Luận án Cạnh tranh Trung lập DNNN: Thách thức, Khuyến nghị Đổi mới Cạnh tranh
"Phân tích thách thức và đề xuất giải pháp nâng cao cạnh tranh cho doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam."
Số trang
180
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Vai trò trọng yếu và hiện trạng DNNN Việt Nam
- Số trang:
- 180 trang
- Chuyên ngành:
- Kinh tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Vai trò trọng yếu và hiện trạng DNNN Việt Nam
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm chưa đến 1% tổng số doanh nghiệp. Tuy nhiên, DNNN là lực lượng then chốt. DNNN nắm giữ các lĩnh vực kinh tế cốt lõi. DNNN có nhiệm vụ đảm bảo cân đối vĩ mô. DNNN cung cấp công ích, an ninh, quốc phòng. Tính đến tháng 12/2017, Việt Nam có 652 DNNN. Con số này bao gồm 9 tập đoàn và 65 tổng công ty. DNNN đóng góp gần 30% GDP quốc gia. Đây là số liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2017. DNNN cũng thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội. Chúng tạo động lực phát triển. DNNN thu hút các thành phần kinh tế khác. Chúng đóng góp cho các chương trình quốc gia. Tổng tài sản DNNN vượt 3,05 triệu tỷ VND (tăng 45,8%). Trong đó, vốn nhà nước đạt gần 1,4 triệu tỷ. Một số tập đoàn nhà nước có tỷ suất lợi nhuận cao. Tập đoàn Viettel đạt 43,5%. Tập đoàn Cao su Việt Nam đạt 30,4%. Tổng công ty Mía đường đạt 29,9%. Những số liệu này cho thấy quy mô và vai trò lớn của DNNN. Tuy nhiên, hiệu suất tổng thể cần được đánh giá kỹ lưỡng. Năng lực cạnh tranh DNNN là mối quan tâm chính.
1.1. Vị thế và đóng góp kinh tế của DNNN
DNNN giữ vị trí chiến lược. Chúng chi phối các ngành kinh tế trọng yếu. DNNN đóng góp đáng kể vào GDP. Đây là nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô. DNNN là công cụ quan trọng cho mục tiêu phát triển quốc gia. Vai trò này cần được duy trì và phát huy.
1.2. Nguồn lực và tài sản của doanh nghiệp nhà nước
DNNN quản lý lượng tài sản khổng lồ. Vốn nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. DNNN được trang bị đầy đủ tài nguyên. Chúng có lợi thế về đất đai, vốn. Nguồn lực này là yếu tố quan trọng. Nó giúp DNNN thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Quản trị doanh nghiệp nhà nước hiệu quả là cần thiết.
1.3. Nhiệm vụ chính trị xã hội của DNNN
DNNN không chỉ hoạt động kinh doanh. Chúng còn gánh vác các nhiệm vụ chính trị. DNNN đóng góp vào an ninh quốc phòng. Chúng đảm bảo công ích, an sinh xã hội. DNNN là trụ cột trong các chương trình quốc gia. Vai trò này cần được cân bằng với hiệu quả hoạt động DNNN.
II. Đổi mới cạnh tranh DNNN Xu hướng toàn cầu hóa
Xu hướng toàn cầu hóa tạo ra môi trường cạnh tranh mới. Các doanh nghiệp thâm nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu. Điều này đòi hỏi sân chơi bình đẳng. Mọi thực thể kinh tế phải cạnh tranh công bằng. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cần ở vị trí bình đẳng. Cần cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nguyên tắc Cạnh tranh Trung lập (CTTL) là xu hướng mới. CTTL hướng tới hoạch định và phát triển chính sách cạnh tranh. Nhiều quốc gia trên thế giới đã chú trọng CTTL. Các nước đang phát triển quan tâm ứng dụng CTTL. Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới. Việc tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do là minh chứng. Nhà nước phải duy trì môi trường cạnh tranh công bằng. Môi trường đó phải lành mạnh, bình đẳng cho mọi chủ thể. CTTL cho phép khối doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh ngang bằng DNNN. Đây là môi trường chung cho cạnh tranh. Cạnh tranh giữa DNNN, tư nhân, doanh nghiệp FDI. CTTL góp phần tăng cường sự hài hòa hóa môi trường kinh doanh. Nâng cao năng lực cạnh tranh DNNN là trọng tâm.
2.1. Yêu cầu sân chơi bình đẳng trong hội nhập
Toàn cầu hóa thúc đẩy cạnh tranh. Doanh nghiệp nhà nước cần đối mặt với thách thức này. Một sân chơi bình đẳng là rất cần thiết. Nó đảm bảo công bằng cho mọi đối thủ. Đây là yếu tố sống còn cho hội nhập. Các quy định pháp lý cần được hoàn thiện.
2.2. Nguyên tắc cạnh tranh trung lập CTTL toàn cầu
CTTL là nguyên tắc then chốt. Nó loại bỏ các méo mó cạnh tranh. CTTL áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu là tạo môi trường kinh doanh công bằng. CTTL giúp nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN. Nó thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
2.3. Việt Nam hội nhập và môi trường cạnh tranh mới
Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại. Yêu cầu cạnh tranh công bằng ngày càng cao. Môi trường này đòi hỏi DNNN phải đổi mới. Cải cách DNNN là không thể tránh khỏi. Cần điều chỉnh mô hình kinh doanh DNNN. Đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
III. Thách thức lớn DNNN đối mặt cạnh tranh mới
Khu vực DNNN Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn. DNNN nắm giữ vị trí độc quyền trong nhiều lĩnh vực then chốt. Nhà nước dành nhiều ưu đãi cho DNNN. Ưu đãi này hơn hẳn doanh nghiệp tư nhân. DNNN được trang bị đầy đủ nguồn lực. Bao gồm đất đai, tài nguyên quan trọng. Tuy nhiên, chính sự ưu đãi đã khiến DNNN thụ động. DNNN mất lợi thế cạnh tranh. Điều này xảy ra khi áp dụng chính sách CTTL. Thực tế cho thấy, DNNN hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng hiệu suất hoạt động chưa cao. Tình trạng độc quyền thường dẫn đến kém năng lực cạnh tranh. DNNN trở nên trì trệ. Chúng không có động lực để đổi mới. DNNN độc quyền có tác động tiêu cực. Ảnh hưởng đến cạnh tranh và lợi ích người tiêu dùng. Để loại bỏ ảnh hưởng tiêu cực, cần hành động. Các cơ quan cạnh tranh phải xây dựng nguyên tắc. Họ cần công cụ để xử lý "méo mó" trong CTTL. Hiệu suất hoạt động của nền kinh tế Việt Nam chưa cao. Khu vực kinh tế nhà nước còn lấn át tư nhân. Nhiều ưu đãi hơn cho DNNN. Hoạt động của các DNNN bộc lộ nhiều sai phạm, yếu kém. Đây là thách thức lớn.
3.1. Ưu đãi nhà nước và sự thụ động của DNNN
DNNN nhận nhiều đặc quyền. Điều này làm giảm động lực cạnh tranh. Sự phụ thuộc vào ưu đãi làm DNNN trì trệ. Không khuyến khích cải cách DNNN. Năng lực cạnh tranh DNNN bị ảnh hưởng tiêu cực. Cần xem xét lại các chính sách ưu đãi.
3.2. Hiệu suất thấp độc quyền làm giảm năng lực
Mặc dù nguồn lực dồi dào, hiệu suất DNNN không cao. Vị thế độc quyền thường không thúc đẩy đổi mới. Ngược lại, nó có thể làm giảm năng lực cạnh tranh. Cần tái cấu trúc DNNN. Cần nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN.
3.3. Tác động tiêu cực của độc quyền DNNN
Độc quyền DNNN gây méo mó thị trường. Nó ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh công bằng. Lợi ích người tiêu dùng bị suy giảm. Cần quản lý chặt chẽ hơn. Phải có giải pháp cho DNNN để hạn chế độc quyền.
IV. Cải cách DNNN Nâng cao năng lực cạnh tranh
Xây dựng và đổi mới cạnh tranh DNNN là biện pháp tiên quyết. Điều này đảm bảo đóng góp tích cực của DNNN. Nó góp phần vào hiệu quả kinh tế chung. Đồng thời, nó tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. DNNN, thị trường và năng lực cạnh tranh đang là vấn đề quan tâm. Đây là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Sau gần một thập kỷ hội nhập kinh tế quốc tế, hiệu suất hoạt động của nền kinh tế Việt Nam không cao. Khu vực kinh tế nhà nước còn lấn át khu vực kinh tế tư nhân. DNNN nhận nhiều ưu đãi hơn từ Nhà nước. Trong khi đó, hoạt động của các DNNN bộc lộ nhiều sai phạm. Yếu kém nghiêm trọng cũng được ghi nhận. Đây là rào cản lớn nhất cho sự phát triển. Cải cách DNNN là bắt buộc. Cần tái cấu trúc DNNN toàn diện. Áp dụng quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện đại. Chú trọng chuyển đổi số trong DNNN. Cần xây dựng mô hình kinh doanh DNNN hiệu quả hơn. Mục tiêu là để DNNN thực sự trở thành động lực phát triển. Chúng cần cạnh tranh bình đẳng, minh bạch.
4.1. Sự cần thiết đổi mới để đóng góp kinh tế
Đổi mới cạnh tranh DNNN là thiết yếu. Nó giúp DNNN đóng góp hiệu quả hơn. Tăng cường hiệu quả hoạt động DNNN. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là trọng tâm của cải cách.
4.2. Hạn chế hiện tại của khu vực DNNN
Kinh tế nhà nước còn lấn át tư nhân. Hoạt động DNNN bộc lộ sai phạm. Yếu kém nghiêm trọng đang tồn tại. Những hạn chế này là rào cản lớn. Cần có giải pháp cho DNNN. Đặc biệt trong việc nâng cao quản trị doanh nghiệp nhà nước.
4.3. Mục tiêu cải cách và nâng cao hiệu quả
Mục tiêu là tái cấu trúc DNNN. Nâng cao năng lực cạnh tranh DNNN. Cần áp dụng mô hình kinh doanh DNNN mới. Chú trọng chuyển đổi số trong DNNN. Điều này giúp DNNN thích ứng với môi trường mới. Hướng tới sự phát triển bền vững.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (180 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài nghiên cứu DNNN tuy chỉ chiếm chưa đến 1%1 nhưng lại là lực lượng nắm giữ những lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước, có nhiệm vụ bảo đảm cân đối vĩ mô cho nền kinh tế, công ích, an ninh và quốc phòng. Tính đến tháng 12/2017, theo niên giám thống kê 2018 của Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có có 652 DNNN (bao gồm 9 tập đoàn và 65 tổng công ty) với tỷ trọng đóng góp vào GDP đạt gần 30% (theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2017). Không những thế, các DNNN còn thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội trong một số lĩnh vực, tạo động lực phát triển và thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia và đóng góp cho các chương trình quốc gia. Theo báo cáo tại Quốc hội ngày 28/5/2018, tổng tài sản tại các DNNN là hơn 3,05 triệu tỷ VND (tăng 45,8%), trong đó vốn Nhà nước đạt gần 1,4 triệu tỷ.
Một số tập đoàn nhà nước có tỷ suất lợi nhuận cao có thể kể đến như Tập đoàn công nghiệp Viễn thông quân đội là 43,5%, Tập đoàn Cao su Việt Nam là 30,4%, Tổng công ty Mía đường là 29,9%,… Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến sự thâm nhập mạnh mẽ của các doanh nghiệp đến mọi nơi trong nền kinh tế thế giới; đòi hỏi một sân chơi bình đẳng để tất cả các thực thể kinh tế, trong đó có các DNNN, ở vị trí bình đẳng để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác (Capobianco và Christiansen, 2011). Trong đó, DNNN và doanh nghiệp khu vực tư nhân cạnh tranh bình đẳng với nhau trên thị trường. Chính vì thế, việc thiết lập một sân chơi bình đẳng là cần thiết ở các nền kinh tế thị trường phát triển. Nhưng điều này còn cần thiết hơn ở khu vực đang phát triển của thế giới – nơi hệ thống pháp lý vẫn đang được hoàn thiện và không có những quy định nghiêm ngặt cho những đối tượng, thành phần tham gia thị trường.
Không những thế, một sân chơi bình đẳng để các thành phần kinh tế có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau được quan tâm đặc biệt ở các nền kinh tế nơi khu vực thuộc sở hữu của chính phủ tương đối lớn và không hiệu quả so với khu vực tư nhân (Zwalf, 2017). Có thể thấy, CTTL là một xu hướng mới trong hoạch định và phát triển chính sách cạnh tranh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển đang rất chú trọng đến việc nghiên cứu ứng dụng xu hướng này vào thực tế (OECD, 2012; Dordi, 2016). Điều này càng được quan tâm hơn khi hiện nay, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới thông qua việc tham gia vào một loạt Hiệp định thương mại tự do. Điều này đòi hỏi nhà nước phải duy trì một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường (OECD, 2018; UNCTAD, 2014).
1 Niên giám thống kê 2018 2 Tại Việt Nam, CTTL cũng bắt đầu được quan tâm nhận thức đầy đủ trong hệ thống chính sách quốc gia. CTTL cho phép khối doanh nghiệp khu vực tư nhân có cơ hội cạnh tranh ngang bằng với DNNN. Đây cũng là môi trường chung sân chơi chung của cho cạnh tranh giữa DNNN và doanh nghiệp khu vực tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, CTTL còn góp phần tăng cường sự hài hòa hóa về môi trường kinh doanh.
Bên cạnh đó, xây dựng và đổi mới cạnh tranh DNNN là biện pháp tiên quyết nhằm đảm bảo sự đóng góp tích cực của DNNN vào hiệu quả kinh tế chung và năng lực cạnh tranh quốc gia. Khu vực DNNN của Việt Nam hiện nay chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, nắm giữ vị trí độc quyền trong nhiều lĩnh vực kinh tế then chốt và được Nhà nước dành nhiều ưu đãi hơn so với doanh nghiệp khu vực tư nhân. DNNN được trang bị đầy đủ, kể cả đất đai, nguồn lực tài nguyên là những nguồn lực quan trọng nhất. Tuy nhiên, chính sự ưu đãi này đã vô hình khiến chung các DNNN trở nên thụ động, mất lợi thế trong điều kiện áp dụng chính sách CTTL.
Trên thực tế, DNNN mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi nhưng hiệu suất hoạt động chưa cao dẫn đến tình trạng càng độc quyền càng kém năng lực cạnh tranh (Henning và Kou, 2018; Gershman, Roud và Thurner, 2018). Như vậy, so với các doanh nghiệp khu vực tư nhân, DNNN được trang bị những nguồn lực quan trọng nhất như: đất đai, nguồn lực tài nguyên, trang bị đầy đủ khiến các doanh nghiệp này trở nên trì trệ, không có động lực để đổi mới. Không những thế, DNNN độc quyền ở một số lĩnh vực then chốt thường có tác động tiêu cực đến cạnh tranh và lợi ích của người tiêu dung (Trần Viết Ngãi, 2014). Khi đó, để loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực về cạnh tranh, các cơ quan cạnh tranh phải xây dựng được những nguyên tắc và công cụ để xác lập phạm vi quản lý, xử lý những “méo mó” trong CTTL.
Ngoài ra, DNNN – thị trường – năng lực cạnh tranh đang là một vấn đề nhận được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trải qua gần một thập kỷ hội nhập kinh tế quốc tế; tuy nhiên, hiệu suất hoạt động của nền kinh tế Việt Nam lại không cao, khu vực kinh tế Nhà nước còn lấn át khu vực kinh tế tư nhân và được hưởng ưu đãi nhiều hơn từ Nhà nước so với khu vực tư nhân trong khi hoạt động của các DNNN thuộc khu vực này trong thời gian qua bộc lộ nhiều sai phạm và yếu kém trầm trọng (OECD, 2018). Đây là rào cản lớn nhất đối với quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam. Áp dụng nguyên tắc CTTL, một mặt giúp Việt Nam tiếp tục quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật quốc gia, mặt khác giúp Việt Nam xây dựng thành công mô hình kinh tế nhiều thành phần vận động theo các quy luật khách quan của thị trường mà Việt Nam đang hướng tới (Tăng Văn Nghĩa, 2016).
Thêm vào đó, nước ta là một nước đang phát triển và đang chuyển đổi sang mô hình kinh tế vận động theo các quy luật khách quan của thị trường nên việc nghiên cứu, áp dụng và thực hiện CTTL trên thực tế đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực. 3 Trong khi đó, nâng cao năng lực và hiệu quả cạnh tranh của DNNN là yếu tố cốt lõi để khối doanh nghiệp thực sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Do đó, để đạt được mục tiêu thiết lập và duy trì nguyên tắc CTTL trên thị trường thì việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nguyên tắc CTTL ở một số nước tiêu biểu và áp dụng vào Việt Nam là hết sức cần thiết. Hiện nay, CTTL đang được các nước phát triển thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đặc biệt quan tâm, nhiều quốc gia đã thành công trong việc đưa nguyên tắc này vào hệ thống chính sách pháp luật như Australia, Tây Ban Nha, Đan Mạch,.
Việt Nam đang phải gặp những thách thức lớn trong việc phát triển cơ sở, nền tảng của kinh tế thị trường hiện đại như xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghệ, vốn, nguồn nhân lực, tạo lập môi trường cạnh tranh… và đặc biệt là đổi mới cạnh tranh của DNNN. Chính vì vậy, việc mở cửa thị trường cho sự tham gia của doanh nghiệp khu vực tư nhân vẫn còn nhiều khó khăn. Các DNNN là những doanh nghiệp lớn, tập trung nhiều nguồn lực dễ dẫn đến tình trạng trì trệ, không được đổi mới do ỷ vào thế được ưu đãi. Ngoài ra, thách thức trực tiếp đặt ra là thiếu khuôn khổ pháp lý cho CTTL tại Việt Nam.
CTTL chưa trở thành một khái niệm chính thức các văn bản pháp lý, hay những tuyên bố chính sách có liên quan ở Việt Nam. Nhiều hành vi cạnh tranh của DNNN sử dụng ưu đãi tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội hoặc không phù hợp với các quy định. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền liên quan chưa thể thích ứng kịp với phương pháp quản lý kinh tế mới, tăng tính tự chủ, tôn trọng tự do cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh công bằng trong phát triển kinh tế quốc gia. Hơn nữa, CTTL đang trở thành một chủ đề ngày càng phổ biến và một nguyên tắc được áp dụng rộng rãi trên thế giới.
Việc duy trì nguyên tắc CTTL trên thị trường giúp một nước có khả năng hội nhập tốt hơn vào sân chơi kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện hiệu suất hoạt động của nền kinh tế. CTTL hiện đang trở thành một yếu tố tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nguyên tắc của CTTL chắc chắn sẽ là một mục tiêu chính sách mà các quốc gia theo đuổi trong tương lai nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh năng động và hiệu quả. Vì những lý do nêu trên và mong muốn đóng góp vào việc nghiên cứu chủ đề CTTL để tìm ra những khả năng ứng dụng tại Việt Nam, tác giả đã quyết định chọn chủ đề “Cạnh tranh trung lập: Những thách thức và khuyến nghị đổi mới cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước” làm đề tài luận án của mình. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Luận án làm rõ cơ sở lý luận, góp phần bổ sung nội dung học thuật về CTTL, chính sách CTTL, vai trò của CTTL đối với hoạt động cạnh tranh trong nền kinh tế thị 4 trường, hội nhập quốc tế và vai trò của DNNN trong nền kinh tế cũng như những thách thức đặt ra đối với DNNN trong điều kiện áp dụng chính sách CTTL, Luận án đưa ra các khuyến nghị đối với DNNN, nhằm đổi mới chiến lược cạnh tranh và tăng cường cạnh tranh hiệu quả dựa trên nguyên tắc của CTTL. Nhiệm vụ nghiên cứu - Chỉ ra những vấn đề lý luận chung, chuyên sâu về cạnh tranh, chính sách cạnh tranh, CTTL, từ đó phân tích vai trò của CTTL trong phát triển kinh tế và hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp đặc biệt là cạnh tranh của DNNN trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và áp dụng chính sách CTTL. - Nêu ra và phân tích thực tiễn xây dựng và áp dụng chính sách CTTL tại một số quốc gia điển hình, đặc biệt là tại những quốc gia trong OECD – các quốc gia có môi trường và chính sách cạnh tranh hiện đại và kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/quan-tri-kinh-doanh/doi-moi-canh-tranh-dnnn-thach-thuc-khuyen-nghi
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Phân tích thách thức và đề xuất giải pháp nâng cao cạnh tranh cho doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam."
Luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" thuộc chuyên ngành Kinh tế. Danh mục: Quản Trị Kinh Doanh.
Luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" có 180 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đổi mới cạnh tranh DNNN: Thách thức & Khuyến nghị" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.