Luận án Tiến sĩ: Ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt - Nguyễn Thị Thanh Hương
Luận án nghiên cứu sâu về ngữ nghĩa, kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Phân tích chuyên sâu.
Năm xuất bản
Số trang
163
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Đặc Điểm Ngữ Nghĩa Tính Từ
- Số trang:
- 163 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Ngôn ngữ học
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Thanh Hương
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Đặc Điểm Ngữ Nghĩa Tính Từ
Tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt là một phần quan trọng của ngôn ngữ. Các tính từ này giúp mô tả số lượng, kích thước, trọng lượng,... của sự vật.
1.1. Khái Quát Về Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm các từ như 'nhiều', 'ít', 'lớn', 'nhỏ',... Những tính từ này giúp người nói mô tả đặc điểm của sự vật.
1.2. Tiêu Chí Nhận Diện Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Tiêu chí nhận diện tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét nghĩa của từ và khả năng kết hợp của từ trong câu.
II. Kết Trị Tính Từ Chỉ Lượng Sự Vật
Kết trị của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt liên quan đến khả năng kết hợp của từ với các từ khác trong câu.
2.1. Mô Hình Kết Trị Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Mô hình kết trị của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét các tham tố và khả năng hiện diện của các tham tố trong câu.
2.2. Đặc Điểm Các Tham Tố Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Đặc điểm các tham tố của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt liên quan đến việc xem xét các yếu tố như số lượng, kích thước, trọng lượng,...
III. Sự Phát Triển Ngữ Nghĩa Tính Từ Chỉ Lượng
Sự phát triển ngữ nghĩa của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt liên quan đến việc mở rộng nghĩa của từ.
3.1. Khát Quát Về Sự Phát Triển Ngữ Nghĩa Của Tính Từ
Sự phát triển ngữ nghĩa của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét các hướng phát triển nghĩa của từ.
3.2. Các Hướng Phát Triển Ngữ Nghĩa Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Các hướng phát triển ngữ nghĩa của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc mở rộng nghĩa của từ để mô tả các đặc điểm khác của sự vật.
IV. Thay Đổi Kết Trị Tính Từ Chỉ Lượng Sự Vật
Thay đổi kết trị của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt liên quan đến việc thay đổi mô hình kết trị của từ.
4.1. Sự Thay Đổi Mô Hình Kết Trị Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Sự thay đổi mô hình kết trị của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét các yếu tố như số lượng, kích thước, trọng lượng,...
4.2. Khả Năng Hiện Diện Của Các Tham Tố Trong Câu
Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu liên quan đến việc xem xét các yếu tố như số lượng, kích thước, trọng lượng,... của sự vật.
V. Kết Luận Về Tính Từ Chỉ Lượng Sự Vật
Kết luận về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt liên quan đến việc tổng kết các đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của từ.
5.1. Tổng Kết Đặc Điểm Ngữ Nghĩa Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Tổng kết đặc điểm ngữ nghĩa của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét nghĩa của từ và khả năng kết hợp của từ trong câu.
5.2. Tổng Kết Kết Trị Của Tính Từ Chỉ Đặc Điểm Về Lượng
Tổng kết kết trị của tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt bao gồm việc xem xét mô hình kết trị của từ và khả năng hiện diện của các tham tố trong câu.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (163 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án này, "Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt," được thực hiện bởi Nguyễn Thị Thanh Hƣơng dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Lan Anh và TS Nguyễn Văn Hiệp, là một công trình nghiên cứu tiên phong trong ngữ pháp tiếng Việt hiện đại. Nghiên cứu này đặt trong bối cảnh khoa học về sự giao thoa ngày càng sâu sắc giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp, đặc biệt là theo đường hướng ngữ pháp chức năng và ngôn ngữ học tri nhận. Trong khi lý thuyết kết trị đã được ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu động từ, và một số nghiên cứu về tính từ trong tiếng Việt đã được thực hiện ở các nhóm như tính từ chỉ mùi vị (Chu Bích Thu, Nguyễn Quỳnh Thu, Nguyễn Thị Huyền) hay màu sắc (Trần Ái Chin), thì nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu đáng kể. Cụ thể, luận án chỉ ra rằng: "nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị có lẽ chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ nhất." Khoảng trống này được giải quyết thông qua một phân tích toàn diện và chuyên sâu, cung cấp một cái nhìn hệ thống về nhóm tính từ quan trọng này.
Mục tiêu chính của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt, đồng thời khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của chúng trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ. Để đạt được mục tiêu này, luận án thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng khung lý thuyết vững chắc về kết trị (khái niệm, tham tố, phân loại, nguyên tắc xác định) và ngữ nghĩa (nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa, chuyển biến ý nghĩa, ý niệm, phạm trù, miền nguồn/đích), cùng với lý thuyết về TTCĐĐVL.
- Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL khi được sử dụng với nghĩa gốc.
- Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và sự thay đổi kết trị tương ứng của nhóm TTCĐĐVL.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hòa của lý thuyết kết trị của L. Tesnière, các quan niệm về ngữ nghĩa từ vựng của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, cùng với các khái niệm cốt lõi của ngôn ngữ học tri nhận như ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, miền nguồn, miền đích của Lakoff. Nghiên cứu này khẳng định một đóng góp đột phá khi "thêm một bước làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau," với những mô hình hóa cụ thể về mối quan hệ này. Đồng thời, nó "góp thêm tiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa," định vị nghiên cứu trong dòng chảy phát triển của ngôn ngữ học toàn cầu.
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào hai phương diện: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của TTCĐĐVL, cũng như mối quan hệ giữa chúng cả mặt tiềm năng và mặt hiện thực hóa. Luận án khảo sát chủ yếu 55 nguồn ngữ liệu đa dạng, bao gồm văn bản khoa học (VBKH) và văn bản nghệ thuật (VBNT), cùng với ngữ liệu thu thập từ giao tiếp hàng ngày. Quy mô và tính chất đa dạng của nguồn ngữ liệu đảm bảo tính khách quan và toàn diện cho các phát hiện. Các đóng góp thực tiễn đáng kể bao gồm việc cung cấp tư liệu giá trị cho nghiên cứu, biên soạn từ điển và giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt là "giúp người nghiên cứu về cú pháp và ngữ nghĩa có được cái nhìn sâu sắc hơn về tính từ" và "góp phần vào việc phân tích, giải thích ngữ nghĩa của tính từ trong việc biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước ngoài."
Literature Review và Positioning
Chương 1 của luận án cung cấp một tổng quan toàn diện về tình hình nghiên cứu ngữ nghĩa và kết trị của từ nói chung, và tính từ tiếng Việt nói riêng, cả trong nước và quốc tế. Về ngữ nghĩa học, luận án tổng hợp các công trình từ thời kỳ tiền cấu trúc luận đến hậu cấu trúc luận, bắt đầu với Michel Bréal (1877) và sơ đồ tam giác nghĩa của C. K. Ogden và I. A. Richards (1923), cũng như cải tiến của G. Ullmann (1962). Các quan niệm về nghĩa của từ được tổng kết thành hai khuynh hướng chính: nghĩa là một bản thể (đối tượng, khái niệm) hoặc nghĩa là một quan hệ (quan hệ của từ với đối tượng/khái niệm), và khuynh hướng thứ ba coi nghĩa là một thực thể tinh thần (Đỗ Hữu Châu [98], Đỗ Việt Hùng [38], Nguyễn Đức Tồn [186], Lê Quang Thiêm [61]). Luận án tán thành quan niệm thứ ba, xem nghĩa là "sự hiểu biết của con người về những sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ mà từ biểu thị." Hiện tượng chuyển nghĩa được phân tích theo ba khuynh hướng: logic học (Paul), tâm lý học (Wundt), và lịch sử (Wellander, Smart), đồng thời tích hợp cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận (Lakoff, Johnson) với ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm.
Tại Việt Nam, các công trình của Đỗ Hữu Châu (1998) với "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng," Nguyễn Thiện Giáp (2001) với tổng hợp các quan niệm về nghĩa, và Lê Quang Thiêm (2007) với "Tập bài giảng về Ngữ nghĩa học" đã đặt nền móng vững chắc cho ngữ nghĩa học tiếng Việt. Đáng chú ý, luận án tham chiếu tới Đỗ Hữu Châu [17, tr.101] về sơ đồ hình tháp nghĩa, một sự cải tiến quan trọng của tam giác nghĩa truyền thống, trong đó từ (trừu tượng) ở đỉnh, và các nhân tố như sự vật, tư duy, người sử dụng, chức năng tín hiệu, cấu trúc ngôn ngữ ở đáy, góp phần làm thành ý nghĩa. Luận án cũng so sánh các hệ thuật ngữ của Đỗ Hữu Châu ("nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái" [18]) và Nguyễn Thiện Giáp ("nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu và nghĩa sở dụng" [34]). Gần đây, các nghiên cứu của Nguyễn Đức Tồn [97], Lý Toàn Thắng [78], Trần Văn Cơ [23], Nguyễn Văn Hiệp [47] đã áp dụng ngôn ngữ học tri nhận để lý giải sự chuyển nghĩa. Nguyễn Mạnh Tiến [88], Bùi Thị Nga [62], Phạm Thị Mỹ Việt [100], Bùi Minh Toán & Lê Thị Lan Anh [95] đã đi sâu vào mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của các từ loại khác. Chẳng hạn, Bùi Minh Toán và Lê Thị Lan Anh [95, tr.591] đã làm rõ rằng "Nghĩa của từ chi phối một cách khá chặt chẽ số lượng và đặc tính của các kết tố cần yếu, đồng thời cũng cho phép sự có mặt của các kết tố khả dĩ."
Về lý thuyết kết trị, luận án bắt đầu với L. Tesnière, người sáng lập lý thuyết này, coi động từ là "thành tố hạt nhân, là cái nút chính của câu," quy định số lượng và đặc tính của các diễn tố và chu tố [dẫn theo 57, tr.26]. Khái niệm kết trị được mở rộng bởi S. Kasnelson, người phân biệt kết trị nội dung và kết trị hình thức, và M. Stepanova, người coi kết trị là "tiềm năng" và "sự hiện thực hóa tiềm năng này" [dẫn theo 57, tr.29], mở rộng phạm vi từ cấp độ từ sang các cấp độ ngôn ngữ khác và từ bình diện cú pháp sang ngữ nghĩa và lôgic. Tại Việt Nam, Cao Xuân Hạo [83] đã đề cập đến vai trò của Tesnière trong "Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng" (2006). Nguyễn Văn Lộc (1995) trong "Kết trị của động từ tiếng Việt" định nghĩa kết trị của động từ là "khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi những thành tố cú pháp... mang ý nghĩa bổ sung nhất định" [34]. Tuy nhiên, công trình này chưa đi sâu vào kết tố tự do. Đinh Văn Đức [31] đã mở rộng khái niệm "ngữ trị" (tương đương kết trị) cho danh từ và tính từ, khẳng định "Ngữ trị của từ loại sẽ là một loại giá trị rộng lớn, không riêng của vị ngữ động từ nữa" [279]. Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiệp [45], Lâm Quang Đông [28], Nguyễn Mạnh Tiến [89], Lê Thị Lan Anh [2], Phạm Quang Trường, Vũ Thị Ngân, Nguyễn Quang Thuấn [98] tiếp tục vận dụng lý thuyết kết trị cho nhiều đối tượng khác. Ví dụ, Phạm Quang Trường, Vũ Thị Ngân, Nguyễn Quang Thuấn [98] đã so sánh đối chiếu sự khác biệt về kết trị của động từ trong tiếng Pháp và tiếng Việt, cho thấy sự đa dạng trong cách ngôn ngữ biểu hiện kết trị qua các nền văn hóa.
Các nghiên cứu về tính từ tiếng Việt bao gồm Chu Bích Thu [84], [85] về cấu trúc nghĩa của tính từ chỉ mùi vị; Nguyễn Thị Dự [27] về tính từ không gian theo hướng tri nhận, so sánh với tiếng Anh; Lê Xuân Bình [12] về tính từ kích thước trong tiếng Việt và tiếng Nga. Các luận văn gần đây như Nguyễn Quỳnh Thu [86] về tính từ chỉ mùi vị và Trần Ái Chin [22] về tính từ chỉ màu sắc đã đề cập đến ngữ nghĩa và kết trị, nhưng tự nhận định rằng "chưa được nghiên cứu sâu" hoặc "chưa thực sự đầy đủ và toàn diện." Luận án này định vị mình là công trình điền vào khoảng trống đó, bằng cách "tiếp tục tìm hiểu sâu và toàn diện hơn về nhóm tính từ này trong mối quan hệ ngữ nghĩa và kết trị," trên cơ sở kế thừa các thành quả hiện có. Nó mở rộng phạm vi nghiên cứu để không chỉ mô tả mà còn giải thích cơ chế phát triển ngữ nghĩa và sự thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong bối cảnh tiếng Việt, so sánh với cách tiếp cận từ các nghiên cứu quốc tế về tính từ (như của Nguyễn Thị Dự về tính từ không gian tiếng Anh-Việt, hay Lê Xuân Bình về tính từ kích thước tiếng Nga-Việt) để làm nổi bật những đặc trưng riêng của tiếng Việt.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án này đưa ra những đóng góp đáng kể trong việc mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có, đặc biệt là trong lĩnh vực kết trị và ngữ nghĩa của từ loại tiếng Việt. Thứ nhất, nó mở rộng lý thuyết kết trị của L. Tesnière bằng cách áp dụng một cách hệ thống vào nhóm từ loại tính từ, một lĩnh vực mà Tesnière chủ yếu tập trung vào động từ. Khác với Tesnière [dẫn theo 57, tr.26] xem động từ là "thành tố hạt nhân, là cái nút chính của câu" quy định các diễn tố, luận án này chứng minh rằng tính từ, đặc biệt là nhóm TTCĐĐVL, cũng sở hữu một mô hình kết trị phức tạp và tương tác chặt chẽ với ngữ nghĩa. Nó khẳng định quan điểm của Đinh Văn Đức [31, tr.279] rằng "Ngữ trị của từ loại sẽ là một loại giá trị rộng lớn, không riêng của vị ngữ động từ nữa. Nó trở thành một loại giá trị ngữ pháp chung có thể ứng dụng cho danh từ và cả tính từ nữa, trong tiếng Việt." Thứ hai, luận án thách thức quan niệm truyền thống về nghĩa từ vựng chỉ dừng lại ở nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái, bằng cách tích hợp sâu sắc các khái niệm từ ngôn ngữ học tri nhận. Nó sử dụng "ý niệm hóa," "ẩn dụ ý niệm," "hoán dụ ý niệm," "miền nguồn," "miền đích" để lý giải "sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL," cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà ý nghĩa của từ được xây dựng và biến đổi trong tâm trí con người. Điều này mở rộng phạm vi của ngữ nghĩa học từ vựng, đưa nó vượt ra khỏi khuôn khổ cấu trúc luận truyền thống. Thứ ba, luận án đề xuất một khung lý thuyết cụ thể về mối quan hệ tương tác giữa ngữ nghĩa và kết trị. Dựa trên phân tích, luận án chứng minh "ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị" và "thông qua mô hình kết trị thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ được bộc lộ." Điều này không chỉ làm rõ thêm lý thuyết kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác mà còn đóng góp vào "minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa." Các mô hình kết trị được đề xuất, như "Hình 2.2: Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc" và "Hình 3.2: Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa," là những đóng góp cụ thể, cho thấy cấu trúc và mối quan hệ giữa các tham tố.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp một cách độc đáo các lý thuyết khác nhau để tạo ra một cách tiếp cận đa chiều và chuyên sâu. Nó kết hợp Lý thuyết kết trị (L. Tesnière, Nguyễn Văn Lộc), Ngữ nghĩa học từ vựng (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp) và Ngôn ngữ học tri nhận (Lakoff, Johnson) để phân tích đặc điểm của nhóm TTCĐĐVL. Sự tích hợp này không chỉ giúp mô tả các thuộc tính cố hữu của tính từ mà còn giải thích các cơ chế nhận thức đằng sau sự biến đổi nghĩa và kết trị của chúng. Luận án đề xuất một phương pháp phân tích mới lạ, kết hợp phương pháp miêu tả với phương pháp phân tích cú pháp, thủ pháp thống kê - phân loại, mô hình hóa và so sánh. Cụ thể, thủ pháp mô hình hóa được sử dụng để "xác lập mô hình kết trị của nhóm tính từ trong hệ thống cũng như trong hoạt động hành chức," mang lại cái nhìn trực quan và có cấu trúc về các mối quan hệ ngữ pháp-ngữ nghĩa. Điều này khác biệt so với các nghiên cứu trước đây thường chỉ tập trung vào một hoặc hai khía cạnh mà ít khi tích hợp toàn diện. Các đóng góp khái niệm bao gồm việc làm rõ các định nghĩa về "tham tố" trong ngữ cảnh tính từ tiếng Việt, phân biệt "tham tố chỉ chủ thể mang đặc điểm về lượng," "tham tố chỉ mức độ, sắc thái," và "tham tố chỉ sự so sánh," cùng với việc mô hình hóa "khả năng hiện diện của các tham tố trong câu." Ví dụ, trong trường hợp "Cỏ xanh rời rợi" [224], tính từ "xanh" đòi hỏi "tham tố chỉ chủ thể mang màu sắc 'cỏ'" và "tham tố chỉ mức độ, sắc thái của màu sắc 'rời rợi'," minh họa rõ ràng các thành phần tham tố cụ thể. Các điều kiện biên được nêu rõ, giới hạn phạm vi nghiên cứu trong nhóm tính từ "chỉ đặc điểm về lượng của sự vật" trong tiếng Việt, dựa trên ngữ liệu cụ thể từ VBKH và VBNT, cũng như giao tiếp hàng ngày. Điều này giúp định hình rõ ràng ranh giới và tính khả thi của nghiên cứu, đồng thời tạo cơ sở cho các nghiên cứu mở rộng trong tương lai về các nhóm tính từ khác hoặc so sánh liên ngôn ngữ.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án này thể hiện một triết lý nghiên cứu thực chứng (positivism) trong cách tiếp cận hệ thống và khách quan để mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị. Tuy nhiên, việc tích hợp sâu sắc ngôn ngữ học tri nhận với các khái niệm như ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm cho thấy một sự mở rộng sang hướng kiến tạo (constructivism) hoặc hiện thực phê phán (critical realism), thừa nhận vai trò của nhận thức con người trong việc kiến tạo và biến đổi ý nghĩa. Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp một cách tinh tế. Mặc dù tập trung chủ yếu vào phương pháp miêu tả và phân tích định tính về ngữ nghĩa và kết trị, luận án cũng kết hợp phương pháp thống kê - phân loại để lượng hóa và khách quan hóa các ngữ liệu. Việc "thống kê lượng từ ngữ, phân loại nhóm TTCĐĐVL của sự vật" trên cơ sở "đặc điểm giống nhau về ngữ nghĩa, kết trị" là minh chứng cho sự kết hợp định tính và định lượng một cách hợp lý. Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ được thể hiện qua việc phân tích tính từ ở cấp độ từ (nghĩa gốc, nghĩa chuyển), cấp độ câu (mô hình kết trị, tham tố), và cấp độ văn bản (so sánh trong VBKH và VBNT). Cụ thể, luận án khảo sát 55 nguồn ngữ liệu, bao gồm các văn bản thuộc hai phong cách khác nhau là VBKH và VBNT, cùng với ngữ liệu từ giao tiếp hàng ngày. Điều này cho phép phân tích sự biến đổi của tính từ trong các ngữ cảnh chức năng và phong cách đa dạng, cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tính chất hành chức của chúng. Kích thước mẫu (sample size) bao gồm "55 nguồn ngữ liệu" đa dạng. Tiêu chí lựa chọn mẫu là sự xuất hiện đa dạng của nhóm TTCĐĐVL trong các thể loại văn bản, với ưu tiên hai loại hình văn bản có tần số sử dụng cao và đặc thù phong cách khác nhau (VBKH và VBNT) để phù hợp với mục đích nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu của luận án bao gồm việc thu thập ngữ liệu từ các văn bản khoa học và nghệ thuật, cùng với việc bổ sung từ thực tế giao tiếp hàng ngày. Tiêu chí bao gồm các tính từ "chỉ đặc điểm về lượng của sự vật," được nhận diện thông qua các tiêu chí ngữ pháp và ngữ nghĩa cụ thể (mô tả trong Chương 2). Giao thức thu thập dữ liệu dựa trên việc đọc, khảo sát các nguồn ngữ liệu đã chọn lọc để trích xuất các câu hoặc cụm từ chứa TTCĐĐVL. Các ngữ liệu này sau đó được phân tích thủ công để xác định nghĩa gốc, các hướng phát triển ngữ nghĩa, và mô hình kết trị tương ứng, cũng như các tham tố. Công cụ thu thập dữ liệu chính là khả năng phân tích ngôn ngữ sâu sắc của nhà nghiên cứu. Tam giác hóa được áp dụng thông qua:
- Tam giác hóa dữ liệu: Sử dụng ngữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau (VBKH, VBNT, giao tiếp hàng ngày) để đảm bảo tính đại diện và khách quan của các phát hiện.
- Tam giác hóa phương pháp: Kết hợp phương pháp miêu tả, phân tích cú pháp, thống kê - phân loại và mô hình hóa, giúp kiểm chứng và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình phân tích.
- Tam giác hóa lý thuyết: Tích hợp lý thuyết kết trị, ngữ nghĩa học từ vựng và ngôn ngữ học tri nhận, cho phép nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ lý thuyết khác nhau. Tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của nghiên cứu được đảm bảo thông qua quy trình phân tích rõ ràng, minh bạch và có hệ thống. Tính hợp lệ cấu trúc (construct validity) được củng cố bằng việc định nghĩa rõ ràng các khái niệm như "kết trị," "tham tố," "nghĩa biểu vật," "ẩn dụ ý niệm," và áp dụng chúng một cách nhất quán. Tính hợp lệ nội tại (internal validity) được duy trì bằng cách thiết lập mối quan hệ nhân quả hợp lý giữa ngữ nghĩa và kết trị, với sự chi phối của ngữ nghĩa đối với kết trị được chứng minh. Tính hợp lệ bên ngoài (external validity) được tăng cường nhờ việc sử dụng ngữ liệu đa dạng từ các phong cách ngôn ngữ khác nhau, từ đó cho phép khái quát hóa các phát hiện đến các ngữ cảnh rộng lớn hơn của tiếng Việt.
Data và phân tích
Đặc điểm mẫu dữ liệu được trình bày chi tiết trong Chương 2 và Chương 3 của luận án. Bảng 2.1 cung cấp "Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt," cho thấy một tập hợp các từ đã được xác định. Bảng 2.2 thể hiện "Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc," và Bảng 3.1 thống kê các tham tố khi tính từ phát triển nghĩa, cung cấp các số liệu cụ thể về tần suất và loại hình tham tố. Kỹ thuật phân tích dữ liệu tiên tiến bao gồm việc xây dựng "Mô hình kết trị" (Hình 2.2 và Hình 3.2), giúp trực quan hóa mối quan hệ giữa tính từ và các tham tố của nó. Dù không sử dụng các phần mềm thống kê phức tạp như SEM hay multilevel modeling, luận án sử dụng kỹ thuật "thống kê - phân loại" để xử lý ngữ liệu, phân tích tần suất xuất hiện và đặc điểm ngữ nghĩa của các tham tố. Các kiểm tra tính vững chắc (robustness checks) được thực hiện thông qua việc so sánh ngữ liệu từ hai loại văn bản khác nhau (VBKH và VBNT) để xác định "những điểm tương đồng, khác biệt về ngữ nghĩa cũng như về kết trị của nhóm TTCĐĐVL." Điều này đảm bảo rằng các phát hiện không chỉ đúng trong một ngữ cảnh hẹp mà có tính khái quát hơn. Trong các kết quả phân tích, luận án chỉ rõ các "tính từ chỉ đặc điểm về lượng" như "lớn, nhỏ, ít, nhiều, đầy, vơi, cao, thấp, rộng, hẹp, dài, ngắn," v.v., và các biến thể ngữ nghĩa của chúng. Ví dụ, phân tích ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng sự vật và biểu thị số lượng sự vật. Các mô hình kết trị được trình bày cụ thể cho thấy cách các tham tố (chủ thể mang đặc điểm về lượng, mức độ, sắc thái) tương tác với tính từ trung tâm.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đạt được 4-5 phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:
- Phân loại và mô hình hóa hệ thống TTCĐĐVL: Luận án đã thành công trong việc "Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt" (Chương 2) và xây dựng "Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt" (Bảng 2.1). Đặc biệt, nghiên cứu đã đề xuất các mô hình kết trị rõ ràng cho nhóm tính từ này khi dùng với nghĩa gốc (Hình 2.2) và khi phát triển nghĩa (Hình 3.2), điều chưa từng được thực hiện một cách toàn diện. Các mô hình này thể hiện cấu trúc ngữ nghĩa và cú pháp của tính từ, bao gồm các tham tố bắt buộc và tự do, cho thấy tính hệ thống trong hoạt động hành chức.
- Mối quan hệ chi phối giữa ngữ nghĩa và kết trị: Luận án chứng minh một cách chặt chẽ rằng "ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị" của TTCĐĐVL. Các phát hiện cho thấy sự phát triển ngữ nghĩa (từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển thông qua ẩn dụ và hoán dụ ý niệm) luôn kéo theo "Sự thay đổi mô hình kết trị" và "Sự thay đổi các tham tố" (Chương 3). Điều này được minh họa qua các ví dụ ngữ liệu cụ thể từ VBKH và VBNT, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho mối quan hệ tương tác này, củng cố quan điểm của Bùi Minh Toán và Lê Thị Lan Anh [95, tr.591].
- Khám phá các hướng phát triển ngữ nghĩa dựa trên tri nhận: Luận án đã xác định "Các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt" (Chương 3), lý giải thông qua các cơ chế của ngôn ngữ học tri nhận như ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm. Ví dụ, một tính từ chỉ "nhiều" về lượng vật lý có thể chuyển sang "nhiều" về cảm xúc hoặc mức độ trừu tượng. Sơ đồ "Hình 3.1: Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt" minh họa trực quan các con đường này. Điều này làm sáng tỏ cách người Việt tri nhận và khái niệm hóa lượng trong nhiều miền ý niệm khác nhau.
- Phát hiện các hiện tượng ngữ nghĩa mới lạ: Nghiên cứu đã chỉ ra những "biến đổi và chuyển hóa trên nhiều bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa tương đối phức tạp nhưng cũng đầy lý thú" của nhóm tính từ này. Đặc biệt, có những trường hợp tính từ chỉ lượng không chỉ đơn thuần biểu thị số đếm hay kích thước mà còn mang các sắc thái biểu thái hoặc tham gia vào các cấu trúc liên hội đặc biệt trong VBNT. Điều này có thể bao gồm các kết quả phản trực giác (counter-intuitive results) nơi nghĩa chuyển trở nên phổ biến hơn nghĩa gốc trong một số ngữ cảnh nhất định, thể hiện tính linh hoạt và động của hệ thống từ vựng tiếng Việt.
- So sánh với các nghiên cứu trước: Các phát hiện của luận án được so sánh với các công trình về tính từ của Chu Bích Thu (tính từ mùi vị), Nguyễn Thị Dự (tính từ không gian), Lê Xuân Bình (tính từ kích thước). Trong khi các nghiên cứu trước đã chỉ ra các mô hình chuyển nghĩa hoặc kết trị của các nhóm tính từ cụ thể, luận án này khác biệt ở chỗ nó không chỉ mô tả mà còn lý giải cơ chế tri nhận đằng sau sự phát triển ngữ nghĩa và mô hình hóa một cách hệ thống sự thay đổi kết trị của TTCĐĐVL. Ví dụ, Chu Bích Thu [84, 85] phân loại tính từ mùi vị, nhưng luận án này đi sâu vào cách TTCĐĐVL tạo ra các mô hình valency đặc trưng khi nghĩa thay đổi.
Implications đa chiều
Các phát hiện của luận án mang lại những ý nghĩa sâu sắc trên nhiều bình diện:
- Tiến bộ lý thuyết: Luận án đóng góp vào việc "làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau," mở rộng ứng dụng lý thuyết kết trị ngoài động từ sang tính từ. Nó củng cố đường hướng ngữ pháp hiện đại "ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa," đặc biệt qua lăng kính ngôn ngữ học tri nhận, cung cấp bằng chứng cho tính nghiệm thân của ngôn ngữ trong việc khái niệm hóa lượng. Nó cũng cung cấp một cơ sở vững chắc cho các lý thuyết về sự thay đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp, đặc biệt là trong các ngôn ngữ có kiểu hình như tiếng Việt.
- Đổi mới phương pháp luận: Phương pháp tiếp cận tổng hợp giữa cấu trúc luận, chức năng luận và tri nhận luận, cùng với thủ pháp mô hình hóa, có thể được áp dụng để nghiên cứu các từ loại khác hoặc các hiện tượng ngữ pháp-ngữ nghĩa phức tạp trong tiếng Việt và các ngôn ngữ khác, đặc biệt là các ngôn ngữ phân tích. Phương pháp so sánh ngữ liệu từ VBKH và VBNT cũng là một đổi mới đáng giá cho việc nghiên cứu hành chức ngôn ngữ.
- Ứng dụng thực tiễn: Luận án cung cấp các kiến thức nền tảng quan trọng cho việc "biên soạn từ điển" và "sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước ngoài." Các mô tả chi tiết về ngữ nghĩa gốc, nghĩa chuyển và mô hình kết trị của TTCĐĐVL sẽ giúp người học và người dạy tiếng Việt hiểu sâu hơn về cách sử dụng chính xác và sắc thái của nhóm từ này. Ví dụ, người học ngoại ngữ sẽ hiểu rõ hơn cách "đầy" trong "đầy nước" khác với "đầy hy vọng" như thế nào, và các tham tố đi kèm.
- Khuyến nghị chính sách: Các phát hiện về sự phức tạp và đa dạng trong việc biểu thị lượng có thể ảnh hưởng đến việc xây dựng các chuẩn mực ngôn ngữ, tài liệu giảng dạy chính thức, và các công cụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên cho tiếng Việt. Ví dụ, việc nhận diện và phân tích chính xác TTCĐĐVL là nền tảng cho việc phát triển các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) hiểu và tạo ngôn ngữ tiếng Việt tự nhiên hơn.
- Điều kiện tổng quát hóa: Các kết luận của luận án có thể được tổng quát hóa cho các ngôn ngữ phân tích khác có cấu trúc tương tự tiếng Việt, đặc biệt là trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của tính từ. Tuy nhiên, cần lưu ý đến "boundary conditions về context/sample/time," tức là tính đặc thù của văn hóa và nhận thức của người Việt có thể ảnh hưởng đến một số con đường phát triển ngữ nghĩa cụ thể, không hoàn toàn giống với các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh hay tiếng Nga.
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số hạn chế cụ thể để duy trì tính khách quan và khoa học. Thứ nhất, mặc dù đã sử dụng "55 nguồn ngữ liệu" đa dạng từ VBKH và VBNT, cũng như từ giao tiếp hàng ngày, quy mô của ngữ liệu vẫn có thể chưa bao quát hết mọi ngữ cảnh và biến thể phong cách mà nhóm TTCĐĐVL xuất hiện. Điều này có thể bỏ lỡ một số sắc thái ngữ nghĩa hoặc mô hình kết trị ít phổ biến. Thứ hai, "boundary conditions về context/sample/time" cần được lưu ý. Luận án tập trung vào tiếng Việt tại thời điểm nghiên cứu (2020), do đó các phát triển ngữ nghĩa hoặc thay đổi kết trị của TTCĐĐVL trong các giai đoạn lịch sử khác của tiếng Việt, hoặc trong các biến thể vùng miền, chưa được khảo sát sâu. Thứ ba, việc phân tích ngữ liệu chủ yếu dựa trên phương pháp miêu tả và phân tích cú pháp thủ công. Mặc dù đã áp dụng thủ pháp thống kê - phân loại, nhưng việc thiếu các kỹ thuật phân tích định lượng phức tạp hơn (ví dụ: các mô hình hồi quy đa cấp, phân tích yếu tố xác nhận) có thể hạn chế khả năng khám phá các mối quan hệ đa biến tiềm ẩn giữa ngữ nghĩa và kết trị. Thứ tư, mặc dù đã tích hợp ngôn ngữ học tri nhận, luận án chưa thể đi sâu vào các thí nghiệm tâm lý ngôn ngữ để kiểm chứng trực tiếp các giả thuyết về "ý niệm hóa," "ẩn dụ ý niệm," "hoán dụ ý niệm" trong quá trình nhận thức của người bản ngữ, vốn đòi hỏi các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chuyên biệt.
Chương trình nghiên cứu tương lai có thể bao gồm 4-5 hướng cụ thể:
- Mở rộng khảo sát ngữ liệu: Tiến hành nghiên cứu trên các kho ngữ liệu lớn hơn (corpus linguistics) sử dụng công cụ tính toán để bao quát hàng triệu từ, cho phép xác định chính xác hơn các tần suất, collocations (tổ hợp từ), và các mô hình kết trị phức tạp của TTCĐĐVL trong nhiều thể loại và thời kỳ.
- So sánh liên ngôn ngữ: Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu về TTCĐĐVL trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, đặc biệt là các ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau (ví dụ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc) để làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt trong cách các nền văn hóa khái niệm hóa và biểu thị lượng, cũng như cơ chế chuyển nghĩa. Việc này sẽ mở rộng phạm vi của nghiên cứu của Nguyễn Thị Dự và Lê Xuân Bình.
- Nghiên cứu sâu về các yếu tố ngữ dụng: Khám phá vai trò của ngữ cảnh giao tiếp, ý định của người nói, và đặc điểm của người tiếp nhận trong việc lựa chọn và giải thích nghĩa của TTCĐĐVL, đặc biệt là các trường hợp có sắc thái biểu thái hoặc hàm ý. Điều này sẽ bổ sung cho khía cạnh ngữ nghĩa – ngữ pháp đã được nghiên cứu.
- Kiểm chứng bằng thực nghiệm tâm lý ngôn ngữ: Thiết kế các thí nghiệm thực nghiệm để kiểm tra các giả thuyết về cơ chế tri nhận, ẩn dụ ý niệm, và hoán dụ ý niệm của nhóm TTCĐĐVL trong tâm trí người Việt bản ngữ, cung cấp bằng chứng tâm lý học cho các phát hiện ngữ nghĩa.
- Ứng dụng vào xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP): Phát triển các mô hình tính toán dựa trên kết quả của luận án để cải thiện độ chính xác trong phân tích cú pháp, dịch máy, và sinh ngôn ngữ tự nhiên cho tiếng Việt, đặc biệt là trong việc xử lý các tính từ đa nghĩa và có kết trị phức tạp.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án này dự kiến sẽ có tác động và ảnh hưởng đáng kể trên nhiều lĩnh vực:
- Tác động học thuật: Với việc làm rõ "lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau," luận án dự kiến sẽ trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng trong ngôn ngữ học tiếng Việt. Các mô hình kết trị và các hướng phát triển ngữ nghĩa được đề xuất có thể trở thành nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về từ loại và ngữ pháp. Luận án có tiềm năng được trích dẫn rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngữ nghĩa học, ngữ pháp học chức năng, và ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam và quốc tế, ước tính hàng chục đến hàng trăm lượt trích dẫn trong 5-10 năm tới.
- Chuyển đổi công nghiệp: Các phát hiện của luận án có thể góp phần vào việc phát triển các công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) cho tiếng Việt, đặc biệt trong các lĩnh vực yêu cầu sự hiểu biết sâu sắc về ngữ nghĩa và cú pháp. Các ngành công nghiệp như dịch máy tự động, trợ lý ảo, phân tích cảm xúc văn bản, và biên soạn từ điển điện tử có thể hưởng lợi từ việc phân loại và mô hình hóa chi tiết TTCĐĐVL. Ví dụ, việc hiểu rõ các tham tố của tính từ như "nhiều" sẽ giúp AI phân biệt "nhiều người" với "nhiều tiền" và tạo ra các câu đúng ngữ pháp, tự nhiên hơn.
- Ảnh hưởng chính sách: Kết quả nghiên cứu có thể được tham khảo trong quá trình xây dựng và cập nhật chương trình giảng dạy ngôn ngữ ở các cấp độ giáo dục (trường phổ thông, đại học), đặc biệt là môn tiếng Việt và ngôn ngữ học. Nó có thể ảnh hưởng đến việc phát triển các tài liệu giáo khoa, sách tham khảo ngữ pháp, và từ điển tiếng Việt, giúp chuẩn hóa và làm rõ hơn cách sử dụng các tính từ chỉ đặc điểm về lượng.
- Lợi ích xã hội: Bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về sự phức tạp của tiếng Việt, luận án góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vẻ đẹp và sự tinh tế của ngôn ngữ mẹ đẻ. Nó hỗ trợ việc bảo tồn và phát triển tiếng Việt, giúp người Việt Nam sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và hiệu quả hơn. Đặc biệt, đối với người nước ngoài học tiếng Việt, việc hiểu rõ nhóm tính từ này sẽ giảm thiểu lỗi sai và tăng cường khả năng giao tiếp.
- Liên quan quốc tế: Luận án không chỉ có giá trị trong nước mà còn mang tính liên quan quốc tế. Bằng cách so sánh và đối chiếu các phát hiện với các nghiên cứu tương tự trên thế giới (như các công trình của Nguyễn Thị Dự về tính từ không gian tiếng Anh-Việt và Lê Xuân Bình về tính từ kích thước tiếng Nga-Việt), nó đóng góp vào kho tri thức chung của ngôn ngữ học toàn cầu về cách các ngôn ngữ khác nhau thể hiện và khái niệm hóa lượng, từ đó làm phong phú lý thuyết về điển hình ngôn ngữ và đa dạng ngôn ngữ.
Đối tượng hưởng lợi
Luận án này hướng đến việc mang lại lợi ích cho nhiều đối tượng khác nhau trong cộng đồng học thuật và xã hội:
- Các nhà nghiên cứu tiến sĩ (Doctoral researchers): Luận án cung cấp một mô hình nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ ngữ nghĩa - kết trị của một nhóm từ loại cụ thể, từ đó mở ra "3-4 specific limitations acknowledged" và "4-5 concrete directions" cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khám phá các nhóm tính từ khác (như tính từ chỉ trạng thái, tính từ chỉ chất lượng) theo cùng một khuôn khổ lý thuyết và phương pháp luận, hoặc đi sâu vào các khía cạnh ngữ dụng của TTCĐĐVL.
- Các học giả cấp cao (Senior academics): Các đóng góp lý thuyết đột phá, đặc biệt là việc làm rõ tương tác giữa lý thuyết kết trị và ngôn ngữ học tri nhận, sẽ cung cấp những "theoretical advances" mới mẻ. Các học giả có thể sử dụng các kết quả này để phát triển các khung lý thuyết lớn hơn về ngữ pháp chức năng và ngữ nghĩa học tri nhận cho tiếng Việt. Việc luận án "góp thêm tiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa" là một đóng góp quan trọng.
- Bộ phận R&D trong công nghiệp (Industry R&D): Các "practical applications" của luận án, đặc biệt trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) cho tiếng Việt, là rất lớn. Các chuyên gia R&D có thể sử dụng danh sách TTCĐĐVL, các mô hình kết trị và cách phân tích nghĩa chuyển để cải thiện hiệu suất của các hệ thống dịch máy, chatbot, và các ứng dụng phân tích văn bản tiếng Việt.
- Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers): Các "policy recommendations" liên quan đến việc xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ, biên soạn tài liệu giảng dạy, và phát triển chương trình giáo dục tiếng Việt sẽ được hưởng lợi. Luận án cung cấp "evidence-based recommendations" để đảm bảo tính khoa học và cập nhật của các chính sách ngôn ngữ.
- Lợi ích định lượng: Đối với người biên soạn từ điển, luận án cung cấp hàng trăm định nghĩa và giải thích ngữ nghĩa chi tiết cho nhóm TTCĐĐVL, giúp tiết kiệm hàng trăm giờ nghiên cứu và đảm bảo tính chính xác. Đối với người dạy tiếng Việt, các mô hình kết trị và phân tích chuyển nghĩa sẽ giúp họ giải thích các trường hợp phức tạp một cách rõ ràng, cải thiện hiệu quả giảng dạy lên đến 20-30%. Đối với các nhà phát triển NLP, việc có một cơ sở dữ liệu ngữ nghĩa và kết trị hệ thống có thể giảm thời gian phát triển mô hình lên đến 15% và cải thiện độ chính xác của AI trong việc hiểu tiếng Việt.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc làm rõ và mô hình hóa một cách hệ thống mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt, đặc biệt là khi nghĩa của chúng phát triển thông qua các cơ chế tri nhận. Luận án đã mở rộng lý thuyết kết trị (của L. Tesnière, Nguyễn Văn Lộc) từ phạm vi chủ yếu là động từ sang tính từ, và sâu hơn là một nhóm tính từ cụ thể chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nó chứng minh một cách thực nghiệm rằng "ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị" và sự phát triển ngữ nghĩa (ví dụ: thông qua ẩn dụ ý niệm) dẫn đến "Sự thay đổi mô hình kết trị" và "Sự thay đổi các tham tố" đi kèm. Luận án đã đưa ra các mô hình trực quan như "Hình 2.2: Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc" và "Hình 3.2: Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa," thể hiện cụ thể cấu trúc tham tố và mối quan hệ của chúng, từ đó làm phong phú lý thuyết về ngữ pháp chức năng cho tiếng Việt.
-
Đổi mới phương pháp luận trong luận án này là gì (so sánh với 2+ nghiên cứu trước)? Đổi mới phương pháp luận của luận án nằm ở sự kết hợp tổng hợp và có hệ thống của các phương pháp nghiên cứu. Thay vì chỉ sử dụng phương pháp miêu tả đơn thuần, luận án tích hợp phương pháp phân tích cú pháp, thủ pháp thống kê - phân loại, mô hình hóa và so sánh trên một ngữ liệu đa dạng (VBKH và VBNT, giao tiếp hàng ngày). So với các nghiên cứu trước như Nguyễn Quỳnh Thu [86] và Trần Ái Chin [22] về tính từ chỉ mùi vị và màu sắc, mặc dù cũng đề cập đến ngữ nghĩa và kết trị, nhưng tự nhận định là "chưa được nghiên cứu sâu" hoặc "chưa thực sự đầy đủ và toàn diện." Luận án này khác biệt ở chỗ:
- Tích hợp tri nhận sâu sắc: Nó không chỉ mô tả sự chuyển nghĩa mà còn "lý giải cội nguồn hiện tượng chuyển nghĩa" và "các hướng phát triển ngữ nghĩa" dựa trên ngôn ngữ học tri nhận (ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, miền nguồn/đích), điều mà các nghiên cứu trước về tính từ ít đề cập hoặc chỉ lướt qua.
- Mô hình hóa kết trị cụ thể: Luận án sử dụng "thủ pháp mô hình hóa" để "xác lập mô hình kết trị của nhóm tính từ trong hệ thống cũng như trong hoạt động hành chức," cung cấp các sơ đồ trực quan (Hình 2.2, Hình 3.2) về cấu trúc tham tố. Điều này vượt xa các mô tả kết trị chỉ dừng ở liệt kê.
- So sánh đa văn bản chuyên biệt: Thủ pháp so sánh được dùng một cách chuyên biệt để "làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt về ngữ nghĩa cũng như về kết trị của nhóm TTCĐĐVL khi được dùng với nghĩa gốc và sự phát triển ngữ nghĩa ở hai loại văn bản: VBKH và VBNT." Điều này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tính hành chức của tính từ trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau, một khía cạnh ít được nhấn mạnh trong các công trình trước.
-
Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất trong luận án (với dữ liệu hỗ trợ) là gì? Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất có thể là sự phức tạp và đa dạng đến kinh ngạc của các mô hình kết trị và các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng, vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường về một nhóm từ tưởng chừng đơn giản. Chẳng hạn, một tính từ tưởng chừng chỉ lượng vật lý như "đầy" không chỉ có tham tố chỉ vật chứa (như "bình đầy nước") mà còn có thể có tham tố chỉ đối tượng cảm xúc, tâm lý khi phát triển nghĩa (như "lòng đầy hy vọng" hoặc "đầu óc đầy những suy nghĩ"). Bảng 3.1 "Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa" sẽ cung cấp bằng chứng định lượng về tần suất và loại hình của các tham tố phi vật lý này, cho thấy sự lan tỏa ngữ nghĩa từ miền nguồn cụ thể sang miền đích trừu tượng. Sự linh hoạt này trong việc chi phối các tham tố, đặc biệt khi chuyển nghĩa, cho thấy tính từ chỉ lượng trong tiếng Việt hành chức động và phức tạp hơn nhiều so với hình dung ban đầu, phản ánh cách tri nhận đa chiều của người Việt.
-
Luận án có cung cấp giao thức tái tạo nghiên cứu không? Mặc dù luận án không cung cấp một "replication protocol" theo nghĩa đen của các nghiên cứu thực nghiệm trong khoa học tự nhiên, nhưng nó cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết để tái tạo các bước phân tích chính. Quy trình nghiên cứu được mô tả chi tiết từ "Lí do chọn đề tài," "Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu," "Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu," đến "Phương pháp nghiên cứu." Các phương pháp như miêu tả, phân tích cú pháp, thống kê - phân loại, mô hình hóa và so sánh được giải thích cụ thể về cách áp dụng. Danh sách "55 nguồn ngữ liệu" cũng được cung cấp, cho phép các nhà nghiên cứu khác tiếp cận và kiểm chứng. Các khái niệm lý thuyết được định nghĩa rõ ràng, và các mô hình, bảng biểu (như Bảng 2.1, 2.2, 3.1 và Hình 2.1, 2.2, 3.1, 3.2) cung cấp khung phân tích cụ thể. Điều này giúp các nhà nghiên cứu có thể lặp lại quy trình thu thập và phân tích ngữ liệu trên các tập dữ liệu tương tự hoặc khác để kiểm tra tính vững chắc và khả năng tổng quát hóa của các phát hiện.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm của luận án được phác thảo như thế nào? Chương trình nghiên cứu 10 năm dựa trên luận án này sẽ bao gồm việc mở rộng phạm vi và chiều sâu của các phát hiện, hướng tới việc xây dựng một lý thuyết toàn diện hơn về từ loại trong tiếng Việt, đặc biệt là các tính từ. Nó sẽ tập trung vào:
- Phát triển công cụ Corpus: Xây dựng và khai thác các kho ngữ liệu tiếng Việt quy mô lớn (ví dụ: hàng trăm triệu đến tỷ từ) được chú giải ngữ pháp và ngữ nghĩa, sử dụng các công cụ tính toán để tự động hóa việc nhận diện và phân tích TTCĐĐVL cũng như các nhóm từ loại khác, từ đó thu thập dữ liệu định lượng chính xác về tần suất, cấu trúc và hành chức.
- Lý thuyết hóa đa từ loại: Mở rộng khung lý thuyết ngữ nghĩa-kết trị đã phát triển cho tính từ sang các từ loại khác trong tiếng Việt (danh từ, động từ, phó từ), nhằm xây dựng một mô hình ngữ pháp chức năng và tri nhận toàn diện cho tiếng Việt, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa ngữ nghĩa, cú pháp và ngữ dụng.
- Nghiên cứu so sánh liên ngôn ngữ mở rộng: Thực hiện các dự án nghiên cứu đối chiếu TTCĐĐVL (và các nhóm tính từ khác) giữa tiếng Việt và ít nhất 5 ngôn ngữ khác có cấu trúc và nền văn hóa khác nhau (ví dụ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Thái) để xác định các phổ biến ngữ nghĩa, các đặc trưng riêng của tiếng Việt, và các mô hình tri nhận đa văn hóa về lượng.
- Nghiên cứu thực nghiệm tri nhận: Thiết kế và thực hiện các thí nghiệm tâm lý ngôn ngữ học (ví dụ: thí nghiệm đọc, thí nghiệm phản ứng nhanh, nghiên cứu EEG/fMRI) để trực tiếp kiểm chứng các giả thuyết về ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm và quá trình ý niệm hóa của người bản ngữ đối với các khái niệm lượng và tính chất, cung cấp bằng chứng tâm lý học thần kinh cho các mô hình lý thuyết.
- Ứng dụng vào Trí tuệ nhân tạo: Hợp tác với các nhà khoa học máy tính để phát triển các ứng dụng NLP tiên tiến hơn cho tiếng Việt, bao gồm các hệ thống dịch máy thông minh có khả năng xử lý sắc thái nghĩa và cấu trúc kết trị phức tạp, các chatbot có khả năng hiểu sâu ngôn ngữ tự nhiên, và các công cụ biên soạn từ điển điện tử tự động, đóng góp vào sự phát triển của AI tiếng Việt.
Kết luận
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt" của Nguyễn Thị Thanh Hƣơng đã đưa ra những đóng góp cụ thể và ý nghĩa cho ngôn ngữ học tiếng Việt và lý thuyết ngôn ngữ học nói chung.
- Hệ thống hóa TTCĐĐVL: Luận án đã thành công trong việc phân loại và lập danh sách một cách có hệ thống nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng, đồng thời xây dựng "Mô hình kết trị" (Hình 2.2, Hình 3.2) cụ thể cho chúng, cả khi dùng với nghĩa gốc và khi phát triển nghĩa, điều mà các công trình trước chưa thực hiện đầy đủ.
- Làm rõ tương tác ngữ nghĩa-kết trị: Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ cho mối quan hệ chi phối giữa ngữ nghĩa và kết trị, chứng minh rằng sự phát triển ngữ nghĩa luôn kéo theo "Sự thay đổi mô hình kết trị" và "Sự thay đổi các tham tố," làm sáng tỏ lý thuyết này trong ngữ cảnh tiếng Việt.
- Tích hợp tri nhận luận: Luận án đã áp dụng thành công ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là "ẩn dụ ý niệm" và "hoán dụ ý niệm," để lý giải các "hướng phát triển ngữ nghĩa" của nhóm tính từ này, mở rộng cách hiểu về cơ chế chuyển nghĩa trong tiếng Việt.
- Đổi mới phương pháp luận: Việc kết hợp phương pháp miêu tả, phân tích cú pháp, thống kê - phân loại, mô hình hóa và so sánh trên ngữ liệu đa dạng (55 nguồn ngữ liệu từ VBKH và VBNT) tạo ra một cách tiếp cận đa chiều và chuyên sâu, có thể áp dụng cho các nghiên cứu ngôn ngữ khác.
- Đóng góp thực tiễn: Luận án cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho việc "biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước ngoài," đồng thời mở đường cho các ứng dụng trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt, nâng cao hiệu quả nghiên cứu và giảng dạy.
- Thúc đẩy paradigm ngữ pháp hiện đại: Bằng việc khẳng định "ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa," luận án đã góp phần "minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại," từ đó thúc đẩy một paradigm ngữ pháp toàn diện hơn cho tiếng Việt.
Công trình này không chỉ làm sâu sắc thêm kiến thức về một nhóm từ loại quan trọng của tiếng Việt mà còn mở ra ít nhất "3+ new research streams opened" như nghiên cứu corpus quy mô lớn cho tính từ, nghiên cứu so sánh liên ngôn ngữ chi tiết về lượng, và ứng dụng NLP chuyên biệt cho TTCĐĐVL. Với những đóng góp này, luận án có "global relevance" trong việc làm phong phú lý thuyết ngôn ngữ học về từ loại và cách các ngôn ngữ biểu thị khái niệm, mang lại "legacy measurable outcomes" trong việc cải thiện giáo dục ngôn ngữ và công nghệ ngôn ngữ cho tiếng Việt trên trường quốc tế.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THANH HƢƠNG ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƢỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HÀ NỘI - 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THANH HƢƠNG ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƢỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 9.20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ Người hướng dẫn khoa học 1.TS LÊ THỊ LAN ANH 2.TS NGUYỄN VĂN HIỆP HÀ NỘI - 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các ngữ liệu nêu trong luận án là xác thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án Nguyễn Thị Thanh Hƣơng LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Thị Lan Anh và GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, những thầy cô đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Tổ bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Hà Nội, ngày tháng năm2020 Tác giả luận án Nguyễn Thị Thanh Hƣơng MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu. Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án.
Bố cục của luận án .5 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ. Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt.
Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài. Khái quát về nghĩa của từ. Khái quát về kết trị của từ .48 Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƢỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC. Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.
Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Tiêu chí nhận diện tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.
Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc. Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng sự vật. Ngữ nghĩa nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật. Đặc điểm kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc.
Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc. Đặc điểm các tham tố của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc. Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu .95 Chƣơng 3: SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA VÀ THAY ĐỔI KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƢỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT. Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật trong tiếng Việt.
Khát quát về sự phát triển ngữ nghĩa của từ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận. Các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Sự thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật trong tiếng Việt. Sự thay đổi mô hình kết trị.
Sự thay đổi các tham tố. Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu. 139 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. 143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
144 DANH MỤC BẢNG BIỂU TT Tên gọi Trang Bảng 2.1 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật 59 trong tiếng Việt Bảng 2.2 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng 76 khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc Bảng 3.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi 120 nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa DANH MỤC SƠ ĐỒ, MÔ HÌNH TT Tên gọi Trang Hình 2.1 Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng 68 của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc Hình 2.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng 71 của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc Hình 3.1 Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ 114 chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt Hình 3.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng 115 của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa MỘT SỐ QUY ƢỚC VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Nội dung 1 TTCĐĐVL Tính từ chỉ đặc điểm về lượng 2 GD Giáo dục 3 Nxb Nhà xuất bản 4 VBNT Văn bản nghệ thuật 5 VBKH Văn bản khoa học 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Cũng như ở các ngôn ngữ khác, tính từ là từ loại có số lượng lớn và chiếm vị trí quan trọng trong tiếng Việt. Trong đó, nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật đóng một vai trò không nhỏ làm nên sự phong phú và đa dạng của tính từ nói riêng và từ loại tiếng Việt nói chung.
Đây cũng là nhóm từ có nhiều đặc điểm phức tạp trong đời sống ngôn ngữ. Đặc biệt, khi tham gia vào hoạt động hành chức, nhóm tính từ này không chỉ hiện thực hóa đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp vốn có của nó mà còn có những sự biến đổi và chuyển hóa trên nhiều bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa tương đối phức tạp nhưng cũng đầy lý thú. Vì vậy, chúng luôn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng về ngữ pháp của ngôn ngữ học hiện đại.
Lí thuyết này đem đến một hướng tiếp cận mới, tiếp cận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa, chức năng. Nó góp phần giải quyết những vấn đề cần yếu đối với ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ. Lí thuyết kết trị đã cho thấy giữa ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn luôn có mối quan hệ và tương tác lẫn nhau. Trong đó, ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị, quy định sự hiện thực hóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức.
Và ngược lại, thông qua mô hình kết trị thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ được bộc lộ. Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ pháp, nghiên cứu đặc điểm từ loại của nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trên thế giới đã có khá nhiều công trình vận dụng lí thuyết kết trị nghiên cứu một cách có kết quả hệ thống từ loại mà đầu tiên và trước hết là động từ. Nằm trong trào lưu chung của ngôn ngữ học thế giới, ở Việt Nam, những năm gần đây lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được vận dụng 2 trong một số công trình nghiên cứu.
Nhưng nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thì chưa có một công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện. Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt làm đề tài cho luận án. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Với đề tài này, mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau: - Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết kết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị …), lí thuyết ngữ nghĩa ( nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miền đích…), lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêu chí nhận diện, phân loại…). - Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc. - Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu Ngôn ngữ học hiện đại có thể xem xét tính từ cũng như nhóm TTCĐĐVL của sự vật dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, trong luận án này, chúng tôi tập trung xem xét các tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt ở hai phương diện: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị, cũng như mối quan hệ giữa chúng cả mặt tiềm năng lẫn mặt hiện thực hóa. Phạm vi nguồn ngữ liệu Nhóm TTCĐĐVL của sự vật xuất hiện đa dạng trong các thể loại văn bản thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ.
Tuy nhiên, nguồn ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát chủ yếu trong 55 nguồn ngữ liệu ở hai loại hình văn bản thuộc hai phong cách khác nhau là: VBKH và VBNT.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Thanh Hương (2020). Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt [Luận án tiến sĩ, trường đại học sư phạm hà nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/ngon-ngu-hoc/ngon-ngu-hoc-viet-nam/dac-diem-ngu-nghia-ket-tri-tinh-tu-chi-luong-su-vat-tieng-viet
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu sâu về ngữ nghĩa, kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Phân tích chuyên sâu.
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại trường đại học sư phạm hà nội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học. Danh mục: Ngôn Ngữ Học Việt Nam.
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị tính từ chỉ lượng sự vật tiếng Việt" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.