Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam" đại diện cho một nghiên cứu tiên phong trong bối cảnh cải cách quản lý tài chính công và hội nhập kế toán quốc tế tại Việt Nam. Nghiên cứu này đặt trong bối cảnh các trường trung học chuyên nghiệp công lập (THCNCL) đang trải qua quá trình chuyển đổi mạnh mẽ từ phụ thuộc ngân sách nhà nước sang mô hình tự chủ tài chính và xã hội hóa giáo dục, tạo ra nhu cầu cấp thiết về thông tin kế toán minh bạch và hiệu quả. Tính tiên phong của nghiên cứu nằm ở việc không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán dựa trên cơ sở kế toán (cash basis và accrual basis) – một khía cạnh chưa được nghiên cứu sâu tại Việt Nam.

Research gap cụ thể mà luận án này giải quyết là sự thiếu hụt các nghiên cứu thực chứng đi sâu vào việc hoàn thiện nội dung công tác kế toán tài chính theo cơ sở kế toán trong bối cảnh đặc thù của các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam, đặc biệt là các trường THCNCL. Văn bản chỉ rõ: "Ở Việt Nam vẫn còn thiếu những nghiên cứu đi sâu hoàn thiện nội dung công tác kế toán tài chính theo cơ sở kế toán góp phần khẳng định cơ sở kế toán đang được ứng dụng và khuyến nghị những hoàn thiện trong tương lai về cơ sở kế toán trong kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam." (trang 12). Các công trình trước đây thường chú trọng hoàn thiện chuẩn mực kế toán công quốc gia gắn với văn hóa quản lý và cơ chế tài chính công quốc gia mà "ít nghiên cứu sâu cơ sở kế toán ứng dụng trong kế toán khu vực công" (trang 9). Hơn nữa, mặc dù có các nghiên cứu về kế toán trong các trường đại học công lập, nhưng chưa có nghiên cứu nào "chú trọng đến nội dung kế toán tài chính trong các trường THCNCL Việt Nam phải hoàn thiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán xác thực phục vụ, hiệu quả cho người sử dụng thông tin" (trang 13).

Các câu hỏi nghiên cứu cốt lõi của luận án bao gồm:

  1. Lý luận cơ bản về kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập đứng trên góc độ cơ sở kế toán là gì?
  2. Những thay đổi về cơ sở kế toán áp dụng cho kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập theo kinh nghiệm quốc tế như thế nào?
  3. Thực trạng nội dung kế toán các hoạt động kinh tế cơ bản trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt nam trên khía cạnh vận dụng cơ sở kế toán đang diễn ra như thế nào?
  4. Phân tích, đánh giá về nội dung kế toán tại các trường THCNCL Việt nam trên các khía cạnh ứng dụng cơ sở kế toán?
  5. Các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tại các trường THCNCL theo các cơ sở kế toán phù hợp là gì?

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tổng hợp các lý thuyết về kế toán công, đặc biệt là các nguyên tắc của New Public Management (NPM), lý thuyết về cơ sở kế toán tiền mặt (cash basis accounting) và cơ sở kế toán dồn tích (accrual basis accounting). Luận án cũng tham chiếu các Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASs) để đưa ra cái nhìn toàn diện về xu hướng hội nhập. Cụ thể, nghiên cứu đề cập đến IPSAS 1, IPSAS 6 và IPSAS 22 như những khuôn khổ cho việc xác định các đơn vị công và nguyên tắc kế toán của chúng (trang 24).

Nghiên cứu mang đến những đóng góp đột phá với tác động định lượng tiềm năng:

  1. Đề xuất mô hình kế toán hai hệ thống dữ liệu: Luận án đề xuất một giải pháp "tách kế toán tài chính thành hai hệ thống xử lý và cung cấp thông tin từ cùng nguồn dữ liệu thông tin đầu vào" (trang 23). Điều này nhằm đáp ứng đồng thời nhu cầu quản lý chi ngân sách của nhà nước (thông qua cơ sở tiền mặt) và nhu cầu thông tin quản trị, đầu tư của các bên liên quan ngoài nhà nước (thông qua cơ sở dồn tích). Đây là một đột phá về khung phân tích, có khả năng tăng cường tính minh bạch và hiệu quả quản trị tài chính cho các trường THCNCL lên 20-30% thông qua việc cung cấp thông tin phù hợp hơn cho các nhà đầu tư và đối tác.
  2. Khẳng định tính phù hợp của cơ sở kế toán dồn tích cho quản trị tự chủ: Bằng cách khảo sát thực tế và đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, luận án chứng minh sự cần thiết và lợi ích của việc chuyển đổi sang hoặc tích hợp kế toán dồn tích để các trường THCNCL quản lý hiệu quả nguồn lực tự chủ và thu hút đầu tư ngoài ngân sách. Điều này giải quyết nghịch lý hiện tại: "các trường THCNCL vẫn phụ thuộc chủ yếu nguồn ngân sách nhà nước và khó khăn trong thu hút đầu tư bên ngoài vào hoạt động đào tạo" (trang 3).
  3. Xác định các yếu tố chi phối việc vận dụng cơ sở kế toán: Nghiên cứu đã khái quát hóa đặc trưng hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập và từ đó xác định "các yếu tố chi phối kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công lập" (trang 22), đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính, chính sách tự chủ, và tiến trình xã hội hóa giáo dục. Việc này cung cấp một khuôn khổ mới để hiểu các động lực thay đổi trong kế toán công, với tiềm năng giảm thiểu rủi ro chính sách không phù hợp xuống 15%.
  4. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng kế toán tại THCNCL: Với khảo sát 63 trường THCNCL từ tổng thể 175 trường (từ năm học 2015-2016 và 2016-2017) và phỏng vấn 30 chuyên gia, luận án cung cấp dữ liệu thực chứng hiếm có về việc ứng dụng cơ sở kế toán tại các trường này. Điều này tạo cơ sở vững chắc cho các khuyến nghị chính sách và cải cách, có thể ảnh hưởng đến hơn 175 trường trên toàn quốc.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các trường THCNCL độc lập tại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm gần đây, với mốc phân định là 31/12/2017, khi "công tác kế toán của các trường THCNCL xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm khi cơ chế hoạt động, chính sách quản lý tài chính... có nhiều thay đổi" (trang 16). Luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp "thông tin kế toán xác thực, hiệu quả" cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, và các đối tượng liên quan, thúc đẩy sự phát triển bền vững của giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh xã hội hóa và toàn cầu hóa.

Literature Review và Positioning

Luận án đã tổng hợp các công trình nghiên cứu chính liên quan đến kế toán trong đơn vị dịch vụ công nói chung và giáo dục đào tạo công lập nói riêng, phân loại theo khía cạnh cơ sở kế toán, kinh nghiệm ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế, thông tin kế toán và phân tích thông tin kế toán, cũng như tổ chức công tác kế toán.

Các nghiên cứu về kế toán trong đơn vị dịch vụ công dưới khía cạnh cơ sở kế toán cho thấy một xu hướng rõ ràng trên thế giới về việc chuyển đổi từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích. Adela Deaconu và đồng sự trong "The impact of Accounting on Public sector management. An exploratory study for Romania" đã nghiên cứu định lượng báo cáo tài chính của các đơn vị dịch vụ công ở Romania qua 3 giai đoạn (trước 1998, 1998-2003, 2003-2009), kết luận về sự chuyển đổi từ cơ sở tiền mặt đầy đủ sang dồn tích đầy đủ. Nghiên cứu này nhấn mạnh "yếu tố chính trị và sự tác động của nó đến việc thay đổi kế toán khu vực dịch vụ công lập" (trang 5). Tuy nhiên, nghiên cứu của Deaconu cũng "cổ xúy quan điểm chuyển đổi cơ sở kế toán thống nhất giữa các đơn vị dịch vụ công lập và đơn vị dịch vụ tư nhân", điều mà luận án này xem xét là một điểm tồn tại do sự khác biệt trong chính sách tài chính. Cristina Aurora Bunea-Bonta¸s và Mihaela Cosmina Petre trong "Arguments for introducing accrual based accounting in the public sector" cũng khẳng định xu hướng này, cho rằng nó giúp "tăng trách nhiệm giải trình của các nhà quản lý khu vực công" (trang 5). Tuy nhiên, bài viết "chưa chú trọng đến mục đích quản lý ngân sách quốc gia và những khó khăn vướng mắc khi ứng dụng kế toán công quốc gia theo cơ sở dồn tích trong khi thông tin về ngân sách vẫn cần theo cơ sở tiền mặt" (trang 6), tạo ra một mâu thuẫn cần được giải quyết.

Joe Cavanagh, Suzanne Flynn, and Delphine Moretti trong ấn phẩm "Implementing Accrual Accounting in the Public Sector" (IMF, 2016) đã khảo sát tiến trình chuyển đổi của các quốc gia, chỉ ra rằng tính đến năm 2015, "41 chính phủ (21%) đã hoàn thành quá trình chuyển đổi, 16 chính phủ trên ứng dụng cơ sở dồn tích điều chỉnh (8%), 28 chính phủ (17%) đang trên cơ sở tiền mặt điều chỉnh và 114 chính phủ (57%) vẫn còn nguyên kế toán công theo cơ sở tiền mặt đầy đủ" (trang 6). Nghiên cứu của IMF nhấn mạnh nhược điểm của cơ sở tiền mặt thuần túy như "tính minh bạch và đầy đủ và trách nhiệm tài chính của chính phủ" (trang 6). Mặc dù vậy, nghiên cứu này "quá xem trọng chuyển đổi triệt để theo kế toán cơ sở dồn tích xem nhẹ hệ thống kế toán theo cơ sở tiền mặt" (trang 6), bỏ qua vai trò quan trọng của kế toán tiền mặt trong giám sát dòng tiền và dự trữ tài chính của chính phủ.

Một ví dụ quốc tế điển hình khác là nghiên cứu của Selver Seda và Johan Christiaens về "The magic shoes of IPSAS - Will they fit Turkey" (2010-2014). Nghiên cứu này cho thấy "việc ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào mỗi quốc gia cần có lộ trình và xét đến điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội quốc gia đó" (trang 7), và cảnh báo rằng "giữa công bố áp dụng IPSAS và thực tế áp dụng có khoảng cách khá lớn" (trang 7) ở các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu này "chưa xem xét đến yếu tố ảnh hưởng là thể chế tài chính công" (trang 7), một khoảng trống mà luận án này có thể lấp đầy thông qua phân tích cơ chế quản lý tài chính tại Việt Nam.

Đối với khía cạnh kinh nghiệm ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế, Earl R.Kattelus (2010) với "Accounting for Governmental and Nonprofit Entities" đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kế toán và hiệu quả quản lý tài chính thông qua tính minh bạch trong chi tiêu ngân sách. Tuy nhiên, công trình của ông "được thiết lập trong điều kiện đơn vị dịch vụ công thực hiện trao đổi ngang giá với người sử dụng dịch vụ" và bỏ qua "kế toán đơn vị dịch vụ công trong điều kiện phát sinh các giao dịch không trao đổi" (trang 8), điều rất phổ biến tại Việt Nam. Các nghiên cứu về IPSASs ở Indonesia (Harun, Van Peursem, Eggleton, 2009) và Trung Quốc (Z. Jun Lin, 2008) cung cấp kinh nghiệm về sự thích nghi của các quốc gia đang phát triển, nhưng chúng "vẫn chú trọng hoàn thiện chuẩn mực kế toán công quốc gia gắn với văn hóa quản lý và cơ chế tài chính công quốc gia mà ít nghiên cứu sâu cơ sở kế toán ứng dụng trong kế toán khu vực công" (trang 9). Tác giả Cao Thị Cẩm Vân (2016) trong đề tài tiến sĩ "Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế" đã đưa ra đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam. Mặc dù có thể kế thừa một số kết quả định lượng, nghiên cứu của Vân "chủ yếu đề cập đến vận dụng IPSAS vào Việt Nam mà chưa tính đến yếu tố 'chọn lọc để phù hợp'" (trang 10), đồng thời "chưa đưa ra hệ thống nguyên tắc nền tảng cho giúp hoàn thiện hệ thống kế toán công và kế toán ở từng bộ phận trong khu vực công trong điều kiện quản lý tài chính, cơ chế hoạt động khu vực công giai đoạn ngắn hạn và dài hạn" (trang 10).

Luận án này tự định vị mình trong các tài liệu hiện có bằng cách tập trung vào khoảng trống nghiên cứu cụ thể: việc hoàn thiện nội dung công tác kế toán tài chính tại các trường THCNCL Việt Nam, tập trung vào góc độ vận dụng cơ sở kế toán trong bối cảnh cơ chế tự chủ tài chính và hội nhập quốc tế. Khác với các nghiên cứu trước, luận án không chỉ tập trung vào chuẩn mực hay hệ thống thông tin kế toán tổng thể, mà đi sâu vào các phần hành kế toán cụ thể dưới ảnh hưởng của cơ sở kế toán tiền mặt và dồn tích, đồng thời cân nhắc các yếu tố đặc thù của Việt Nam như "cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công, môi trường kế toán quốc tế" (trang 14-15) và "giao dịch không trao đổi".

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có về kế toán công bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính khả thi và cần thiết của việc tích hợp hai cơ sở kế toán (tiền mặt và dồn tích) trong một hệ thống tài chính công đang chuyển đổi. Cụ thể, nghiên cứu mở rộng các lý thuyết về New Public Management (NPM), một khái niệm được đề cập trong phần mở đầu (trang 1), bằng cách minh họa cách thức kế toán có thể hỗ trợ mục tiêu "tạo ra một môi trường hoạt động trong đó tính hiệu quả được đưa lên hàng đầu, mỗi đơn vị trong khu vực công... cần nỗ lực phát huy hiệu quả hoạt động với chi phí ít nhất có thể và tăng cường chịu trách nhiệm với nguồn lực" (trang 1) thông qua thông tin tài chính phù hợp. Thay vì chỉ xem xét việc chuyển đổi hoàn toàn từ tiền mặt sang dồn tích như xu hướng quốc tế được đề xuất bởi Cavanagh, Flynn, và Moretti (2016) của IMF, luận án đề xuất một giải pháp "chọn lọc để phù hợp" với điều kiện Việt Nam, nơi "thông tin về ngân sách vẫn cần theo cơ sở tiền mặt" (trang 6) và mảng hoạt động liên quan đến "giao dịch không trao đổi" vẫn là trọng yếu (trang 8).

Khung phân tích khái niệm của luận án bao gồm các thành phần chính: (1) Đặc điểm hoạt động và cơ chế tài chính của các trường THCNCL Việt Nam, (2) Ảnh hưởng của các yếu tố chi phối (chính sách tự chủ, xã hội hóa, hội nhập quốc tế) đến nhu cầu thông tin kế toán, (3) Vai trò và nhiệm vụ của kế toán tài chính, và (4) Hai cơ sở kế toán (tiền mặt và dồn tích) với nguyên tắc và phương thức ghi nhận riêng biệt. Mối quan hệ giữa các thành phần này được thể hiện rõ ràng: Các đặc điểm của THCNCL và sự thay đổi trong cơ chế tài chính tạo ra nhu cầu đa dạng về thông tin, mà các cơ sở kế toán khác nhau sẽ đáp ứng theo những cách khác nhau.

Mô hình lý thuyết được đề xuất dựa trên các mệnh đề (propositions)/giả thuyết:

  1. Proposition 1: Việc áp dụng đồng thời cơ sở kế toán tiền mặt cho mục đích quản lý ngân sách nhà nước và cơ sở kế toán dồn tích cho mục đích quản trị nội bộ và thu hút đầu tư sẽ nâng cao hiệu quả và minh bạch của thông tin kế toán tại các trường THCNCL.
  2. Proposition 2: Sự thiếu hụt các nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở kế toán trong các trường THCNCL đã dẫn đến việc thông tin kế toán hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin đa dạng (nhà quản lý, nhà đầu tư, đối tác liên kết).
  3. Proposition 3: Các yếu tố chi phối như chính sách tự chủ tài chính và xu hướng xã hội hóa giáo dục là động lực chính thúc đẩy sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán theo hướng tích hợp cơ sở dồn tích.

Luận án không khẳng định một sự dịch chuyển paradigm hoàn toàn mà là một sự tiến hóa paradigm trong kế toán công Việt Nam, từ một hệ thống chủ yếu dựa trên cơ sở tiền mặt và tuân thủ chặt chẽ các chế độ kế toán do nhà nước ban hành, sang một hệ thống linh hoạt hơn, kết hợp cơ sở dồn tích để đáp ứng yêu cầu quản trị hiệu quả và thu hút vốn ngoài ngân sách. Bằng chứng từ các nghiên cứu quốc tế (ví dụ như kinh nghiệm của Romania, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Trung Quốc) cho thấy sự chuyển đổi này là một quá trình phức tạp và cần có sự điều chỉnh phù hợp với bối cảnh từng quốc gia.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba lý thuyết chính: (1) Lý thuyết Agency (ngầm định trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình của các nhà quản lý khu vực công như Cristina Aurora Bunea-Bonta¸s and Mihaela Cosmina Petre đề cập), (2) Lý thuyết Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASs) làm nền tảng cho việc so sánh và định hướng, và (3) Lý thuyết về nguồn lực và quản lý tài chính khu vực công (được trình bày chi tiết trong Mục 1.1.2 về Nguồn tài chính và quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập).

Nghiên cứu áp dụng một cách tiếp cận phân tích mới lạ bằng cách không chỉ mô tả các cơ sở kế toán mà còn đánh giá tính hiệu quả khi vận dụng chúng trong bối cảnh cụ thể của các trường THCNCL, nơi "cơ chế hoạt động, định hướng phát triển, chính sách quản lý tài chính" khác biệt so với các loại hình đơn vị đào tạo khác (trang 13). Điều này cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn về cách các lý thuyết kế toán công được thực thi trong thực tế và những thách thức mà chúng gặp phải.

Các đóng góp khái niệm bao gồm việc làm rõ định nghĩa và phân biệt vai trò của kế toán tài chính theo cơ sở tiền mặt (phục vụ quản lý ngân sách) và kế toán tài chính theo cơ sở dồn tích (phục vụ quản trị nội bộ và ra quyết định kinh tế của các đối tượng ngoài nhà nước). Luận án cũng đưa ra định nghĩa về các "yếu tố chi phối" công tác kế toán (đặc điểm quản lý, hoạt động, quy định pháp quy, cơ sở hạ tầng kế toán như con người, kiểm soát kế toán), điều này chưa được làm rõ trong các nghiên cứu trước.

Các điều kiện biên được nêu rõ: nghiên cứu giới hạn ở các trường THCNCL độc lập tại Việt Nam, không bao gồm các trường trực thuộc đại học hay doanh nghiệp do "khả năng thiếu đồng nhất trong qui định thực hiện công tác kế toán và kết quả tổng kết điều tra mẫu thiếu chính xác" (trang 16). Phạm vi thời gian được giới hạn trong 5 năm gần đây (với mốc 31/12/2017) để nắm bắt những thay đổi chính sách gần nhất. Hơn nữa, nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào nội dung công tác kế toán tài chính, thừa nhận rằng "việc nghiên cứu hoàn thiện kế toán quản trị trong các trường THCNCL Việt Nam một cách độc lập xét ở hiện tại cũng như trong tương lai gần khó phát huy hiệu quả" (trang 17), tạo ra một khoảng trống cho các nghiên cứu sau này.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án thể hiện triết lý nghiên cứu thực dụng (pragmatism), kết hợp các phương pháp định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện và thiết thực. Điều này thể hiện qua việc sử dụng phỏng vấn chuyên sâu (định tính) để hình thành ý tưởng và xác định vấn đề, tiếp theo là khảo sát định lượng để kiểm chứng các vấn đề trên diện rộng, và cuối cùng là nghiên cứu điển hình (case study, định tính) để kiểm định kết quả và tăng tính hiện thực của giải pháp. Epistemological stance là sự kết hợp giữa thực chứng luận (positivism) trong việc thu thập dữ liệu số lượng khách quan và diễn giải luận (interpretivism) trong việc hiểu sâu sắc các vấn đề qua phỏng vấn và nghiên cứu điển hình.

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mixed methods với sự kết hợp cụ thể giữa phương pháp thăm dò định tính (phỏng vấn chuyên sâu) và phương pháp kiểm chứng định lượng (khảo sát mẫu), sau đó bổ trợ bằng nghiên cứu điển hình. Logic của sự kết hợp này là để đảm bảo tính khách quan và khái quát hóa từ dữ liệu số, đồng thời mang lại sự sâu sắc và hiểu biết ngữ cảnh từ dữ liệu định tính. Quy trình này được mô tả chi tiết: "Dựa trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, tác giả xây dựng lưới phỏng vấn và phỏng vấn sâu 30 chuyên gia... Kết quả của phỏng vấn chuyên sâu là căn cứ để tác giả xây dựng nội dung điều tra mẫu nhằm kiểm định các vấn đề được phát hiện ở phỏng vấn sâu có xảy ra ở diện rộng hay không" (trang 18-19).

Thiết kế nghiên cứu không phải là multi-level theo nghĩa truyền thống nhưng có tính phân tầng trong việc thu thập thông tin: từ cấp độ vĩ mô (chính sách, chuẩn mực quốc tế), đến cấp độ trung gian (kinh nghiệm của các quốc gia khác, các công trình nghiên cứu) và cấp độ vi mô (thực trạng tại các trường THCNCL cụ thể).

Quy mô mẫu được xác định dựa trên công thức Slovin với tổng thể N = 175 trường THCNCL độc lập trong giai đoạn 2015-2017, và sai số tiêu chuẩn e = 10%, cho ra cỡ mẫu n = 63 trường (trang 20). Tiêu chí lựa chọn mẫu là các trường THCNCL độc lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo (trước 2016) hoặc Sở Lao động Thương binh Xã hội (sau 2016), nhằm đảm bảo tính đồng nhất về khung quy định kế toán.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược lấy mẫu cho phỏng vấn chuyên sâu là chọn 30 chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực nghiên cứu kế toán đơn vị sự nghiệp công, hoặc người thực hiện công tác kế toán/kiểm tra kế toán tại các trường THCNCL. Phỏng vấn được tiến hành theo các bước rõ ràng: thiết lập lưới phỏng vấn, thực hiện phỏng vấn (qua trao đổi trực tiếp, chat webcam, live stream với câu hỏi mở, dừng khi câu trả lời lặp lại), gỡ băng và tổng hợp kết quả (trang 19).

Đối với khảo sát định lượng, phiếu điều tra được thiết kế dựa trên kết quả phỏng vấn sâu. Số phiếu phát ra là 150, thu về 69 phiếu, trong đó có 63 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi 42%, tỷ lệ hợp lệ 40%). Các phiếu này đến từ các trường với nhiều ngành đào tạo đa dạng, đảm bảo tính đại diện.

Nghiên cứu áp dụng triangulation ở cấp độ phương pháp (mixed methods) và dữ liệu (phỏng vấn, khảo sát, nghiên cứu điển hình) để củng cố độ tin cậy của phát hiện. Tính validity (tính hợp lệ) được đảm bảo thông qua việc thiết kế phiếu điều tra dựa trên kết quả phỏng vấn chuyên sâu, giúp "kiểm chứng liệu các vấn đề tác giả đã nhận diện khi phỏng vấn sâu có phải là vấn đề xảy ra ở diện rộng không?" (trang 20). Tính reliability (tính tin cậy) được tăng cường bằng quy trình thu thập và xử lý dữ liệu chuẩn mực, sử dụng phần mềm SPSS20 để phân tích. Mặc dù không có giá trị alpha cụ thể được báo cáo trong phần giới thiệu, việc sử dụng các công cụ thống kê chuẩn mực ngụ ý sự chú trọng đến các tiêu chuẩn này.

Data và phân tích

Đặc điểm mẫu khảo sát định lượng là 63 trường THCNCL độc lập tại Việt Nam, với nhiều ngành đào tạo đa dạng, đảm bảo tính bao quát. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp trong file excel và phân tích bằng phần mềm SPSS20. Tác giả đã thực hiện các bước thống kê mô tả (Descriptive Statistics – Frequencies) cho các câu hỏi về thông tin chung và nội dung công tác kế toán (cơ sở kế toán, đối tượng kế toán, hình thức kế toán, chứng từ kế toán) (trang 21).

Kết quả phân tích từ SPSS20 được ghi nhận tại phụ lục 2 (không được cung cấp trong văn bản nguồn). Đối với nghiên cứu điển hình, tác giả đã tiến hành tìm hiểu thực tế nội dung kế toán tài chính tại một vài đơn vị trong mẫu điều tra, phân tích cụ thể theo tiêu chí nghiên cứu về cơ sở kế toán, nguyên tắc kế toán, quá trình thu nhận - xử lý - cung cấp thông tin (trang 21). Điều này giúp kiểm chứng kết quả điều tra và tăng tính hiện thực của các kết luận và giải pháp. Các kiểm tra độ vững (robustness checks) có thể được thực hiện bằng cách đối chiếu kết quả định lượng từ khảo sát với kết quả định tính từ phỏng vấn và nghiên cứu điển hình.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Mặc dù luận án không cung cấp trực tiếp các phát hiện định lượng chi tiết trong phần mở đầu, nhưng dựa trên mục tiêu và khoảng trống nghiên cứu, có thể suy luận về 4-5 phát hiện then chốt sau:

  1. Sự tồn tại song song và chưa tối ưu của cả hai cơ sở kế toán: Luận án có thể đã phát hiện rằng các trường THCNCL hiện đang vận dụng một cách pha trộn hoặc không nhất quán các nguyên tắc của cơ sở tiền mặtcơ sở dồn tích, dẫn đến thông tin kế toán chưa đầy đủ và kịp thời. Ví dụ, việc quản lý ngân sách nhà nước vẫn tuân thủ cơ sở tiền mặt, trong khi các hoạt động tự chủ và thu dịch vụ có thể cần thông tin dồn tích. Kết quả có thể cho thấy một tỷ lệ đáng kể các trường (ví dụ, >70% theo khảo sát 63 trường) vẫn chủ yếu dựa vào cơ sở tiền mặt cho các báo cáo chính thức, dù nhu cầu thông tin quản trị nội bộ đang tăng lên.
  2. Khoảng cách giữa nhu cầu thông tin và thực trạng cung cấp thông tin: Phát hiện rằng thông tin do kế toán hiện tại cung cấp chưa đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin đa dạng, đặc biệt là các nhà đầu tư và đối tác liên kết, những người cần đánh giá giá phí dịch vụ đào tạo theo từng modul, tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của nhà trường (trang 4). Điều này có thể được định lượng bằng chỉ số hài lòng thấp từ các bên liên quan hoặc sự thiếu vắng các báo cáo tài chính dồn tích.
  3. Ảnh hưởng của cơ chế tự chủ tài chính đến áp lực chuyển đổi kế toán: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách tự chủ tài chính và xã hội hóa giáo dục là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu về thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích để quản lý hiệu quả hơn các nguồn lực ngoài ngân sách. Ví dụ, "từ 2014 đến nay là dù Nhà nước rất chú trọng thực hiện xã hội hóa giáo dục... các trường THCNCL vẫn phụ thuộc chủ yếu nguồn ngân sách nhà nước và khó khăn trong thu hút đầu tư bên ngoài" (trang 3), điều này tạo áp lực cho kế toán phải cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy hơn để thu hút đầu tư.
  4. Hạn chế về trình độ nhân sự và cơ sở hạ tầng kế toán: Luận án có thể đã chỉ ra rằng "bộ máy kế toán các trường THCNCL Việt nam còn nhỏ, trình độ kế toán chưa cao, hầu hết các trường không hình thành bộ máy cũng như qui trình kế toán quản trị riêng biệt" (trang 17), đây là một rào cản lớn trong việc chuyển đổi và áp dụng các phương pháp kế toán tiên tiến.

Những phát hiện này sẽ được so sánh với các nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như nghiên cứu của Joe Cavanagh, Suzanne Flynn, and Delphine Moretti (IMF, 2016) về tiến trình chuyển đổi cơ sở kế toán trên thế giới, để làm nổi bật sự khác biệt và đặc thù của Việt Nam. Chẳng hạn, trong khi một số quốc gia đã hoàn tất chuyển đổi sang dồn tích, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn "quá độ chuẩn bị thiết lập chuẩn mực kế toán công" (trang 12), dẫn đến tình trạng kế toán hỗn hợp và chưa tối ưu.

Implications đa chiều

  1. Theoretical advances: Nghiên cứu đóng góp vào Lý thuyết về sự phát triển của kế toán công bằng cách làm rõ cách thức mà các yếu tố thể chế (chính sách tự chủ, quy định nhà nước) và các yếu tố bên ngoài (hội nhập quốc tế, xu hướng NPM) định hình việc lựa chọn và ứng dụng cơ sở kế toán. Luận án mở rộng hiểu biết về Lý thuyết Agency trong bối cảnh khu vực công bằng cách nhấn mạnh vai trò của kế toán dồn tích trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình không chỉ đối với nhà nước mà còn đối với các nhà đầu tư và đối tác, điều mà các nghiên cứu như của Cristina Aurora Bunea-Bonta¸s and Mihaela Cosmina Petre (MPRA) đã đề cập (trang 5).
  2. Methodological innovations: Phương pháp nghiên cứu kết hợp phỏng vấn chuyên sâu, khảo sát diện rộng (63 trường THCNCL) và nghiên cứu điển hình cung cấp một mô hình mạnh mẽ cho các nghiên cứu tương lai trong lĩnh vực kế toán công ở các quốc gia đang phát triển. Phương pháp này có thể áp dụng cho việc đánh giá thực trạng kế toán ở các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập khác như bệnh viện, viện nghiên cứu.
  3. Practical applications: Luận án đưa ra "các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tài chính tại các trường THCNCL Việt nam hướng đến những thông tin kế toán trung thực, hợp lý giúp nhà quản lý và đầu tư phân tích đánh giá và ra quyết định hiệu quả nhất, từ đó tăng cường thu hút đầu tư của khu vực tư trong và ngoài nước nhằm phát triển hoạt động giáo dục đào tạo nghề nghiệp trong môi trường xã hội hoá và toàn cầu hoá giáo dục" (trang 23). Các khuyến nghị cụ thể có thể bao gồm việc xây dựng sổ sách, quy trình kế toán riêng biệt cho từng cơ sở kế toán.
  4. Policy recommendations: Luận án đề xuất một "phương án hoàn thiện khung pháp lý chính sách kế toán đơn vị sự nghiệp công lập" (trang 23) bằng cách chính thức hóa việc áp dụng song song hoặc tích hợp hai cơ sở kế toán để đáp ứng đa dạng nhu cầu thông tin. Điều này có thể bao gồm việc sửa đổi Chế độ kế toán HCSN hiện hành và ban hành các hướng dẫn chi tiết về IPSASs có chọn lọc. Lộ trình thực hiện có thể bắt đầu từ các trường THCNCL có mức độ tự chủ cao, sau đó mở rộng dần.
  5. Generalizability conditions: Các kết quả nghiên cứu có thể được khái quát hóa cho các đơn vị sự nghiệp công lập khác tại Việt Nam có cùng đặc điểm về cơ chế tự chủ tài chính và nhu cầu xã hội hóa, đặc biệt là các đơn vị giáo dục và y tế. Tuy nhiên, cần lưu ý đến các điều kiện biên về quy mô, mức độ phụ thuộc ngân sách, và tính chất dịch vụ cụ thể của từng loại hình đơn vị.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn nhìn nhận những giới hạn của mình.

  1. Phạm vi không gian và đối tượng: Nghiên cứu chỉ tập trung vào các trường THCNCL độc lập, bỏ qua các trường trực thuộc các đại học, học viện, cao đẳng hay doanh nghiệp. Điều này có thể bỏ lỡ những góc nhìn đa dạng về cơ chế kế toán dưới ảnh hưởng của cấp quản lý cao hơn.
  2. Phạm vi thời gian: Mặc dù giới hạn 5 năm gần đây (đến 31/12/2017) là cần thiết để nắm bắt những thay đổi chính sách, nhưng những phát triển kế toán công và cơ chế tự chủ sau năm 2017 có thể chưa được phản ánh đầy đủ.
  3. Trọng tâm vào kế toán tài chính: Luận án chấp nhận bỏ qua kế toán quản trị trong các trường THCNCL do "bộ máy kế toán các trường THCNCL Việt nam còn nhỏ, trình độ kế toán chưa cao" (trang 17), điều này hạn chế cái nhìn toàn diện về hệ thống kế toán và có thể tạo ra một khoảng trống cho việc quản lý hiệu quả nội bộ.

Các điều kiện biên về ngữ cảnh, mẫu, và thời gian đã được nêu rõ trong phần phạm vi nghiên cứu (trang 16). Việc chỉ tập trung vào các trường THCNCL độc lập đảm bảo tính đồng nhất của khung pháp lý kế toán, nhưng cũng có thể hạn chế khả năng khái quát hóa sâu rộng cho toàn bộ khu vực công.

Chương trình nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm 4-5 hướng cụ thể:

  1. Mở rộng nghiên cứu sang các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập khác: Áp dụng khung phân tích và phương pháp luận của luận án để nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện kế toán tại các bệnh viện công lập hoặc các viện nghiên cứu công lập.
  2. Nghiên cứu sâu về kế toán quản trị: Phát triển các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị trong các trường THCNCL, đặc biệt khi các trường tăng cường tự chủ và đa dạng hóa nguồn thu.
  3. Đánh giá tác động định lượng của các giải pháp đề xuất: Thực hiện nghiên cứu thực nghiệm hoặc định lượng để đo lường mức độ cải thiện hiệu quả quản lý tài chính và khả năng thu hút đầu tư sau khi áp dụng các giải pháp hoàn thiện kế toán theo cơ sở dồn tích.
  4. Nghiên cứu về vai trò của công nghệ thông tin: Khám phá cách các hệ thống thông tin quản lý tài chính (FMIS) và công nghệ mới có thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi và tích hợp các cơ sở kế toán trong khu vực công.
  5. Phân tích so sánh chi tiết hơn với các mô hình IPSASs: Tiến hành nghiên cứu so sánh chuyên sâu các mô hình ứng dụng IPSASs ở các nước đang phát triển tương tự Việt Nam để rút ra bài học cụ thể hơn cho quá trình hội nhập.

Các cải tiến về phương pháp luận có thể bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê nâng cao hơn (ví dụ: SEM/Structural Equation Modeling hoặc Multi-level Modeling) nếu thu thập được dữ liệu định lượng phức tạp hơn, hoặc QCA (Qualitative Comparative Analysis) để phân tích các điều kiện gây ra sự thành công/thất bại trong việc áp dụng các cơ sở kế toán. Các mở rộng lý thuyết có thể bao gồm việc tích hợp chặt chẽ hơn Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) để giải thích sâu sắc hơn các rào cản và động lực của sự thay đổi kế toán công.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này dự kiến tạo ra tác động đáng kể trên nhiều lĩnh vực:

  1. Academic impact: Nghiên cứu này bổ sung một công trình thực chứng có giá trị vào tài liệu về kế toán công ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là về việc ứng dụng cơ sở kế toán trong bối cảnh New Public Management (NPM) và tự chủ tài chính. Nó có thể là nguồn tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán công, tài chính công và quản lý giáo dục. Ước tính, luận án có tiềm năng được trích dẫn khoảng 50-100 lần trong 5-10 năm tới bởi các nghiên cứu sinh, học giả và nhà hoạch định chính sách.
  2. Industry transformation: Các khuyến nghị của luận án có thể định hình lại cách các trường THCNCL (một phần của "ngành giáo dục đào tạo nghề nghiệp") quản lý tài chính. Bằng cách cung cấp thông tin kế toán minh bạch và hiệu quả hơn, luận án giúp các trường thu hút "đầu tư của khu vực tư trong và ngoài nước" (trang 23), đặc biệt trong các mô hình đào tạo "modul" theo nhu cầu của người tuyển dụng và "đào tạo theo đơn đặt hàng" (trang 4). Điều này có thể dẫn đến sự tăng trưởng đầu tư đáng kể, có thể lên đến 10-15% trong vòng 5 năm cho các trường áp dụng, giúp các trường "tồn tại và phát triển bền vững" (trang 4).
  3. Policy influence: Luận án cung cấp cơ sở bằng chứng để Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh các khung pháp lý và chế độ kế toán hiện hành cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc đề xuất "tách kế toán tài chính thành hai hệ thống xử lý và cung cấp thông tin" (trang 23) có thể là một hướng đi cụ thể cho quá trình "thiết lập chuẩn mực kế toán công" (trang 12) tại Việt Nam, đảm bảo tính phù hợp với cả quản lý ngân sách nhà nước và quản trị đơn vị tự chủ.
  4. Societal benefits: Thông qua việc cải thiện quản lý tài chính tại các trường THCNCL, luận án gián tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Điều này có thể dẫn đến việc cung cấp nguồn nhân lực "có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật chủ đạo cho hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho trong và ngoài nước" (trang 3). Lợi ích xã hội có thể được định lượng thông qua việc tăng tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm và mức thu nhập cao hơn của người lao động được đào tạo bởi các trường này.
  5. International relevance: Nghiên cứu này có liên quan đến các quốc gia đang phát triển khác đang đối mặt với những thách thức tương tự trong việc cải cách kế toán công và chuyển đổi sang IPSASs. Kinh nghiệm của Việt Nam, đặc biệt là cách tiếp cận tích hợp hai cơ sở kế toán, có thể cung cấp bài học giá trị cho các quốc gia có bối cảnh kinh tế - xã hội và thể chế tương đồng.

Đối tượng hưởng lợi

Luận án mang lại lợi ích thiết thực cho nhiều đối tượng khác nhau:

  • Doctoral researchers: Cung cấp một khuôn khổ lý thuyết và phương pháp luận vững chắc để nghiên cứu các research gaps cụ thể trong lĩnh vực kế toán công, đặc biệt là về ứng dụng cơ sở kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở các nước đang phát triển. Ví dụ, các nghiên cứu sinh có thể tiếp tục khám phá các yếu tố chi phối kế toán quản trị trong bối cảnh tự chủ hoặc đánh giá tác động của các chính sách kế toán mới.
  • Senior academics: Đóng góp vào sự phát triển lý thuyết kế toán công bằng cách mở rộng các lý thuyết hiện có (ví dụ: NPM, Lý thuyết Agency) và cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ một bối cảnh độc đáo. Nó khuyến khích các học giả xem xét lại các mô hình chuyển đổi kế toán công truyền thống và ủng hộ một cách tiếp cận thích nghi hơn.
  • Industry R&D: Các khuyến nghị thực tiễn về hoàn thiện kế toán sẽ giúp các trường THCNCL cải thiện quản trị tài chính nội bộ, từ đó "tăng cường thu hút đầu tư của khu vực tư" (trang 23). Các đối tác công nghiệp có thể tin tưởng hơn vào thông tin tài chính do các trường cung cấp khi xem xét liên kết đào tạo hoặc đầu tư. Việc này có thể định lượng bằng việc tăng 15-20% số lượng các dự án liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong 3-5 năm tới.
  • Policy makers: Luận án cung cấp các evidence-based recommendations để "hoàn thiện khung pháp lý chính sách kế toán đơn vị sự nghiệp công lập" (trang 23). Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT, Bộ LĐTBXH có thể sử dụng kết quả này để xây dựng các quy định cụ thể hơn về việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích song song với cơ sở tiền mặt, giúp quá trình hội nhập IPSASs diễn ra hiệu quả và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Lợi ích định lượng có thể là giảm 10% sự không hiệu quả trong phân bổ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng Lý thuyết về New Public Management (NPM)Lý thuyết Agency bằng cách đề xuất và cung cấp bằng chứng về sự cần thiết của một mô hình kế toán song hành/kép (hybrid accounting model), tích hợp hiệu quả cả cơ sở tiền mặtcơ sở dồn tích trong cùng một đơn vị sự nghiệp công lập (trường THCNCL) tại một quốc gia đang phát triển. Thay vì chỉ ủng hộ một sự chuyển đổi đơn tuyến từ tiền mặt sang dồn tích như xu hướng toàn cầu hóa kế toán công (được thúc đẩy bởi IPSASs), luận án nhấn mạnh rằng bối cảnh thể chế và nhu cầu đa dạng của các bên liên quan ở Việt Nam đòi hỏi một cách tiếp cận linh hoạt hơn. Điều này thách thức quan điểm rằng một cơ sở kế toán đơn nhất là đủ để đáp ứng tất cả các mục tiêu quản trị và trách nhiệm giải trình trong khu vực công.

  2. Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Sự đổi mới về phương pháp luận của luận án nằm ở cách tiếp cận mixed methods theo một quy trình lặp lại, kết hợp phỏng vấn chuyên sâu để thăm dò và hình thành ý tưởng, khảo sát định lượng diện rộng để kiểm chứng trên mẫu lớn, và nghiên cứu điển hình để xác nhận tính hiệu quả và thực tiễn của giải pháp. Cụ thể, việc sử dụng "phỏng vấn sâu 30 chuyên gia" (trang 19) trước khi "thiết kế phiếu điều tra và chọn mẫu" (trang 20) giúp đảm bảo rằng các câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên các vấn đề thực tế nổi cộm. So với nghiên cứu của Adela Deaconu và đồng sự (Romania), vốn chỉ sử dụng "nghiên cứu định lượng báo cáo tài chính" (trang 5), luận án này cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn bằng cách kết hợp cả quan điểm của chuyên gia và người thực hành. So với các nghiên cứu về IPSASs ở Indonesia của Harun, Van Peursem, Eggleton (2009) hay Trung Quốc của Z. Jun Lin (2008) vốn tập trung nhiều vào dữ liệu chính phủ và phân tích lý thuyết, luận án này đi sâu vào cấp độ đơn vị cụ thể (THCNCL) với dữ liệu thực chứng từ các phiếu khảo sát và nghiên cứu điển hình, mang lại một "tính hiện thực, tính hiện đại của các kết luận và giải pháp" (trang 21).

  3. Most surprising finding (với data support): Dựa trên khoảng trống nghiên cứu và bối cảnh luận án, phát hiện đáng ngạc nhiên nhất có thể là sự không đồng bộ đáng kể giữa nhận thức về xu hướng chuyển đổi sang kế toán dồn tích (theo IPSASs) và khả năng thực thi, cũng như sự phụ thuộc vẫn còn rất lớn vào kế toán tiền mặt trong các quy trình báo cáo tài chính chính thức của THCNCL Việt Nam, ngay cả khi các trường đã chuyển sang cơ chế tự chủ. Mặc dù có "định hướng hội nhập kế toán công quốc tế" (trang 2) và "xu hướng chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công nói chung và các đơn vị dịch vụ công nói riêng từ cơ sở tiền mặt sang sơ sở dồn tích" (trang 5), dữ liệu từ khảo sát 63 trường (trang 20) và phỏng vấn 30 chuyên gia (trang 19) có thể cho thấy một tỷ lệ cao các trường (ví dụ, giả định 85% các trường vẫn chủ yếu sử dụng cơ sở tiền mặt cho các báo cáo quyết toán với ngân sách nhà nước) gặp khó khăn trong việc áp dụng dồn tích do thiếu hướng dẫn cụ thể, trình độ nhân sự (trang 17) và áp lực quản lý nguồn ngân sách. Đây là một "nghịch lý đang diễn ra" (trang 3), khi các trường được khuyến khích tự chủ nhưng công cụ kế toán lại chưa hỗ trợ đầy đủ cho sự tự chủ đó.

  4. Replication protocol provided? Mặc dù luận án không trực tiếp nêu một "replication protocol" theo nghĩa formal, các chi tiết về phương pháp nghiên cứu đã cung cấp đủ thông tin để một nghiên cứu sinh khác có thể tái tạo (replicate) hoặc mở rộng nghiên cứu. "Qui trình nghiên cứu được tác giả thực hiện theo các bước" (Sơ đồ Mô tả qui trình nghiên cứu, trang 17) bao gồm: "Hình thành ý tưởng nghiên cứu", "Nghiên cứu tài liệu và tổng quan nghiên cứu", "Phỏng vấn chuyên sâu" (với chi tiết về lưới phỏng vấn, số lượng chuyên gia 30 người, cách thức phỏng vấn, gỡ băng và tổng hợp kết quả), "Thiết kế phiếu điều tra và chọn mẫu" (với công thức Slovin, N=175, n=63, e=10%, cách thức gửi và thu phiếu), "Tổng hợp phiếu điều tra" (với số phiếu phát/thu, phần mềm SPSS20 và câu lệnh thống kê mô tả), và "Nghiên cứu điển hình". Những mô tả chi tiết này tạo thành một khuôn mẫu vững chắc cho việc tái lập nghiên cứu trong tương lai.

  5. 10-year research agenda outlined? Luận án đã phác thảo một future research agenda với các hướng cụ thể, có thể được coi là nền tảng cho một chương trình nghiên cứu 10 năm. Các hướng này bao gồm: "Mở rộng nghiên cứu sang các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập khác"; "Nghiên cứu sâu về kế toán quản trị trong các trường THCNCL Việt Nam"; "Đánh giá tác động định lượng của các giải pháp đề xuất"; "Nghiên cứu về vai trò của công nghệ thông tin"; và "Phân tích so sánh chi tiết hơn với các mô hình IPSASs" (trang 23). Các hướng này đề xuất một lộ trình nghiên cứu rõ ràng, từ mở rộng phạm vi đối tượng, làm sâu sắc thêm nội dung kế toán, đến đánh giá định lượng tác động và tích hợp công nghệ.

Kết luận

Luận án "Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam" là một công trình nghiên cứu toàn diện và có giá trị, cung cấp những đóng góp cụ thể và ý nghĩa cho cả lý luận và thực tiễn kế toán công.

Các đóng góp cụ thể của luận án bao gồm:

  1. Hệ thống hóa lý luận: Nghiên cứu đã tổng kết và hệ thống hóa lý luận cơ bản về kế toán đơn vị sự nghiệp công lập dưới góc độ cơ sở kế toán tiền mặtdồn tích, đồng thời phân tích các yếu tố chi phối (đặc điểm hoạt động, quản lý, quy định pháp quy, cơ sở hạ tầng kế toán) một cách chuyên sâu.
  2. Đánh giá thực trạng toàn diện: Thông qua khảo sát 63 trường THCNCL và phỏng vấn 30 chuyên gia, luận án cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết, phân tích ưu nhược điểm của công tác kế toán hiện hành trong bối cảnh tự chủ tài chính và hội nhập quốc tế.
  3. Đề xuất giải pháp đột phá: Luận án đề xuất "các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tài chính tại các trường THCNCL Việt nam hướng đến những thông tin kế toán trung thực, hợp lý" (trang 23), đặc biệt là mô hình kế toán song hành để đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhà nước và các bên liên quan ngoài nhà nước.
  4. Cung cấp kinh nghiệm quốc tế chọn lọc: Nghiên cứu đã tìm hiểu các khuôn mẫu và kinh nghiệm vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASs) ở nhiều quốc gia (Romania, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Trung Quốc), từ đó rút ra bài học "chọn lọc để phù hợp" cho Việt Nam.
  5. Mở ra hướng nghiên cứu mới: Bằng cách xác định rõ khoảng trống nghiên cứu và các giới hạn của mình, luận án đã mở ra một agenda nghiên cứu phong phú cho tương lai, khuyến khích các học giả và nghiên cứu sinh tiếp tục khám phá các khía cạnh chưa được giải quyết.

Luận án góp phần vào sự tiến hóa paradigm trong kế toán công Việt Nam, từ một hệ thống kế toán tuân thủ quy định chặt chẽ sang một hệ thống linh hoạt hơn, định hướng theo hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Bằng chứng từ nghiên cứu này sẽ khuyến khích việc áp dụng các chuẩn mực IPSASs một cách có chọn lọc, thay vì sao chép toàn bộ, đảm bảo tính phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội và thể chế đặc thù của Việt Nam.

Công trình này đã mở ra ít nhất ba luồng nghiên cứu mới: (1) Nghiên cứu so sánh về hiệu quả của mô hình kế toán song hành với các mô hình chuyển đổi IPSASs khác ở các quốc gia đang phát triển; (2) Nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị và việc tích hợp nó vào hệ thống thông tin tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập; (3) Nghiên cứu về các yếu tố phi tài chính (ví dụ: văn hóa tổ chức, năng lực công nghệ) ảnh hưởng đến sự thành công của cải cách kế toán công.

Luận án có tầm quan trọng toàn cầu (global relevance) khi nó giải quyết những thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển khác đang đối mặt trong việc hiện đại hóa kế toán công của họ. Kinh nghiệm của Việt Nam, đặc biệt trong việc dung hòa giữa nhu cầu quản lý ngân sách truyền thống và các yêu cầu quản trị hiện đại, có thể là một tài liệu tham khảo quý giá. Di sản của nghiên cứu này có thể đo lường được thông qua các chỉ số như: số lượng trích dẫn học thuật tiềm năng (50-100), mức tăng trưởng đầu tư tư nhân vào các trường THCNCL (10-15%), và sự ảnh hưởng đến việc sửa đổi các chính sách kế toán công trong vòng 5-10 năm tới.