Luận án: Từ vựng công giáo trong các bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam

Luận án phân tích từ ngữ công giáo trong kinh nguyện các giáo phận dòng Việt Nam. Nghiên cứu ngôn ngữ tôn giáo, ý nghĩa lịch sử và ứng dụng hiện nay.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ tôn giáo

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Số trang

286

Thời gian đọc

43 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Ngôn ngữ và tôn giáo là hai tính chất đặc trưng của xã hội loài người, có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau. Tôn giáo nào cũng cần phải truyền bá các giáo thuyết, tư tưởng, nên ngôn ngữ trở thành công cụ không thể thiếu. Ngược lại, nhờ tham gia vào công tác truyền bá giáo nghĩa mà ngôn ngữ được bảo tồn, phong phú và phát triển. Sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ và tôn giáo sâu đậm đến nỗi giới Ngôn ngữ học phương Tây cho rằng: “Nếu lựa chọn một nhân tố xã hội có thể làm nảy sinh ra những ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với lịch sử ngôn ngữ, và ngược lại cũng chịu ảnh hưởng nhất định của ngôn ngữ thì đó chính là tôn giáo.303] Cho nên, việc nghiên cứu ngôn ngữ tôn giáo là cần thiết và luôn hứa hẹn những khám phá hữu ích. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2009, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo lớn nhất nước với số tín đồ lần lượt là 6.086 người [5, tr. Mỗi tôn giáo, theo cách thế của mình, đều có những đóng góp mang dấu ấn riêng cho văn hóa–xã hội Việt Nam. Phật giáo phát sinh từ Ấn Độ rồi truyền vào Việt Nam theo hai ngả: Nam Tông qua Thái Lan, Bắc Tông qua Trung Quốc, nên mang nhiều nét đặc trưng Á Đông. Công giáo khởi phát từ Trung Á, phát triển mạnh ở châu Âu rồi sau đó trở lại Á châu và vào Việt Nam, nên mang nhiều màu sắc của văn minh phương Tây. Bên cạnh sự ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo trong một quá

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận xưa
Số trang:
286 trang
Chuyên ngành:
Ngôn ngữ tôn giáo
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận xưa

Ngôn ngữ và tôn giáo luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi tôn giáo đều dùng ngôn ngữ để truyền tải tư tưởng và giáo thuyết. Ngược lại, tôn giáo giúp tiếng bản địa bảo tồn và phát triển phong phú. Tại Việt Nam, đạo Công giáo tạo nên dấu ấn văn hóa sâu sắc qua nhiều thế kỷ. Đạo Công giáo du nhập từ phương Tây và hội nhập vào đời sống dân tộc. Các bản văn kinh nguyện lưu giữ hệ thống từ vựng đặc thù. Hệ thống này phản ánh quá trình tiếp biến văn hóa Đông Tây bền bỉ. Nghiên cứu ngôn ngữ kinh nguyện giúp làm sáng tỏ lịch sử tiếng Việt. Văn bản tôn giáo cung cấp nhiều tư liệu quý giá cho ngành ngôn ngữ học. Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận xưa thể hiện rõ nét tư duy đức tin thời kỳ đầu. Lớp từ này vừa có tính học thuật cao vừa mang hơi thở đời sống bình dân. Việc tìm hiểu từ ngữ kinh sách giúp độc giả nắm vững cội nguồn chữ Quốc ngữ.

1.1. Mối liên hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo

Tôn giáo cần ngôn ngữ làm phương tiện truyền bá đức tin. Ngôn ngữ tiếp nhận các khái niệm tôn giáo để mở rộng vốn từ vựng. Sự tương tác này diễn ra liên tục trong lịch sử nhân loại. Công giáo đóng vai trò then chốt trong sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Các nhà truyền giáo dùng mẫu tự Latinh để ghi âm tiếng Việt. Nhờ đó, chữ Quốc ngữ hình thành và hoàn thiện dần theo năm tháng. Văn bản kinh nguyện trở thành nơi lưu trữ các hiện tượng ngôn ngữ cổ xưa. Lời kinh được truyền tụng qua nhiều thế hệ giáo dân. Ngôn từ tôn giáo giữ được tính tôn nghiêm và ổn định rất cao. Nghiên cứu kinh nguyện mở ra góc nhìn mới về văn hóa xã hội Việt Nam. Tôn giáo làm phong phú cách diễn đạt và chiều sâu ngữ nghĩa của tiếng mẹ đẻ.

1.2. Tiến trình hình thành từ vựng qua các thế kỷ

Công giáo truyền vào Việt Nam mang theo tư tưởng triết học Tây phương. Người biên soạn kinh sách phải tìm cách diễn đạt các khái niệm mới mẻ. Quá trình này đòi hỏi sự sáng tạo ngôn ngữ rất công phu. Nhiều từ ngữ mới ra đời để phục vụ việc giải thích giáo lý. Tiếng việt trong kinh bổn công giáo phản ánh rõ sự giao lưu văn hóa thời bấy giờ. Các thừa sai kết hợp từ ngữ dân gian với cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ. Hệ thống từ vựng ban đầu mang đậm dấu vết chữ Quốc ngữ sơ khai. Qua thời gian, các từ ngữ này được gọt giũa và định hình rõ nét. Chúng trở thành bộ phận không thể tách rời trong kho tàng từ vựng tiếng Việt. Lịch sử hình thành từ ngữ kinh nguyện gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc.

II. Thuật ngữ công giáo hán việt trong bản kinh nguyện

Hệ thống kinh nguyện sử dụng nhiều yếu tố Hán Việt phong phú. Lớp từ Hán Việt tạo nên sắc thái trang nghiêm cho lời cầu nguyện hằng ngày. Người xưa mượn gốc từ Hán Việt để chuyển tải các khái niệm thần học phức tạp. Thuật ngữ công giáo hán việt trong bản kinh nguyện chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Những từ ngữ này giúp diễn đạt chính xác các mầu nhiệm đức tin thiêng liêng. Chúng tạo nên sự liên kết văn hóa giữa truyền thống Á Đông và tư tưởng phương Tây. Lớp từ này xuất hiện dày đặc trong các bản dịch kinh điển qua nhiều thế hệ. Việc phân tích cấu trúc từ Hán Việt giúp người đọc hiểu sâu ý nghĩa phụng vụ. Từ ngữ kinh nguyện vừa mang tính trang trọng vừa dễ nhớ đối với cộng đồng giáo dân.

2.1. Cấu trúc và nguồn gốc từ Hán Việt tôn giáo

Từ Hán Việt trong kinh nguyện xuất phát từ hai nguồn cơ bản. Nguồn thứ nhất là các từ ngữ có sẵn trong kho tàng Hán Việt bản địa. Nguồn thứ hai do các học giả tôn giáo sáng tạo từ chữ Hán để dịch thuật ngữ Tây phương. Sách kinh công giáo cổ lưu giữ trọn vẹn lớp từ độc đáo này. Các mô hình từ ghép đẳng lập và chính phụ xuất hiện rất phổ biến. Cách cấu tạo từ tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc ngữ pháp cổ điển. Nhờ đó, thuật ngữ vừa cô đọng vừa chuẩn xác về mặt ý nghĩa tín lý. Lớp từ này giúp các bài kinh có âm hưởng trầm hùng khi cộng đoàn đọc xướng. Người đọc dễ dàng ghi nhớ và truyền thụ qua các thế hệ tín hữu.

2.2. Lớp từ vựng thần học mang tính khái niệm cao

Kinh nguyện chứa đựng nhiều khái niệm giáo lý cốt lõi. Các từ ngữ biểu thị niềm tin tôn giáo và mầu nhiệm cứu độ linh hồn. Từ vựng thần học công giáo tiếng việt được định hình qua quá trình biên dịch công phu. Những thuật ngữ như Cứu chuộc, Ân sủng, Thiên Chúa, Phục sinh mang hàm nghĩa triết học sâu sắc. Chúng phản ánh hệ thống giáo thuyết chặt chẽ của Kitô giáo toàn cầu. Ngôn ngữ kinh nguyện biến các khái niệm trừu tượng thành lời kinh gần gũi. Tín hữu đọc kinh hằng ngày để củng cố đức tin và hiểu biết giáo lý. Lớp từ thần học này góp phần mở rộng khả năng biểu đạt tư tưởng của tiếng Việt hiện đại.

III. Khảo sát kinh nguyện giáo phận hà nội và bùi chu

Miền Bắc là cái nôi đón nhận Công giáo từ những thế kỷ đầu tiên. Hai giáo phận Hà Nội và Bùi Chu có truyền thống kinh hạt lâu đời bậc nhất. Bản kinh của hai giáo phận này lưu giữ nhiều nét văn hóa độc đáo. Lời kinh được xây dựng dựa trên nhạc điệu và vần điệu của tiếng Việt. Giáo dân thường đọc kinh cộng đồng trong các giờ kinh sáng tối mỗi ngày. Sự đồng nhất trong bản văn tạo nên tính kỷ luật tôn giáo rất cao. Khảo sát kinh nguyện giáo phận hà nội và bùi chu giúp làm rõ sự phân hóa ngôn ngữ vùng miền. Mỗi giáo phận sở hữu những biến thể từ ngữ mang sắc thái địa phương riêng biệt. Tuy nhiên, tính thống nhất về mặt đức tin vẫn được bảo toàn nguyên vẹn.

3.1. Đặc trưng ngôn ngữ kinh nguyện giáo phận Hà Nội

Bản văn kinh hạt Hà Nội mang tính chuẩn mực và trang nhã. Lời kinh phản ánh phong cách ngôn ngữ thanh lịch của đất kinh kỳ. Các bậc tiền nhân chọn lọc từ ngữ vô cùng kỹ lưỡng. Kinh toàn niên là cuốn sách kinh phổ biến trong mọi gia đình Công giáo miền Bắc. Kinh nguyện giáo phận hà nội giữ lại nhiều từ cổ giàu sức biểu cảm nghệ thuật. Ngữ điệu kinh nguyện khi cất lên rất trang nghiêm và ấm áp. Lời kinh không chỉ dùng trong nhà thờ mà còn vang lên tại tư gia mỗi tối. Hệ thống kinh nguyện góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt qua nhiều biến cố lịch sử thăng trầm.

3.2. Sắc thái văn phong kinh nguyện giáo phận Bùi Chu

Bùi Chu nổi tiếng với đời sống đạo sầm uất và truyền thống ngắm cung mùa Chay. Lời kinh tại đây mang đậm tính dân gian cùng nhịp điệu lục bát và song thất lục bát. Kinh nguyện giáo phận bùi chu có cấu trúc vần vè chặt chẽ. Giáo dân dễ dàng học thuộc lòng từng câu kinh từ thời thơ ấu. Các bản kinh bổn được lưu truyền qua nhiều đời mà ít bị biến đổi câu chữ. Văn phong kinh nguyện Bùi Chu phản ánh tâm tình mộc mạc của người dân miền duyên hải. Tính cộng đồng thể hiện rõ nét qua các buổi đọc kinh chung tại nhà thờ xứ họ. Ngôn ngữ kinh nguyện trở thành nhịp cầu gắn kết cộng đồng tín hữu bền chặt.

IV. Khảo cứu kinh nguyện giáo tỉnh sài gòn và các miền

Vùng đất phương Nam tiếp nhận Tin Mừng với tâm thế cởi mở và phóng khoáng. Kinh nguyện tại miền Nam mang dấu ấn rõ nét của đời sống khẩn hoang Nam Bộ. Ngôn ngữ kinh sách ở đây giản dị, gần gũi và mộc mạc. Giáo dân phương Nam ưa chuộng cách diễn đạt trực diện và dễ hiểu trong cầu nguyện. Bản văn kinh nguyện chịu ảnh hưởng bởi phương ngữ Nam Bộ qua cách dùng từ tự nhiên. Khảo cứu kinh nguyện giáo tỉnh sài gòn và các miền giúp hiểu rõ sự thích nghi của tôn giáo. Đạo Công giáo hòa mình vào nếp sống và tính cách của con người địa phương. Sự phong phú về phương ngữ làm đa dạng thêm kho tàng kinh nguyện trên toàn quốc.

4.1. Sự đa dạng từ ngữ phụng vụ thánh lễ miền Nam

Phụng vụ miền Nam luôn chú trọng sự thông hiểu trực tiếp của giáo dân. Các linh mục thường dùng từ ngữ mộc mạc khi cử hành nghi thức tôn giáo. Từ ngữ phụng vụ thánh lễ tại các xứ đạo phía Nam phản ánh lối nói tự nhiên thường nhật. Nhiều từ ngữ địa phương được đưa vào lời dẫn giải và bài ca phụng vụ thánh. Kinh nguyện giáo tỉnh sài gòn vì thế mang nét thanh thoát và sinh động đặc trưng. Các bản kinh chú trọng tính thực hành và tinh thần liên đới bác ái. Giáo dân dễ dàng tiếp thu các thông điệp Phúc Âm qua ngôn ngữ hằng ngày. Sự uyển chuyển này tạo nên sức sống mạnh mẽ cho đức tin nơi xứ đạo.

4.2. Dấu tích lịch sử trong sách kinh công giáo cổ

Các bản in kinh sách cổ miền Nam lưu giữ nhiều di sản văn hóa quý báu. Nhà in Tân Định đóng vai trò lớn trong việc xuất bản kinh sách từ cuối thế kỷ 19. Sách kinh công giáo cổ phản ánh rõ quá trình Latinh hóa chữ viết tiếng Việt. Nhiều từ ngữ cổ xưa nay đã biến đổi hoặc không còn sử dụng trong đời thường. Việc đối chiếu các ấn bản qua từng thời kỳ giúp xác định chính xác niên đại văn bản. Nguồn tư liệu sách kinh cho thấy sự phát triển vượt bậc của ngữ âm và ngữ pháp miền Nam. Đây là tài liệu vô giá cho các nhà nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ dân tộc.

V. Chuẩn hóa bản dịch kinh nguyện giáo hội việt nam

Công đồng Vaticanô II mở ra bước ngoặt lớn cho phụng vụ Công giáo toàn cầu. Phụng vụ được phép cử hành bằng tiếng bản xứ thay vì hoàn toàn bằng tiếng Latinh. Nhu cầu dịch thuật và thống nhất bản văn kinh nguyện trở nên vô cùng cấp thiết. Giáo hội bắt tay vào công cuộc chỉnh lý kinh sách trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu hướng tới là tạo ra một ngôn ngữ phụng vụ vừa chính xác vừa hiện đại. Chuẩn hóa bản dịch kinh nguyện giáo hội việt nam giúp xóa bỏ sự dị biệt giữa các giáo phận. Toàn thể tín hữu có thể cùng cất chung một lời kinh trong các đại lễ toàn quốc. Bản dịch mới đòi hỏi sự hài hòa giữa tính trung thực đức tin và sự trong sáng của tiếng Việt.

5.1. Khả năng hội nhập ngôn ngữ vào đời sống xã hội

Từ ngữ Công giáo không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà thờ hay thánh lễ. Nhiều từ ngữ tôn giáo đã đi vào ngôn ngữ toàn dân và văn học nghệ thuật. Tiếng việt trong kinh bổn công giáo làm giàu cho vốn từ biểu đạt tâm linh của người Việt. Các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại thường mượn hình ảnh kinh thánh để sáng tác nghệ thuật. Hiện tượng này chứng minh sự hội nhập sâu rộng của văn hóa Công giáo vào đời sống. Từ ngữ kinh nguyện trở thành một thành tố tự nhiên trong nền văn hóa chung của quốc gia. Nghiên cứu sự giao thoa này giúp đánh giá khách quan đóng góp của tôn giáo cho ngôn ngữ dân tộc.

5.2. Định hướng chuẩn hóa ngôn ngữ kinh toàn niên

Công tác chuẩn hóa kinh sách cần tôn trọng truyền thống và đáp ứng thực tiễn phụng vụ. Việc hiệu đính kinh toàn niên đòi hỏi sự tham gia của các chuyên gia ngôn ngữ và thần học. Bản dịch cần đảm bảo tính thánh thiêng nhưng vẫn phải dễ hiểu đối với giới trẻ hôm nay. Giáo hội cần giữ lại những từ ngữ cổ có giá trị văn hóa và thay thế những từ ngữ gây khó hiểu. Định hướng này giúp lời kinh duy trì sức sống lâu bền trong lòng dân tộc. Một bộ kinh nguyện chuẩn mực sẽ củng cố sự hiệp nhất trong toàn Giáo hội Việt Nam. Đồng thời, công trình này đóng góp thiết thực vào việc chuẩn hóa tiếng Việt đương đại.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.3. Ngữ liệu nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Phương pháp khảo sát văn bản
4.2. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học để tìm hiểu, phân loại và miêu tả các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện
4.2.1. Thủ pháp phân tích chức năng
4.2.2. Thủ pháp phân tích cấu trúc
4.2.3. Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa
4.2.4. Thủ pháp thống kê và phân loại
4.2.5. Thủ pháp phân tích quy chiếu
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Đặt vấn đề
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1. Các nghiên cứu từ ngữ Công giáo trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu từ ngữ Công giáo dưới góc độ Từ vựng học truyền thống
2. CHƯƠNG 2: CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CÁC TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC BẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PHẬN DÒNG TẠI VIỆT NAM
3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC BẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PHẬN DÒNG TẠI VIỆT NAM
4. CHƯƠNG 4: TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TIẾNG VIỆT
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ từ ngữ công giáo trong các bản kinh nguyện của các giáo phận dòng tại việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (286 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Ngôn ngữ và tôn giáo là hai tính chất đặc trưng của xã hội loài người, có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau. Tôn giáo nào cũng cần phải truyền bá các giáo thuyết, tư tưởng, nên ngôn ngữ trở thành công cụ không thể thiếu. Ngược lại, nhờ tham gia vào công tác truyền bá giáo nghĩa mà ngôn ngữ được bảo tồn, phong phú và phát triển. Sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ và tôn giáo sâu đậm đến nỗi giới Ngôn ngữ học phương Tây cho rằng: “Nếu lựa chọn một nhân tố xã hội có thể làm nảy sinh ra những ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với lịch sử ngôn ngữ, và ngược lại cũng chịu ảnh hưởng nhất định của ngôn ngữ thì đó chính là tôn giáo.303] Cho nên, việc nghiên cứu ngôn ngữ tôn giáo là cần thiết và luôn hứa hẹn những khám phá hữu ích.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2009, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo lớn nhất nước với số tín đồ lần lượt là 6.086 người [5, tr. Mỗi tôn giáo, theo cách thế của mình, đều có những đóng góp mang dấu ấn riêng cho văn hóa–xã hội Việt Nam. Phật giáo phát sinh từ Ấn Độ rồi truyền vào Việt Nam theo hai ngả: Nam Tông qua Thái Lan, Bắc Tông qua Trung Quốc, nên mang nhiều nét đặc trưng Á Đông. Công giáo khởi phát từ Trung Á, phát triển mạnh ở châu Âu rồi sau đó trở lại Á châu và vào Việt Nam, nên mang nhiều màu sắc của văn minh phương Tây.

Bên cạnh sự ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo trong một quá trình lịch sử lâu dài, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo tác động vào xã hội-văn hóa Việt Nam đến tận thời hiện đại. Sự tác động này góp phần làm giàu nền văn hóa bản địa và làm nên bộ mặt văn hóa-xã hội Việt Nam ngày nay vừa có những giá trị Á Đông bền vững, vừa có khả năng dễ dàng tiếp cận, tiếp thu các giá trị văn hóa-văn minh phương Tây. Hiện trạng này làm nên lí do quan trọng cho các nghiên cứu về tôn giáo tại Việt Nam nói chung, các giá trị ảnh hưởng đến văn hóa-xã hội của tôn giáo nói riêng, mà trong đó không thể không đề cập đến lĩnh vực 1 ngôn ngữ tôn giáo. Tuy nhiên, tình hình chung cho thấy, lĩnh vực nghiên cứu này tại Việt Nam chưa được chú ý thỏa đáng, nhất là với Công giáo.

Trong khi đó, tôn giáo này có những đóng góp khả dĩ cho tiếng Việt, đặc biệt được coi là có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ. Cho nên, việc nghiên cứu từ ngữ Công giáo tại Việt Nam chắc chắn sẽ mang lại những khám phá hữu ích, không chỉ để hiểu tôn giáo này hơn, nhưng còn thấy được sự phát triển của một bộ phận tiếng Việt, vì từ ngữ Công giáo tại Việt Nam cũng là một phần của từ ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, từ ngữ Công giáo tại Việt Nam là một phạm trù lớn. Chúng tôi lựa chọn phạm trù nhỏ hơn nhưng quan trọng trong đời sống tôn giáo, là từ ngữ trong kinh nguyện, cụ thể là trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.

Qua khảo sát sơ bộ trước khi lựa chọn đề tài, chúng tôi nhận thấy các từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện vừa là các khái niệm giáo lí, thần học…có thể có vai trò như các thuật ngữ, vừa có những đơn vị từ ngữ sử dụng trong đời sống thông thường; vừa có những từ ngữ mang dấu vết lịch sử thời kì đầu chữ Quốc ngữ, vừa có những từ ngữ hiện đại… Lớp từ ngữ này, có thể nói, là hình ảnh khá đầy đủ các đặc trưng của từ ngữ Công giáo tại Việt Nam. Trong bối cảnh các nghiên cứu về từ ngữ Công giáo tại Việt Nam còn rất ít ỏi, đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, không chỉ cho các kết quả nghiên cứu về đặc điểm từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện giúp cho việc hiểu biết và sử dụng kinh nguyện Công giáo; nhưng đồng thời có thể đạt được các kết quả nghiên cứu về đặc điểm của từ ngữ Công giáo tại Việt Nam nói chung, góp phần hướng tới việc chuẩn hóa từ ngữ Công giáo tiếng Việt, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, phát triển các tôn giáo phù hợp với chính sách tôn giáo tại Việt Nam. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam có mục đích xác định và làm rõ các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam với các mục tiêu cụ thể như: 2 - Tìm hiểu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo nghiên cứu, từ đó góp phần xác lập con đường hình thành lớp từ ngữ Công giáo nói chung tại Việt Nam.

- Mô tả các đặc điểm ngôn ngữ học của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam. - Tìm hiểu khả năng hội nhập vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hoạt động của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số tác phẩm văn học Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau: - Tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong và ngoài nước nói chung, tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện, nhất là trong kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam nói riêng. - Xác lập cơ sở lý luận cho luận án, gồm những vấn đề như: Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, từ ngữ và các đặc điểm về từ ngữ vay mượn ,… - Khảo sát các đơn vị ngôn ngữ trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam và xác định các đơn vị từ vựng Công giáo.

- Phân loại và mô tả các đặc điểm ngôn ngữ của các đơn vị từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam. - Tìm hiểu khả năng hoạt động của lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số sáng tác văn học dân gian và một số tác phẩm văn chương Việt Nam. Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu Xuất phất từ quan điểm của ngành Từ vựng học truyền thống, luận án nghiên cứu các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam dưới các phương diện chính như: Sự hình thành và tiếp nhận, các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và hoạt động của các từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt… Cụ thể, luận án nghiên cứu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam. Việc tiếp nhận các từ ngữ Công giáo gốc Ấn Âu diễn ra như thế nào, chịu những tác động biến đổi gì. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo không chỉ cho thấy những đặc điểm chung của từ ngữ tiếng Việt, nhưng còn có những đặc trưng riêng của lớp từ này, qua đó làm nỗi bật sự khác biệt trong mối tương quan với tiếng Việt nói chung và với các biệt ngữ khác, cụ thể là biệt ngữ Phật giáo nói riêng. Dưới cái quan điểm về mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, nghiên cứu hoạt động của từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt thông qua các bản kinh nguyện Dòng tại Việt Nam, biểu thị qua một số sáng tác dân gian và văn chương Việt Nam, cho thấy mối tương quan qua lại giữa của nhóm biệt ngữ Công giáo với tiếng Việt toàn dân trong đời sống tiếng Việt.

Ngữ liệu nghiên cứu Để có nhận xét cách đầy đủ tình hình ngôn ngữ trong một tôn giáo, người ta cần nghiên cứu ngôn ngữ trong nhiều phạm vi khác nhau. Cụ thể với Công giáo, người ta phải nghiên cứu ngôn ngữ của Thánh Kinh, ngôn ngữ của Thần học, ngôn ngữ của Phụng vụ, ngôn ngữ của kinh nguyện, ngôn ngữ của Triết học Công giáo… với khối tư liệu rất lớn. Chúng tôi nhận thấy kinh nguyện chiếm vị trí quan trọng trong các tư liệu trên. Kinh nguyện Công giáo không chỉ đơn thuần thực hiện chức năng cầu nguyện vốn có, nhưng thường hàm chứa nội dung Kinh Thánh, Giáo lý, Giáo luật nên còn mang giá trị giáo dục đức tin và đời sống tôn giáo.

Vì thế, kinh nguyện Công giáo vừa mang tính chất thánh thiêng khi khi thực hành chức năng cầu nguyện, vừa mang tính chất thực tiễn khi thực hiện chức năng giáo dục. Do đó, 4 chúng rất gần gũi và thiết yếu trong đời sống tín hữu. Xét về mặt ngôn ngữ, từ ngữ trong kinh nguyện Công giáo có thể phản ánh tương đối đầy đủ khuôn mặt ngôn ngữ của cộng đồng tôn giáo này. Hiện nay, năm 2020, Việt Nam có 27 giáo phận Công giáo.

Do đặt dưới sự coi sóc của các linh mục dòng thánh Đa Minh từ năm 1757, nên các giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn được gọi là các giáo phận thuộc dòng thánh Đa Minh và gọi tắt là các Giáo phận Dòng. Mảnh đất của các giáo phận này được coi là nôi khai sinh của Công giáo tại Việt Nam, phát triển rất mạnh trong những năm trước biến cố di cứ 1954, tạo nên những nét văn hoá Công giáo phong phú. Các bản kinh nguyện hiện nay tại Việt Nam thường được hình thành trong cộng đồng Công giáo các giáo phận này. Chính vì thế, luận án lựa chọn các bản kinh nguyện của các giáo phận kể trên làm tư liệu nghiên cứu.

Thuật ngữ “bản kinh” được sử dụng theo cách gọi của cuốn kinh nguyện xuất bản đầu tiên (năm 1865) với tên gọi “Bản kinh tụng đọc toàn niên” tương đương với cách gọi thuần Việt “Sách kinh đọc quanh năm” sau này. Như thế, “bản kinh” được hiểu là “sách kinh” như từ ngữ các xuất bản sau đó sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/ngon-ngu-hoc/ngon-ngu-hoc-viet-nam/tu-vuc-cong-giao-trong-kinh-nguyen-giao-phan-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án phân tích từ ngữ công giáo trong kinh nguyện các giáo phận dòng Việt Nam. Nghiên cứu ngôn ngữ tôn giáo, ý nghĩa lịch sử và ứng dụng hiện nay.

Luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ tôn giáo. Danh mục: Ngôn Ngữ Học Việt Nam.

Luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" có 286 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Từ vựng công giáo trong bản kinh nguyện giáo phận Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter