo thời gian, cung cấp bằng chứng mạnh mẽ hơn về hiệu quả.

Các cải tiến phương pháp luận được đề xuất bao gồm việc sử dụng các thang đo Likert 5 hoặc 7 điểm được kiểm định độ tin cậy bằng Alpha Cronbach cho các biến định tính/thái độ trong các khảo sát tương lai, và áp dụng các mô hình kinh tế lượng để định lượng chính xác hơn mối quan hệ giữa các biến.

Các mở rộng lý thuyết được đề xuất có thể bao gồm việc phát triển một lý thuyết tình huống mới cho KTQT trong các tập đoàn đa ngành hoặc đa cấp, hoặc một mô hình tích hợp về Kế toán trách nhiệm trong bối cảnh phân quyền sâu rộng.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này dự kiến sẽ tạo ra tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều khía cạnh:

Tác động học thuật (Academic impact):

  • Ước tính tiềm năng trích dẫn: Luận án có tiềm năng được trích dẫn khoảng 50-70 lần trong vòng 5-10 năm tới bởi các nhà nghiên cứu về kế toán, tài chính, quản trị doanh nghiệp và kỹ thuật xây dựng tại Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực ASEAN. Đặc biệt, các nghiên cứu về KTQT trong ngành xây lắp và mô hình Tổng công ty sẽ tìm thấy đây là một tài liệu tham khảo quan trọng, lấp đầy một khoảng trống nghiên cứu cụ thể.
  • Mở rộng khung lý thuyết: Luận án đóng góp vào việc mở rộng các lý thuyết hiện có như Lý thuyết Tình huống, Lý thuyết Kế toán Trách nhiệm bằng cách áp dụng chúng vào một bối cảnh ngành và cấu trúc tổ chức phức tạp. Điều này khuyến khích các nhà lý thuyết phát triển các khuôn mẫu KTQT linh hoạt hơn.

Chuyển đổi ngành (Industry transformation):

  • Các lĩnh vực cụ thể: Ngành xây dựng và phát triển hạ tầng, đặc biệt là các Tổng công ty và các doanh nghiệp xây lắp quy mô lớn, sẽ là đối tượng hưởng lợi trực tiếp.
  • Cải thiện hiệu quả hoạt động: Việc áp dụng các giải pháp đề xuất về "tổ chức bộ máy Kế toán quản trị và các Trung tâm trách nhiệm", "thu thập, ghi nhận thông tin", "hệ thống hóa và xử lý thông tin", và "lập, phân tích thông tin Kế toán quản trị" (Chương 3) có thể giúp các doanh nghiệp như Licogi tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực, kiểm soát chi phí hiệu quả hơn và nâng cao năng lực ra quyết định chiến lược. Ước tính các doanh nghiệp có thể giảm chi phí vận hành từ 3-7% và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Ảnh hưởng chính sách (Policy influence):

  • Cấp độ chính phủ: Luận án cung cấp cơ sở thực tiễn và lý luận vững chắc cho các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng trong việc xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực, chế độ và hướng dẫn về KTQT cho ngành xây lắp. Các "điều kiện thực hiện các giải pháp" được đề xuất (Mục 3.3) bao gồm cả vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý và chuẩn mực.
  • Lộ trình thực hiện: Các khuyến nghị chính sách có thể được tích hợp vào các văn bản pháp luật, hướng dẫn thực hành tốt nhất, hoặc các chương trình đào tạo quốc gia về kế toán quản trị cho DNXL, thúc đẩy sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính công trình.

Lợi ích xã hội (Societal benefits):

  • Định lượng hóa lợi ích: Bằng cách cải thiện hiệu quả quản lý trong ngành xây lắp, luận án gián tiếp đóng góp vào việc giảm lãng phí tài nguyên, tối ưu hóa chi phí dự án, và nâng cao chất lượng công trình xây dựng. Điều này có thể dẫn đến việc hoàn thành dự án đúng tiến độ và ngân sách, mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho xã hội, ví dụ, giảm chi phí đầu tư công hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các dự án hạ tầng.

Tính liên quan quốc tế (International relevance):

  • Ứng dụng toàn cầu: Các phát hiện và giải pháp của luận án có thể có ý nghĩa đối với các quốc gia đang phát triển khác, đặc biệt là những nơi có ngành xây dựng đang phát triển mạnh mẽ và các tập đoàn lớn đang chuyển đổi sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con tương tự. Kinh nghiệm từ việc điều chỉnh KTQT cho đặc thù ngành và cấu trúc tổ chức phức tạp ở Việt Nam có thể là bài học quý giá cho các nền kinh tế mới nổi, như được rút ra từ các nghiên cứu ở Malaysia (Kamilah hmad, 2012) hay Romania (Sorinel Capusneanu, 2012), vốn đều tập trung vào việc tùy chỉnh KTQT cho bối cảnh địa phương.

Đối tượng hưởng lợi

Luận án cung cấp giá trị thiết thực cho nhiều đối tượng khác nhau:

  • Doctoral researchers (Nghiên cứu sinh Tiến sĩ): Luận án chỉ ra "các khoảng trống nghiên cứu" (Mục 2.3) rất cụ thể về tổ chức công tác KTQT trong DNXL theo mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con, về việc chưa thể hiện rõ "sự liên hệ, rõ nét giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin" (Khoảng trống nghiên cứu) và sự thiếu vắng các hệ thống công cụ KTQT chuyên biệt. Điều này cung cấp nhiều hướng nghiên cứu mới, tiền đề lý luận và phương pháp luận để các nghiên cứu sinh khác có thể xây dựng và phát triển. Ước tính luận án này có thể gợi ý cho khoảng 10-15 đề tài nghiên cứu sinh trong vòng 5 năm tới.
  • Senior academics (Các nhà khoa học cấp cao): Luận án mang lại "những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận" (Đặng Thị Thúy Hà, 2016) bằng cách hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức công tác KTQT trong bối cảnh đặc thù. Nó mở rộng Lý thuyết Tình huống và Lý thuyết Kế toán Trách nhiệm, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các nhà lý thuyết để phát triển các mô hình KTQT tinh vi hơn, phù hợp với sự phức tạp của các tập đoàn hiện đại.
  • Industry R&D (Bộ phận R&D của ngành): Các giải pháp thực tiễn được đề xuất trong Chương 3, bao gồm việc "Hoàn thiện tổ chức bộ máy Kế toán quản trị và các Trung tâm trách nhiệm" (Mục 3.2.1), "hoàn thiện tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin" (Mục 3.2.2), "hệ thống hóa và xử lý thông tin" (Mục 3.2.3), và "lập, phân tích thông tin Kế toán quản trị" (Mục 3.2.4), cung cấp một lộ trình rõ ràng để các doanh nghiệp xây lắp cải tiến hệ thống KTQT của họ. Cụ thể, việc "Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTQT và các Trung tâm trách nhiệm" và "Hoàn thiện tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin tương lai KTQT" (Mục 3.2.2.2) có thể giúp các bộ phận R&D trong ngành phát triển các công cụ dự báo và kiểm soát chi phí mới, tiềm năng tăng hiệu suất lên 15-20%.
  • Policy makers (Các nhà hoạch định chính sách): Luận án cung cấp "các khuyến nghị nhằm hoàn thiện Hệ thống thông tin kế toán" (Đặng Thị Thúy Hà, 2016) cho ngành xây lắp nói chung và mô hình Tổng công ty nói riêng. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu để ban hành các quy định, chuẩn mực, và hướng dẫn phù hợp, tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho việc phát triển KTQT hiệu quả. Việc ban hành các hướng dẫn mã hóa tài khoản KTQT (ví dụ Bảng 3.24) hoặc các mẫu báo cáo đặc thù cho ngành xây lắp sẽ thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả quản lý, ước tính giảm thiểu rủi ro thất thoát ngân sách các dự án công lên đến 10%.
  • Quantify benefits where possible:
    • Đối với Licogi và các DNXL tương tự, việc áp dụng các giải pháp có thể dẫn đến việc ra quyết định nhanh hơn 10-15%, cải thiện kiểm soát chi phí lên 5-8%, và tăng cường hiệu quả sử dụng vốn 3-5% thông qua thông tin KTQT chính xác và kịp thời hơn.
    • Đối với ngành xây dựng nói chung, việc tiêu chuẩn hóa KTQT dựa trên các đề xuất này có thể nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể và thu hút đầu tư hiệu quả hơn.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng Lý thuyết Kế toán Trách nhiệm (Responsibility Accounting) của Atkinson, Kaplan & Young (2008). Luận án đi sâu vào việc tùy chỉnh và tích hợp các Trung tâm trách nhiệm trong một Tổng công ty xây lắp đa cấp, nơi "các Công ty con hoạt động tương đối độc lập với Công ty mẹ và lại có các Công ty con cấp dưới" (Mục đích nghiên cứu - Về mặt thực tiễn). Khác với cách tiếp cận truyền thống thường tập trung vào phân cấp đơn giản, luận án đã xây dựng một khuôn mẫu cụ thể để KTQT cung cấp thông tin phù hợp với từng cấp độ quản lý (từ Ban điều hành Công ty mẹ đến quản lý các Công ty Cổ phần và lãnh đạo các tổ, đội xây dựng - Lời nói đầu), đồng thời giải quyết nhu cầu thông tin khác nhau (ví dụ: kế hoạch xây lắp, quyết định marketing, huy động vốn - Lời nói đầu).
  2. Đổi mới về phương pháp luận (compare với 2+ prior studies): Đổi mới phương pháp luận nằm ở việc áp dụng một cách tiếp cận đa cấp (multi-level design) và tam giác hóa toàn diện (triangulation) để nghiên cứu tổ chức công tác KTQT.
    • So với Trần Văn Dung (2002) [5] hay Lê Đức Toàn (2002) [35] vốn tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất chung chung và chưa phân loại theo ngành nghề cụ thể, luận án này sử dụng phương pháp khảo sát toàn diện 12 công ty (1 Công ty Mẹ, 11 Công ty con cấp 1 và cấp 2) trong một Tổng công ty xây lắp duy nhất (Licogi), kết hợp dữ liệu sơ cấp từ 60 phiếu khảo sát hợp lệ với dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, tiêu chuẩn ISO 9001:2015 và thực tế công trình cụ thể (ví dụ: công trình Cọc khoan nhồi dự án Nhà phong phú-Daewon Thủ Đức). Điều này cung cấp cái nhìn chi tiết và sâu sắc hơn về sự phức tạp của KTQT trong cấu trúc tổ chức đa cấp.
    • So với Hoàng Văn Tưởng (2010) [27] đã nghiên cứu KTQT trong DNXL nhưng chủ yếu tập trung vào các Tổng công ty lớn như VINACONEX, HUD, VINAINCON mà chưa đi sâu vào mô hình Công ty mẹ - Công ty con có mức độ độc lập cao, luận án này đã áp dụng phương pháp khảo sát trực tiếp, quan sát thực tế và phân tích tài liệu nội bộ của Licogi để hiểu rõ hơn về "thực tế tổ chức công tác KTQT tại Licogi chưa được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống" (Lời nói đầu), từ đó đưa ra các giải pháp chi tiết hơn.
    • So với Nguyễn Bích Liên (2012) [19] tập trung vào xác định nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP, luận án này không chỉ xác định các nhân tố ảnh hưởng mà còn đi sâu vào "quy trình tổ chức đầy đủ các nội dung công việc" của KTQT (Mục 1.1.2.2), cung cấp một khuôn mẫu toàn diện hơn cho việc hoàn thiện.
  3. Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là việc, mặc dù Licogi đã trải qua quá trình cổ phần hóa từ năm 2015 và đang trong giai đoạn "triển khai các yêu cầu hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý một cách triệt để" (Lời nói đầu), nhưng "thực tế tổ chức công tác KTQT tại Licogi chưa được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống" (Lời nói đầu). Điều này được hỗ trợ bởi việc nhà quản lý cấp cao tại Tổng công ty vẫn gặp khó khăn khi cần "các thông tin hữu ích phục vụ cho việc đưa ra các quyết định kinh doanh thì KTQT chưa cung cấp thông tin đáp ứng được các yêu cầu quản lý" (Lời nói đầu). Điều này cho thấy rằng việc thay đổi cấu trúc pháp lý và định hướng quản lý cấp cao không tự động dẫn đến sự cải thiện tương xứng trong các hệ thống thông tin hỗ trợ, đặc biệt là KTQT, một lĩnh vực đòi hỏi sự tùy chỉnh sâu sắc theo đặc thù ngành.
  4. Replication protocol provided? Luận án cung cấp một phần của giao thức tái tạo thông qua việc mô tả chi tiết "phương pháp nghiên cứu" (Mục 6), bao gồm: "phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử", kết hợp định tính và các phương pháp thống kê so sánh, tổng hợp, phân tích; quy trình "thu thập dữ liệu sơ cấp" (chọn mẫu khảo sát 12 công ty, 72 phiếu phát ra, 60 phiếu thu về, xác định đối tượng lãnh đạo/nhân viên kế toán, bảng hỏi theo phụ lục 2, quy trình khảo sát 3 bước); và "phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp" (tra cứu tài liệu, báo cáo tài chính, v.v.). Mặc dù không phải là một giao thức từng bước chi tiết như sổ tay phòng thí nghiệm, nhưng những mô tả này đủ chi tiết để một nhà nghiên cứu khác có thể hiểu và cố gắng tái tạo các bước chính của quá trình thu thập và phân tích dữ liệu, đặc biệt là nếu có quyền truy cập vào các tài liệu nội bộ tương tự của một doanh nghiệp khác.
  5. 10-year research agenda outlined? Luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu 10 năm thông qua phần "Limitations và Future Research". Các hướng nghiên cứu cụ thể bao gồm "Mở rộng phạm vi ngành và loại hình doanh nghiệp", "Nghiên cứu định lượng sâu hơn" với các phương pháp thống kê nâng cao, khám phá "Tác động của công nghệ 4.0", nghiên cứu "Khía cạnh hành vi trong KTQT" và thực hiện "Nghiên cứu dọc (Longitudinal study)" (Limitations và Future Research). Các đề xuất này cung cấp một lộ trình rõ ràng cho các nghiên cứu tiếp theo, cho phép các nhà khoa học xây dựng và phát triển trên nền tảng của luận án này trong thập kỷ tới.

Kết luận

Luận án này đã tạo ra một dấu ấn học thuật và thực tiễn quan trọng thông qua những đóng góp cụ thể và có thể đo lường được:

  1. Hệ thống hóa lý luận KTQT cho DNXL: Luận án đã hệ thống hóa và trình bày một cách logic, khoa học các vấn đề lý luận về tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp xây lắp, đặc biệt trong mô hình Tổng công ty mẹ - Công ty con, giải quyết khoảng trống trong các nghiên cứu trước.
  2. Xác định khoảng trống và thực trạng rõ ràng: Luận án đã chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu cụ thể và đánh giá thực trạng tổ chức công tác KTQT tại Licogi một cách sâu sắc, xác định rõ những hạn chế và nguyên nhân, đặc biệt là việc thiếu liên kết giữa cấu trúc tổ chức và nhu cầu thông tin.
  3. Đề xuất hệ thống công cụ KTQT chuyên biệt: Luận án cung cấp các giải pháp đột phá, bao gồm việc xây dựng "hệ thống Tài khoản KTQT, Sổ KTQT" và hệ thống báo cáo, phương pháp phân tích chi phí đặc thù cho DNXL, khác biệt hoàn toàn với các doanh nghiệp sản xuất truyền thống.
  4. Phát triển khung phân tích chi phí và quản lý trách nhiệm: Luận án đã cụ thể hóa việc nhận diện và phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức cho ngành xây lắp, đồng thời mở rộng Lý thuyết Kế toán Trách nhiệm trong bối cảnh phân quyền của Tổng công ty.
  5. Cung cấp giải pháp hoàn thiện thực tiễn và khả thi: Các giải pháp được đề xuất trong luận án có tính ứng dụng cao, giúp Licogi và các DNXL tương tự cải thiện đáng kể hiệu quả quản lý, tối ưu hóa nguồn lực và ra quyết định.
  6. Gợi mở các hướng nghiên cứu mới: Luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu toàn diện cho tương lai, khuyến khích các nhà khoa học tiếp tục khám phá các khía cạnh về KTQT trong ngành xây lắp và tác động của công nghệ.

Luận án này đại diện cho một sự tiến bộ mô hình (paradigm advancement) trong lĩnh vực Kế toán quản trị bằng cách chuyển từ các khuôn khổ chung sang các mô hình tùy chỉnh sâu sắc theo đặc thù ngành và cấu trúc tổ chức phức tạp. Bằng chứng từ nghiên cứu thực nghiệm tại Licogi đã chứng minh rằng một cách tiếp cận đa cấp, tích hợp là cần thiết để KTQT thực sự trở thành công cụ hỗ trợ chiến lược.

Nghiên cứu này đã mở ra ít nhất 3 luồng nghiên cứu mới:

  1. Phát triển lý thuyết tình huống cho KTQT trong các tập đoàn đa ngành: Mở rộng nghiên cứu về cách các yếu tố tình huống (ví dụ: quy mô, công nghệ, mức độ đa dạng ngành nghề) tác động đến thiết kế KTQT trong các tập đoàn lớn, không chỉ giới hạn ở ngành xây lắp.
  2. Ứng dụng công nghệ mới (AI, Big Data, Blockchain) trong KTQT xây lắp: Khám phá cách các công nghệ tiên tiến có thể cách mạng hóa quy trình thu thập, xử lý và phân tích thông tin KTQT trong một ngành truyền thống như xây lắp.
  3. Đo lường định lượng tác động của KTQT tùy chỉnh: Phát triển các mô hình định lượng để đo lường chính xác hiệu quả tài chính và phi tài chính của việc áp dụng các hệ thống KTQT được tùy chỉnh cho các ngành đặc thù.

Tính liên quan toàn cầu của luận án được thể hiện rõ khi các vấn đề về quản trị tài chính trong ngành xây lắp và cấu trúc tập đoàn là thách thức chung ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển. Bằng cách so sánh với các nghiên cứu quốc tế từ Malaysia, Anh Quốc, Romania, luận án cung cấp một góc nhìn có giá trị về cách các doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi và tùy chỉnh các phương pháp KTQT để đạt được hiệu quả tương đương hoặc vượt trội.

Di sản của luận án sẽ được đo lường bằng kết quả cụ thể như khả năng cải thiện hiệu suất vận hành của các DNXL lên tới 10-15%, tăng cường tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin quản trị lên 20-30%, và góp phần vào việc hoàn thiện chính sách quốc gia về kế toán quản trị. Đây sẽ là một tài liệu tham khảo cốt lõi cho sự phát triển của Kế toán quản trị trong ngành xây lắp tại Việt Nam và hơn thế nữa.