Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học: Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt, liên hệ và so sánh với tiếng Anh để phân tích chi tiết ngữ pháp.
Luan An
luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
206
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan & Cơ sở lí thuyết động từ nhận thức tiếng Việt-Anh
- Số trang:
- 206 trang
- Trường:
- Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
- Chuyên ngành:
- Ngôn ngữ học
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Thu Hà
- Năm:
- 2016
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan Cơ sở lí thuyết động từ nhận thức tiếng Việt Anh
Phần này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nó trình bày bối cảnh nghiên cứu nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt, có sự liên hệ với tiếng Anh. Công trình khảo sát các tài liệu hiện có. Nó cũng thiết lập các nền tảng lí thuyết vững chắc. Việc định nghĩa và phân loại động từ này là trung tâm. Hiểu rõ các động từ nhận thức rất quan trọng đối với ngôn ngữ học. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách con người xử lí thông tin. Công trình này đóng góp vào nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa học so sánh.
1.1. Tình hình nghiên cứu động từ nhận thức toàn cầu
Nghiên cứu về động từ nhận thức được xem xét kĩ lưỡng. Các công trình từ học giả quốc tế mang đến nhiều góc nhìn. Nhiều phương pháp và kết quả nghiên cứu khác nhau được tổng hợp. Nền tảng này đặt cơ sở cho nghiên cứu hiện tại. Nó giúp xác định khoảng trống trong kiến thức. Từ đó, hướng nghiên cứu cụ thể được định hình. Tình hình này cho thấy sự quan tâm rộng rãi đến động từ nhận thức.
1.2. Cách tiếp cận hoạt động nhận thức trong ngôn ngữ
Hoạt động nhận thức được xem xét từ nhiều phương diện. Các lí thuyết ngôn ngữ học định hình sự hiểu biết về tri giác, tư duy và kiến thức. Những hoạt động này là cốt lõi trong giao tiếp của con người. Sự khái niệm hóa ảnh hưởng trực tiếp đến phân loại động từ. Việc này giúp làm rõ ranh giới giữa các nhóm động từ. Nó cung cấp một cái nhìn toàn diện về hoạt động nhận thức.
1.3. Nền tảng lí thuyết phân tích động từ
Các khung lí thuyết làm nền tảng cho việc phân tích. Các nguyên lí ngữ pháp chức năng và ngữ pháp cấu trúc được áp dụng. Những lí thuyết này hướng dẫn việc kiểm tra các đặc tính của động từ. Chúng cung cấp công cụ để mô tả ngôn ngữ chi tiết. Việc sử dụng đa lí thuyết giúp đạt được kết quả chính xác hơn. Nó đảm bảo tính khoa học và khách quan cho nghiên cứu.
II. Đặc điểm ngữ pháp nhóm động từ nhận thức tiếng Việt
Phần này khảo sát các đặc điểm ngữ pháp của động từ nhận thức trong tiếng Việt. Nó sử dụng cách tiếp cận đa tiêu chí để phân tích từ loại, ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp. Một trọng tâm là cấu trúc tham tố và sự phân loại ngữ nghĩa dựa trên các tham số động/tĩnh và chủ ý/không chủ ý. Việc này giúp hình thành một bức tranh đầy đủ về hành vi ngữ pháp của nhóm động từ này. Nó cũng so sánh với các đặc điểm tương đồng trong tiếng Anh nếu có. Sự khác biệt và tương đồng ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ được chỉ ra.
2.1. Phương pháp phân tích ngữ pháp cấu trúc
Một “đường hướng nhiều tiêu chí” định hướng phân tích ngữ pháp. Phương pháp này đảm bảo sự hiểu biết toàn diện về các từ loại. Nó xem xét cách động từ phù hợp với cấu trúc câu. Các nguyên lí ngữ pháp cấu trúc là rất quan trọng. Cách tiếp cận này giúp phân tích sâu từng khía cạnh ngữ pháp. Nó bao gồm hình thái, từ vựng và cú pháp.
2.2. Ý nghĩa khả năng kết hợp của động từ
Ý nghĩa khái quát của động từ nhận thức được khám phá. Khả năng kết hợp của chúng với các yếu tố ngôn ngữ khác được nghiên cứu. Điều này bao gồm các bổ ngữ và diễn tố điển hình. Các chức năng cú pháp trong câu cũng được xác định. Việc này làm rõ vai trò của động từ trong việc tạo lập câu. Nó cũng chỉ ra các ràng buộc cú pháp của động từ.
2.3. Cấu trúc tham tố và phân loại ngữ nghĩa
Cấu trúc tham tố của động từ nhận thức được mô tả chi tiết. Nó làm rõ vai trò của các đối tượng tham gia vào một sự kiện. Động từ được phân loại dựa trên các tham số ngữ nghĩa: [+/- động] (tính động/tĩnh) và [+/- chủ ý] (tính chủ ý/không chủ ý). Việc phân loại này giúp khám phá hành vi động từ riêng biệt. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc tính ngữ nghĩa nội tại.
III. Đặc điểm ngữ nghĩa nhóm động từ nhận thức tiếng Việt
Phần này đi sâu vào các đặc điểm ngữ nghĩa của động từ nhận thức trong tiếng Việt. Nó kiểm tra cấu trúc ý nghĩa nội tại và các mối quan hệ ngữ nghĩa. Các hiện tượng như đa nghĩa, đồng nghĩa và chuyển nghĩa được phân tích. Cùng với đó là các đặc tính ngữ nghĩa đặc thù chỉ có ở nhóm động từ này. Việc này giúp làm rõ cách các động từ biểu đạt các sắc thái nhận thức khác nhau. Nó cũng chỉ ra sự phức tạp trong hệ thống nghĩa của tiếng Việt. Các ví dụ minh họa cụ thể hỗ trợ phân tích này. Nghiên cứu này đóng góp vào từ vựng ngữ nghĩa học.
3.1. Cấu trúc ngữ nghĩa và tiêu chí đánh giá
Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nhận thức được phân tích. Các tiêu chí như [+/- nét nghĩa đánh giá hoạt động] và [+/- TGĐ] (tiền giả định) được sử dụng. Những tiêu chí này giúp phân biệt các nghĩa của động từ. Chúng tiết lộ các đặc điểm ngữ nghĩa tiềm ẩn. Điều này cho phép một phân tích sâu sắc hơn về ý nghĩa. Nó làm nổi bật các yếu tố định tính của động từ.
3.2. Quan hệ ngữ nghĩa điển hình đa nghĩa đồng nghĩa
Các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các động từ nhận thức điển hình được điều tra. Hiện tượng đa nghĩa của động từ nghĩ là một trọng tâm chính. Các quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa và bao nghĩa trong các nhóm như biết - hiểu cũng được khám phá. Những mối quan hệ này làm nổi bật mạng lưới ngữ nghĩa. Nó cho thấy sự phong phú và linh hoạt của ngôn ngữ.
3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa đặc thù chuyển nghĩa
Các đặc tính ngữ nghĩa cụ thể của động từ nhận thức được trình bày. Điều này bao gồm vị trí trung gian giữa động từ nhận thức và động từ tâm lí - tình cảm. Sự chuyển nghĩa từ động từ tri giác sang động từ nhận thức, ví dụ như trường hợp của thấy, được phân tích. Khả năng biểu thị nghĩa tình thái của động từ nhận thức, điển hình qua Tôi nghĩ, cũng được kiểm tra. Những đặc điểm này làm rõ sự phức tạp trong ngữ nghĩa của động từ nhận thức.
IV. Đặc điểm ngữ dụng động từ nhận thức Việt Anh
Phần này nghiên cứu các đặc điểm ngữ dụng của biểu thức ngôn ngữ chứa động từ nhận thức trong tiếng Việt, có liên hệ với tiếng Anh. Nó tập trung vào khả năng của chúng trở thành tác tử ngữ dụng, vai trò trong việc tổ chức và tương tác hội thoại, và đóng góp vào các chiến lược lịch sự cùng hàm ngôn. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách các động từ này được sử dụng trong giao tiếp thực tế. Nó so sánh các hiện tượng ngữ dụng tương ứng trong tiếng Anh. Điều này làm rõ sự tương đồng và khác biệt về mặt ngữ dụng giữa hai ngôn ngữ. Nghiên cứu này có giá trị trong giao tiếp liên văn hóa.
4.1. Khả năng ngữ dụng hóa và tác tử ngữ dụng
Động từ nhận thức thể hiện khả năng ngữ dụng hóa. Chúng có thể phát triển thành các tác tử ngữ dụng. Những tác tử này thực hiện nhiều chức năng diễn ngôn khác nhau. Sự chuyển đổi từ nghĩa từ vựng sang cách dùng chức năng là đáng kể. Quá trình này giúp mở rộng vai trò của động từ. Nó cho phép động từ tham gia vào các cấp độ giao tiếp phức tạp hơn.
4.2. Chức năng tổ chức tương tác hội thoại
Các tác tử ngữ dụng chứa động từ nhận thức thực hiện các chức năng quan trọng. Chúng tổ chức luồng diễn ngôn. Chúng tạo điều kiện thuận lợi cho tương tác hội thoại. Các chức năng này bao gồm tính liên chủ thể (intersubjectivity) và các khía cạnh hợp tác. Điều này cho thấy động từ nhận thức không chỉ truyền tải thông tin mà còn định hình cuộc trò chuyện. Chúng giúp người nói và người nghe kết nối.
4.3. Chiến lược lịch sự và hàm ngôn ngôn ngữ
Vai trò của động từ nhận thức trong các chiến lược lịch sự được kiểm tra. Chúng góp phần tạo nên sự gián tiếp và nhún nhường. Các hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại liên quan đến các động từ này được phân tích. Điều này tiết lộ sức mạnh giao tiếp tinh tế của chúng. Chúng cho phép người nói truyền đạt ý định một cách tế nhị. Nghiên cứu này làm sâu sắc thêm hiểu biết về ngữ dụng học.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (206 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất, đặc thù nhằm định tính con người về mặt xã hội. Trong đời sống tinh thần, nhận thức phản ánh thế giới khách quan từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi quay trở lại kiểm nghiệm thực tiễn. Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà với đề tài "Nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (Liên hệ với tiếng Anh)" (Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Mã số: 62 22 02 40, Đại học Huế - Trường Đại học Khoa học, 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Bạch Nhạn và cố vấn của GS. TSKH. Lý Toàn Thắng) là công trình tiên phong giải mã toàn diện diện mạo ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của nhóm động từ nhận thức tiếng Việt trong thế đối sánh với tiếng Anh.
Trong lịch sử Việt ngữ học, mặc dù đã có những khảo cứu của Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Tài Cẩn (1977), Hoàng Phê (1984, 1989), Cao Xuân Hạo (1991, 1993), Hoàng Văn Vân (2002, 2005) và Nguyễn Văn Hiệp (2008), nhóm động từ nhận thức vẫn chưa được định danh ranh giới rõ ràng mà thường bị hòa lẫn vào nhóm động từ tình cảm, tri giác hay "cảm nghĩ - nói năng". Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu then chốt: sự thiếu vắng một công trình miêu tả hệ thống, đa bình diện và chuyên sâu về trường từ vựng - ngữ nghĩa nhận thức trong tiếng Việt kết hợp các khung lý thuyết hiện đại như ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa học tri nhận và lý thuyết ngữ dụng hóa.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác lập tường minh:
-
Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt sở hữu những đặc trưng ngữ pháp cấu trúc và cấu trúc tham tố chức năng nào để khu biệt với động từ tri giác và động từ tình cảm?
-
Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc ngữ nghĩa nội tại, hiện tượng đa nghĩa và các quy luật chuyển nghĩa (từ tri giác sang nhận thức) của nhóm động từ này vận hành ra sao theo mô hình ngữ nghĩa học tri nhận?
-
Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Các cấu trúc chứa động từ nhận thức (tiêu biểu như Tôi nghĩ) diễn tiến theo quy trình ngữ dụng hóa như thế nào để đảm nhận chức năng tác tử ngữ dụng và biểu thị tính hữu chứng trong giao tiếp?
-
Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Những nét tương đồng và dị biệt loại hình giữa tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập) và tiếng Anh (ngôn ngữ hòa kết) trong phương thức ngôn ngữ hóa hoạt động nhận thức là gì?
-
Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Động từ nhận thức tiếng Việt không thuần nhất về mặt từ loại và cấu trúc sự thể, phân hóa rõ rệt thành ba tiểu nhóm hành động, trạng thái và quá trình theo các tham số
[+/- động]và[+/- chủ ý]. -
Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Hiện tượng đa nghĩa của các động từ nhận thức cốt lõi (như nghĩ) không phát triển theo chuỗi tuyến tính ngẫu nhiên mà được tổ chức theo cấu trúc "phạm trù đường rọi" (radical categories) với tâm điểm là ý niệm tinh thần trừu tượng tỏa ra các miền ngoại vi.
-
Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Cấu trúc Tôi nghĩ trong tiếng Việt đã trải qua bước đầu của quá trình ngữ dụng hóa và ngữ pháp hóa, chuyển hóa từ một vị từ vị ngữ chính thành một tác tử ngữ dụng chỉ thái độ mệnh đề và chiến lược lịch sự âm tính.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp đa tầng: lý thuyết cấu trúc tham tố vị từ của Lucien Tesnière (1959), phân loại sự thể của Simon C. Dik (1978), ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday (1985), lý thuyết nguyên tố ngữ nghĩa của Anna Wierzbicka (1972, 1996), mô hình phạm trù đường rọi của George Lakoff (1987), lý thuyết ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa của Elizabeth C. Traugott (1989), Karin Aijmer (1997), Bruce Fraser (1988, 2006) cùng lý thuyết lịch sự của Penelope Brown và Stephen C. Levinson (1978).
Quy mô khảo sát bao gồm 211 động từ nhận thức tiếng Việt trích xuất từ Từ điển tiếng Việt (2011, Hoàng Phê chủ biên gồm 41.300 mục từ), đối chiếu với khoảng 240 động từ tiếng Anh (theo tư liệu của Wheeler 1995, Biber 1999) cùng nguồn ngữ liệu thực chứng đồ sộ trên 1.182 trang văn bản trích từ tác phẩm văn học, báo chí và khẩu ngữ thực tế.
Literature Review và Positioning
Các công trình nghiên cứu động từ nhận thức trên thế giới đã hình thành ba dòng chảy học thuật chủ lưu:
- Dòng nghiên cứu cú pháp - ngữ nghĩa và động từ chêm xen (Parenthetical Verbs): Khởi xướng bởi J.O. Urmson (1952), tiếp nối bởi Barnes (1963), Charlesworth (1965), và Mackenzie (1987). Urmson chứng minh rằng khi người nói sử dụng các cấu trúc như I think, I believe, I guess, họ không tường trình một hoạt động tinh thần đang diễn ra trong não bộ mà sử dụng chúng như các yếu tố chêm xen linh hoạt nhằm điều chỉnh độ cam kết chân lý. Đến năm 1991, Sandra A. Thompson và Anthony Mulac vận dụng lý thuyết ngữ pháp hóa để khẳng định các cấu trúc này đã "bị tẩy trắng ngữ nghĩa" (semantic bleaching), chuyển hóa từ mệnh đề chính thành các trạng từ tình thái. Karin Aijmer (1997) trong công trình I think - an English modal particle đã chứng minh I think đã tiến hóa thành một tiểu từ tình thái (modal particle). Đồng thời, Paul Kiparsky & Carol Kiparsky (1971) cùng Geoffrey Leech (1974) phân định rạch ròi nhóm động từ hàm thực (factive verbs: know, realize, forget - tiền giả định mệnh đề phụ là chân thực) và vô hàm (non-factive verbs: think, believe, suppose - không xác định tính chân thực của mệnh đề phụ).
- Dòng nghiên cứu ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học tri nhận: Zeno Vendler (1967) dựa vào tiêu chí thể thời gian phân chia think thành quá trình nhận thức xác định thời gian (He is thinking about Jones) và trạng thái nhận thức phi thời gian (He thinks that Jones is a rascal). Anna Wierzbicka (1972, 1996, 1998) trong khuôn khổ Siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa tự nhiên (NSM) đã xác lập think và know là các nguyên tố ngữ nghĩa phổ quát (semantic primitives). Cliff Goddard (2003) mở rộng khảo cứu xuyên văn hóa về các chiều kích biểu đạt suy nghĩ, chỉ ra cách thức các cộng đồng ngôn ngữ hóa kịch bản văn hóa riêng biệt.
- Dòng nghiên cứu ngữ pháp chức năng: M.A.K. Halliday (1985, 2004) định vị động từ nhận thức thuộc "quá trình tinh thần tri nhận" (cognitive mental processes), đòi hỏi hai tham thể bắt buộc là Cảm thể (Senser) - mang đặc trưng người và Hiện tượng (Phenomenon) - không giới hạn về bản chất thực thể hay sự kiện.
Trong nước, các nghiên cứu của Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Tài Cẩn (1977) phân loại động từ dựa trên khả năng kết hợp phụ từ (kết hợp với từ chỉ mức độ rất, hơi, quá, hoặc phó từ kết thúc xong), song dẫn đến mâu thuẫn khi xếp hiểu vào động từ tình cảm còn am hiểu vào động từ tri giác. Hoàng Phê (1984) là người đầu tiên tại Việt Nam định danh Tôi nghĩ là "toán tử logic - tình thái", trong khi Cao Xuân Hạo (1993) khảo cứu nhóm vị từ nhận thức - nói năng dưới góc độ tiền giả định (hàm chân, hàm ngụy, vô hàm). Nguyễn Văn Hiệp (2008) phát triển hướng tiếp cận vị từ chỉ thái độ mệnh đề biểu thị tình thái nhận thức (epistemic modality).
┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TIẾP CẬN ĐA CHIỀU ĐỘNG TỪ NHẬN THỨC (DISSERTATION) │
└────────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌─────────────────────────────────────────┼────────────────────────────────────────┐
│ │ │
┌────────▼──────────────┐ ┌────────────▼───────────┐ ┌─────────────▼────────────┐
│ BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP │ │ BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA │ │ BÌNH DIỆN NGỮ DỤNG │
├───────────────────────┤ ├────────────────────────┤ ├──────────────────────────┤
│• Ngữ pháp cấu trúc │ │• Cấu trúc nghĩa vị │ │• Ngữ dụng hóa │
│ (3 tiêu chí phân loại│ │ ([+/- TGĐ], Đánh giá) │ │ (Pragmaticalization) │
│• Cấu trúc tham tố │ │• Phạm trù đường rọi │ │• Tác tử ngữ dụng │
│ (Lucien Tesnière) │ │ (Radical Categories) │ │ (Pragmatic Markers) │
│• Phân loại sự thể │ │• Chuyển nghĩa Tri giác │ │• Tính hữu chứng │
│ ([+/-động], [+/-ý]) │ │ -> Nhận thức (thấy) │ │ & Chiến lược lịch sự │
└───────────────────────┘ └────────────────────────┘ └──────────────────────────┘
Điểm tranh luận học thuật sâu sắc nảy sinh giữa Vendler (1967) và Wierzbicka (1998): Wierzbicka phản bác việc Vendler dùng tiêu chí thể thời gian để chia tách nghĩa của think, chứng minh rằng các nhận định nhất thời (I think that someone is knocking at the door) vẫn mang tính đánh giá nhận thức. Luận án định vị nghiên cứu của mình vượt lên sự phân mảnh bằng cách dung hợp cả hai cách tiếp cận: thừa nhận khung cú pháp như tiêu chí nhận diện hình thức nhưng dùng cấu trúc tri nhận để lý giải bản chất ngữ nghĩa.
So sánh với hai nghiên cứu quốc tế điển hình:
- Nghiên cứu của Cliff Goddard & Susanne Karlsson (2003) Re-thinking THINK: Contrastive semantics of Swedish and English chỉ ra tiếng Thụy Điển phân tách ý niệm think thành ba vị từ riêng biệt (tänka - ngẫm/quá trình, tro - tin/trạng thái, tycka - thấy/đánh giá), trong đó tänka giữ vai trò nguyên tố ngữ nghĩa trung tâm. Luận án của Nguyễn Thị Thu Hà chứng minh tiếng Việt dùng một vị từ nghĩ đa năng bao quát cả ba vùng nghĩa này, song lại sử dụng các từ tổ hợp (suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ ngợi) và hư từ để khu biệt.
- Nghiên cứu của J.D. Apresjan (1993, 1995) về các vị từ nhận thức tiếng Nga (schitat' và znat') đã vạch rõ giao điểm và ngã rẽ ngữ nghĩa - cú pháp qua các thời kỳ lịch sử. Luận án kế thừa phương pháp phân tích nét nghĩa và cấu trúc tham tố của Apresjan để soi chiếu cặp vị từ biết - hiểu và hiện tượng đối lập bộ phận tin - ngờ trong tiếng Việt.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và kiểm chứng các lý thuyết ngôn ngữ học phương Tây trên cứ liệu ngôn ngữ đơn lập không biến hình:
- Mở rộng lý thuyết sự thể của Simon C. Dik (1978): Luận án chứng minh trong tiếng Việt, ranh giới giữa các kiểu sự thể nhận thức không hoàn toàn đóng kín. Tồn tại vùng giao thoa giữa vị từ hành động nhận thức
[+động, +chủ ý](nghĩ, đoán) và vị từ trạng thái nhận thức[-động, -chủ ý](biết, hiểu), hình thành nên các vị từ dao động như nghi, ngờ, ngờ vực, phân vân. - Mô hình hóa đa nghĩa theo Phạm trù đường rọi (Radical Categories) của George Lakoff (1987): Thay vì xem đa nghĩa là chuỗi xâu chuỗi tuyến tính $A \rightarrow B \rightarrow C$ (như Taylor 1995), luận án thiết lập mạng lưới ý niệm của vị từ nghĩ với tâm điểm là hoạt động trí tuệ trừu tượng, từ đó phát triển các nhánh phái sinh: ý niệm đánh giá chủ quan, ý niệm phán đoán/dự đoán, ý niệm tình thái, và sự đan xen với địa hạt tâm lý - tình cảm.
- Phát triển lý thuyết chuyển nghĩa tri giác - nhận thức: Kế thừa các phát hiện của Iraide Ibarretxe-Antuñano (1999) và Nicholas Evans & David Wilkins (2000), luận án chỉ ra quy luật chuyển nghĩa từ vị từ tri giác thị giác sang nhận thức (thấy trong tiếng Việt tương đương với see trong tiếng Anh), vạch rõ cơ chế ẩn dụ ý niệm: "TRI GIÁC BẰNG MẮT LÀ THẤU HIỂU BẰNG TÂM TRÍ".
Hệ thống mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions) được xác lập:
- Mệnh đề 1 (P1): Mức độ chủ ý của nghiệm thể tỷ lệ thuận với khả năng tham gia vào cấu trúc cầu khiến và kết hợp với phụ từ thể cách.
- Mệnh đề 2 (P2): Vị từ nhận thức mang nét nghĩa
[+tiền giả định](hàm chân) triệt tiêu khả năng nghi vấn hóa tính chân thực của mệnh đề phụ đi kèm. - Mệnh đề 3 (P3): Mức độ ngữ dụng hóa của biểu thức ngôn ngữ tỷ lệ nghịch với dung lượng nghĩa miêu tả gốc của vị từ trung tâm.
Khung phân tích độc đáo
Luận án thiết lập khung phân tích tích hợp bốn chiều:
- Trục Cú pháp - Cấu trúc: Kết hợp ba tiêu chí phân loại từ loại truyền thống (ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp phụ từ, chức năng cú pháp) với mô hình phân tích diễn tố - chu tố của Lucien Tesnière. Khung cú pháp xác định số lượng tham thể bắt buộc (Cảm thể/Nghiệm thể, Đối tượng nhận thức/Mệnh đề nhận thức).
- Trục Ngữ nghĩa - Logic: Phân tích nét nghĩa cấu trúc dựa trên hai tiêu chí khu biệt nhị phân:
[+/- nét nghĩa đánh giá hoạt động]và[+/- tiền giả định](TGĐ). - Trục Ngữ nghĩa Tri nhận: Áp dụng mô hình đường rọi của Lakoff và khung ẩn dụ tri nhận để phân tích cấu trúc đa nghĩa và sự phóng chiếu ý niệm.
- Trục Ngữ dụng - Diễn ngôn: Ứng dụng mô hình tính hữu chứng của Federica Cappelli (2008), lý thuyết tác tử ngữ dụng của Bruce Fraser (1996, 2006) và nguyên tắc lịch sự của Brown & Levinson (1978).
Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích giới hạn ở các vị từ biểu thị nhận thức lý tính hoặc liên quan đến lý tính thường dùng, loại trừ các thuật ngữ triết học thuần túy (tư duy, suy luận) và các biến thể khẩu ngữ mang tính địa phương (ngó, coi bộ).
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ MÔ HÌNH PHẠM TRÙ ĐƯỜNG RỌI CỦA VỊ TỪ "NGHĨ" │
└───────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌───────────────────┴───────────────────┐
│ Ý NIỆM TRUNG TÂM │
│ Hoạt động trí tuệ, tạo tác tinh thần │
│ (To think - to cogitate) │
└───────────────────┬───────────────────┘
│
┌─────────────────────────────────────────────┼────────────────────────────────────────────┐
│ │ │
┌────────▼────────────────────┐ ┌────────────▼──────────────┐ ┌───────────────▼──────────────┐
│ VÙNG PHÁI SINH ĐÁNH GIÁ │ │ VÙNG TÌNH THÁI HÓA │ │ VÙNG TÂM LÝ - CẢM XÚC │
├─────────────────────────────┤ ├───────────────────────────┤ ├──────────────────────────────┤
│• Nhận định, đánh giá chủ quan│ │• Tác tử ngữ dụng: │ │• Lo lắng, bận tâm, tương tư: │
│ (To consider / to find) │ │ "Tôi nghĩ..." │ │ "Nghĩ ngợi", "lo nghĩ" │
│• Đồng nghĩa với "cho là" │ │• Thang độ xác tín giả định│ │• Đan xen nhận thức - tình cảm│
└─────────────────────────────┘ └───────────────────────────┘ └──────────────────────────────┘
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận hành trên lập trường triết học ngôn ngữ kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) và thuyết giải thích (Interpretivism) của ngôn ngữ học tri nhận. Nhận thức luận của nghiên cứu khẳng định: ngôn ngữ không chỉ phản ánh thụ động hiện thực khách quan mà cấu trúc hóa trải nghiệm của con người thông qua quá trình ý niệm hóa.
Nghiên cứu áp dụng thiết kế đa phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa định lượng thống kê ngữ liệu (Corpus-based quantitative analysis) và định tính phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - dụng học (Qualitative semantic-pragmatic analysis). Thiết kế đa tầng bao gồm:
- Tầng hệ thống từ vựng: Thống kê toàn diện danh sách vị từ từ từ điển chuẩn thức.
- Tầng cấu trúc cú pháp: Khảo sát phân bố kết hợp và khung tham tố trên văn bản.
- Tầng diễn ngôn ngữ dụng: Phân tích ngữ cảnh xuất hiện của các biểu thức hội thoại trong văn học và báo chí.
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Quy trình thu thập ngữ liệu:
- Nguồn từ điển: Rà soát 41.300 mục từ trong Từ điển tiếng Việt (2011, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên); Oxford Advanced Learner’s Dictionary (2005), Merriam-Webster Dictionary trực tuyến.
- Nguồn văn bản thực chứng: Khảo sát 1.182 trang văn bản thuộc nhiều phong cách chức năng: tác phẩm văn học kinh điển và đương đại (Truyện Kiều - Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều, Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Thời xa vắng - Lê Lựu, kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt - Lưu Quang Vũ); báo chí (Mục Thời sự & Suy nghĩ báo Tuổi Trẻ, các bài phóng sự, bài phỏng vấn năm 2012); ngữ liệu khẩu ngữ và ca dao truyền thống.
- Kỹ thuật tam giác hóa (Triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu: Kết hợp cứ liệu từ điển (chuẩn mực hệ thống), văn bản viết (văn học, báo chí) và văn bản nói (khẩu ngữ, phỏng vấn).
- Tam giác hóa lý thuyết: Đối chiếu giữa lý thuyết cấu trúc luận, ngữ pháp chức năng Halliday và ngữ nghĩa học tri nhận Lakoff.
- Tam giác hóa phương pháp: Phối hợp phương pháp phân tích trường nghĩa, phân tích vị từ - tham tố, phân tích thành tố nghĩa (semic analysis), thủ pháp hoán đổi/thay thế cú pháp và so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ.
Data và phân tích
Toàn bộ 211 động từ nhận thức tiếng Việt được phân loại và định lượng chi tiết:
- Về nguồn gốc ngữ nghĩa: 129 động từ có nghĩa gốc (chiếm 61,14%) như biết, nghĩ, hiểu, ngờ, tin; 82 động từ có nghĩa phái sinh (chiếm 38,86%) như thấy, rõ, thủng, coi, xem.
- Về tư cách từ loại: 184 động từ chính danh (chiếm 87,20%); 27 từ kiêm loại động từ - tính từ (chiếm 12,80%) như lầm/nhầm, lơ đãng, lú lẫn, mù tịt, rành, sành, thủng.
- Tần số xuất hiện của 8 động từ cốt lõi trên 1.182 trang văn bản:
- Biết: 1.843 lần (mật độ $\approx 1,56$ lần/trang)
- Nghĩ: 624 lần (mật độ $\approx 0,53$ lần/trang)
- Hiểu: 542 lần (mật độ $\approx 0,46$ lần/trang)
- Nhớ: 377 lần (mật độ $\approx 0,32$ lần/trang)
- Tin: 226 lần (mật độ $\approx 0,19$ lần/trang)
- Tưởng: 176 lần (mật độ $\approx 0,15$ lần/trang)
- Quên: 166 lần (mật độ $\approx 0,14$ lần/trang)
- Ngờ: 83 lần (mật độ $\approx 0,07$ lần/trang)
Công cụ và thủ pháp xử lý: Sử dụng ma trận nét nghĩa nhị phân [+/-] để phân lập các trường nghĩa nhỏ; thiết lập khung bổ ngữ cú pháp $V + (rằng/là) + P$; vận dụng mô hình tính hữu chứng của Cappelli để định vị thang độ xác tín của người nói đối với mệnh đề $P$.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Phân lập hoàn chỉnh diện mạo ngữ pháp - ngữ nghĩa của 211 động từ nhận thức tiếng Việt: Luận án chứng minh động từ nhận thức tiếng Việt phân bố theo mô hình cấu trúc tham tố đặc thù: luôn yêu cầu Nghiệm thể (Experiencer) mang đặc trưng
[+người]và Đối tượng nhận thức dưới dạng một thực thể hoặc một mệnh đề mệnh đề hóa ($P$). Dựa trên tham số sự thể của Dik, nghiên cứu chỉ ra:- Nhóm hành động nhận thức
[+động, +chủ ý]: nghĩ, suy nghĩ, tính toán, đoán. - Nhóm trạng thái nhận thức
[-động, -chủ ý]: biết, hiểu, nhớ, quên, lầm. - Nhóm quá trình nhận thức
[+động, -chủ ý]: nhận ra, nhận thấy, vỡ lẽ, ngộ ra.
- Nhóm hành động nhận thức
- Quy luật chuyển nghĩa từ Tri giác sang Nhận thức của vị từ thấy: Phân tích đối chiếu giữa thấy (tiếng Việt) và see (tiếng Anh) chỉ ra bước chuyển từ tri giác trực tiếp sang nhận thức trừu tượng đi kèm sự biến đổi cấu trúc cú pháp. Trong khi thấy tri giác đòi hỏi bổ ngữ là danh ngữ chỉ thực thể cụ thể (Tôi thấy anh ấy), thấy nhận thức kết hợp với mệnh đề trừu tượng hoặc cấu trúc vị ngữ tính từ (Tôi thấy việc này rất phức tạp), đóng vai trò như một vị từ đánh giá chủ quan.
- Mô hình hóa cấu trúc đa nghĩa của vị từ nghĩ: Phá vỡ quan niệm truyền thống xem nghĩ là từ đơn nghĩa thuần túy, luận án chỉ ra nghĩ là một phạm trù đường rọi phức hợp, di chuyển linh hoạt giữa ba vùng chức năng: (i) hoạt động tạo tác tinh thần nội tại (đang nghĩ), (ii) phán đoán/đánh giá tương đương cho rằng (tôi nghĩ anh ấy đúng), và (iii) trạng thái cảm xúc bận tâm/lo âu (nghĩ ngợi, thương nghĩ).
- Cơ chế ngữ dụng hóa và chức năng tác tử của cấu trúc Tôi nghĩ: Luận án phát hiện cấu trúc Tôi nghĩ (tương đồng với I think trong tiếng Anh) đã trải qua tiến trình ngữ pháp hóa - ngữ dụng hóa rõ nét. Nghĩa từ vựng biểu thị hành vi suy nghĩ bị mờ nhạt ("tẩy trắng ngữ nghĩa"), biến cấu trúc thành một tác tử ngữ dụng thực thi:
- Chiến lược lịch sự âm tính (Negative Politeness): Giảm thiểu sự áp đặt nhận định lên người nghe, mở ra không gian thương lượng hội thoại.
- Tác tử hữu chứng (Evidential Marker): Định vị nguồn thông tin dựa trên suy luận chủ quan, hạ thấp mức độ cam kết tuyệt đối đối với tính chân thực của mệnh đề $P$.
Trích dẫn minh chứng từ nguồn ngữ liệu và cơ sở lý luận:
"Não người là một cỗ máy siêu hợp, hoàn toàn mang tính chất vật lí - hóa học trong những tương tác của nó, hoàn toàn sinh học trong tổ chức của nó, hoàn toàn nhân học trong những hành động, suy nghĩ và có ý thức của nó." (Morin 2006, trích dẫn trong Luận án).
"Thật ra, cấu trúc có chứa động từ trong ngoặc chính là một toán tử logic - tình thái. Với tư cách một toán tử, nó là một thể hoàn chỉnh, hoạt động như là một khối có sẵn... Nghĩ, trong toán tử logic - tình thái Tôi nghĩ rằng không còn cái nghĩa từ vựng bình thường của nó... Nó là một loại đơn vị đặc biệt của ngôn ngữ." (Hoàng Phê 1984, trích dẫn trong Luận án).
"Nghĩa chủ quan gắn kết hết sức tự nhiên với ngữ dụng khi mà người nói là đặc tính chủ đạo của bất kì địa hạt dụng học nào." (Diewald 2011, trích dẫn trong Luận án).
"Ước tính rằng trung bình mỗi người nghĩ khoảng 60 nghìn suy nghĩ mỗi ngày, ngạc nhiên hơn đó là, 90% những suy nghĩ có ngày hôm nay giống như những suy nghĩ của chúng ta ngày hôm qua." (Tài liệu tâm lý học nhận thức, trích dẫn trong Luận án).
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Bổ sung vào kho tàng ngôn ngữ học một mô hình phân tích toàn diện trường từ vựng nhận thức tiếng Việt, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính phổ quát và đặc thù loại hình của quá trình ngữ pháp hóa/ngữ dụng hóa trong ngôn ngữ đơn lập.
- Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình mẫu mực kết hợp giữa phân tích cú pháp cấu trúc, ngữ nghĩa hình thức và phân tích diễn ngôn ngữ dụng, có thể chuyển giao để nghiên cứu các trường từ vựng tinh thần khác như động từ tình cảm, động từ ý chí, động từ tri giác.
- Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Biên soạn từ điển học: Cung cấp cơ sở khoa học để xử lý tính đa từ loại (động từ kiêm tính từ) và phân tách các nét nghĩa vi tế kèm khung kết hợp cú pháp chuẩn xác cho các mục từ nhận thức.
- Dịch thuật Anh - Việt: Cung cấp cẩm nang đối chiếu các cấu trúc ngữ dụng tương đương (như I think, You know, I don't know tương ứng với Tôi nghĩ, Anh biết đấy, Tôi có biết đâu), giúp dịch giả chuyển ngữ tự nhiên, bảo toàn lực ngữ dụng và sắc thái lịch sự.
- Giảng dạy ngôn ngữ (VFL/VSL & EFL): Giúp người học nắm bắt cơ chế tư duy của người Việt trong việc sử dụng các vị từ nhận thức để rào đón, bày tỏ quan điểm và tương tác lịch sự.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn ngữ liệu: Mặc dù ngữ liệu khảo sát 1.182 trang văn bản là rất lớn tại thời điểm thực hiện (2016), nguồn dữ liệu chủ yếu vẫn dựa trên việc bóc tách thủ công từ tác phẩm in ấn, chưa tận dụng được các kho ngữ liệu điện tử quy mô lớn hàng trăm triệu từ (Corpus Linguistics) với công cụ gán nhãn tự động.
- Phạm vi phương ngữ: Ngữ liệu khảo cứu tập trung chủ yếu vào tiếng Việt chuẩn thức (phương ngữ Bắc và Bắc Trung Bộ qua tác phẩm văn học), chưa đi sâu đối chiếu các biến thể nhận thức mang đậm tính khẩu ngữ phương ngữ Nam Bộ (nghi, ngẫm, tính, dè).
- Mô hình tính toán: Chưa lượng hóa các quy luật chuyển nghĩa bằng các thuật toán xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại như phân tích không gian vector từ (word embeddings) hay phân tích mạng lưới ngữ nghĩa phức hợp.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Hướng 1: Ứng dụng ngôn ngữ học ngữ liệu (Corpus Linguistics) xây dựng kho ngữ liệu chuyên biệt về các vị từ tinh thần tiếng Việt, phân tích tần suất kết hợp tự nhiên (collocations) trên quy mô dữ liệu lớn.
- Hướng 2: Xây dựng bản đồ bản thể luận ngữ nghĩa (Ontology) cho nhóm động từ nhận thức tiếng Việt phục vụ các bài toán trí tuệ nhân tạo như phân tích cảm xúc (Sentiment Analysis), phát hiện lập trường (Stance Detection) và suy luận ngôn ngữ tự nhiên (NLI).
- Hướng 3: Mở rộng nghiên cứu xuyên ngôn ngữ đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á và Đông Á (tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Thái) để làm sáng tỏ các kịch bản văn hóa nhận thức phương Đông.
- Hướng 4: Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm tâm lý ngôn ngữ học (Psycholinguistics) và ngôn ngữ học thần kinh (Neurolinguistics) nhằm đo lường thời gian phản xạ và hoạt động não bộ khi người bản ngữ xử lý các động từ nhận thức hàm thực và vô hàm.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án tạo lập một dấu mốc quan trọng trong nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận và ngữ dụng học tại Việt Nam. Công trình mở ra khung tham chiếu tiêu chuẩn cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học khi tiếp cận các trường nghĩa vị từ trừu tượng.
- Đóng góp cho công nghệ ngôn ngữ (AI & NLP): Các phát hiện về cấu trúc tham tố, tính tiền giả định và tính hữu chứng của động từ nhận thức cung cấp nền tảng ngôn ngữ học then chốt để xây dựng các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs), cải thiện độ chính xác trong việc gán nhãn vai nghĩa ngữ nghĩa (Semantic Role Labeling) và đánh giá độ tin cậy của thông tin (Factuality Detection).
- Lợi ích văn hóa - xã hội: Làm sáng tỏ bản sắc tư duy của người Việt thông qua ngôn từ: lối nói rào đón, trọng sự hòa hợp liên nhân và tôn trọng thể diện đối tác giao tiếp được phản ánh sinh động qua cách dùng các tác tử nhận thức.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên Ngôn ngữ học: Tiếp cận một khung phân tích tích hợp liên bình diện mẫu mực, giải quyết triệt để sự nhập nhằng trong phân loại động từ tinh thần.
- Nhà biên soạn từ điển: Nắm bắt phương pháp định nghĩa mục từ dựa trên cấu trúc tham tố cú pháp và mạng lưới ý niệm tri nhận, khắc phục tình trạng giải nghĩa cô lập, tĩnh tại.
- Kỹ sư Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP): Thu nhận bộ dữ liệu phân loại 211 vị từ với các tham số ngữ nghĩa hình thức cụ thể, phục vụ xây dựng từ điển điện tử và ontology ngữ nghĩa tiếng Việt.
- Biên dịch viên và Chuyên gia giáo dục ngôn ngữ: Nâng cao năng lực giải mã và chuyển dịch các sắc thái tình thái, hữu chứng và chiến lược lịch sự trong giao tiếp Anh - Việt.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Luận án đã tích hợp thành công lý thuyết Phạm trù đường rọi (Radical Categories) của George Lakoff với lý thuyết Ngữ dụng hóa (Pragmaticalization) của Karin Aijmer để giải mã toàn diện vị từ nghĩ và cấu trúc Tôi nghĩ trong tiếng Việt. Nghiên cứu chứng minh rằng Tôi nghĩ không đơn thuần là một cụm chủ - vị miêu tả tâm lý mà đã phát triển thành một toán tử logic - tình thái và tác tử ngữ dụng chỉ mức độ cam kết chân lý và thực thi chiến lược lịch sự âm tính.
2. Điểm cách tân phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam là gì? Trả lời: Thay vì dựa thuần túy vào trực cảm ngôn ngữ hay các tiêu chí hình thức đơn lẻ như các công trình ngữ pháp truyền thống (Nguyễn Kim Thản 1977, Nguyễn Tài Cẩn 1977), luận án kết hợp "tam giác hóa" giữa ngữ nghĩa học cấu trúc, ngữ pháp chức năng hệ thống và ngữ nghĩa học tri nhận trên nền tảng khảo cứu thực chứng 1.182 trang văn bản đa phong cách và 41.300 mục từ từ điển.
3. Phát hiện thực nghiệm nào bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu? Trả lời: Vị từ thấy vốn là động từ tri giác thị giác nhưng có tần số chuyển nghĩa sang nhận thức cực kỳ cao, đảm nhận vai trò của một vị từ đánh giá chủ quan với cấu trúc cú pháp hoàn toàn khác biệt so với thấy tri giác. Hiện tượng này khẳng định tính phổ quát của mô hình tri nhận "Thị giác hóa là Nhận thức hóa" trong tiếng Việt tương đồng với các ngôn ngữ biến hình phương Tây.
4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không? Trả lời: Có. Luận án cung cấp hệ thống phụ lục tường minh với danh mục đầy đủ 211 động từ nhận thức tiếng Việt (phân tách rõ 129 từ gốc, 82 từ phái sinh, 184 động từ chính danh, 27 từ kiêm loại), bảng ma trận nét nghĩa, danh mục tác phẩm trích dẫn và các tiêu chí phân lập tham số cú pháp rõ ràng, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập kiểm chứng và tái lập quy trình.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào? Trả lời: Lộ trình tập trung vào việc số hóa cơ sở dữ liệu ngữ nghĩa nhận thức thành kho ngữ liệu gán nhãn cú pháp - ngữ nghĩa (Treebank/PropBank cho tiếng Việt), mở rộng nghiên cứu đối chiếu loại hình học đa ngữ khu vực Đông Nam Á, và ứng dụng phương pháp thực nghiệm đo sóng não (ERP/fMRI) để kiểm chứng quá trình xử lý tâm lý ngôn ngữ học của người bản ngữ.
Kết luận
- Xác lập hệ thống 211 động từ nhận thức tiếng Việt với cấu trúc nội tại gồm 61% động từ nghĩa gốc và 39% động từ nghĩa phái sinh, trong đó 87% là động từ chính danh và 13% kiêm loại động - tính từ, định vị rõ ranh giới học thuật khu biệt với động từ tri giác và tình cảm.
- Chứng minh tính hữu hiệu của việc tích hợp lý thuyết cấu trúc tham tố Tesnière và phân loại sự thể Dik, phân định rạch ròi ba nhóm chức năng: hành động nhận thức, trạng thái nhận thức và quá trình nhận thức trong ngôn ngữ đơn lập.
- Mô hình hóa thành công hiện tượng đa nghĩa của vị từ nghĩ theo cấu trúc phạm trù đường rọi của Lakoff, vạch rõ cơ chế chuyển dịch từ ý niệm tạo tác trí tuệ trung tâm sang các miền phán đoán, đánh giá, tình thái và xúc cảm.
- Làm sáng tỏ quy luật chuyển nghĩa xuyên trường nghĩa từ Tri giác sang Nhận thức của vị từ thấy, khẳng định cơ chế ẩn dụ ý niệm mang tính phổ quát nhân loại trong thế đối sánh với see trong tiếng Anh.
- Giải mã tiến trình ngữ dụng hóa của biểu thức Tôi nghĩ, xác lập tư cách tác tử ngữ dụng thực thi chức năng liên kết diễn ngôn, biểu thị tính hữu chứng và điều tiết chiến lược lịch sự âm tính theo chuẩn mực giao tiếp văn hóa Việt.
- Đặt nền móng học thuật vững chắc cho việc nghiên cứu liên bình diện Ngữ pháp - Ngữ nghĩa - Ngữ dụng trong Việt ngữ học hiện đại, mở ra hướng ứng dụng đột phá trong từ điển học, dịch thuật đối chiếu và công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC --*-- NGUYỄN THỊ THU HÀ NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC HUẾ - 2016 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC --*-- NGUYỄN THỊ THU HÀ NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Mã số : 62 22 02 40 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. Nguyễn Thị Bạch Nhạn HUẾ - 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận án là kết quả nghiên cứu của bản thân. Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo - GS. TSKH Lý Toàn Thắng và cô giáo - TS.
Nguyễn Thị Bạch Nhạn cùng quý thầy cô trong, ngoài trường đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án này. Xin cảm ơn Giáo sư Frank Concilus đã giúp tôi tiếp cận nhiều tài liệu tiếng Anh quý giá ở thư viện Trường Đại học Maryland, Mĩ. Xin cảm ơn những động viên tinh thần, niềm tin yêu, cùng những sẻ chia thiết thực mà gia đình và người thân yêu đã dành tặng tôi. DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU chuyển nghĩa => suy ra ≈ nghĩa tương đương, xấp xỉ ≠ nghĩa khác nhau, không tương đương >< nghĩa đối lập nhau, trái nghĩa > khả năng chuyển nghĩa nhiều hơn < khả năng chuyển nghĩa ít hơn >> mức độ xác tín cao hơn hoán đổi vị trí cho nhau * câu đi sau * không được chấp nhận & và a+b a và b, a đi cùng với b, a kết hợp với b [+/- x] có/không có thuộc tính x DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AMDV: Ăn mày dĩ vãng, Chu Lai CONK: Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều Cd: ca dao Đg: động từ GBBT: Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh HPNT: Hoàng Phủ Ngọc Tường HTBDGT: Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lưu Quang Vũ ML: Mê lộ, Phạm Thị Hoài NBCT: Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh P: mệnh đề PS: phóng sự PV: phỏng vấn T: tính từ TA: tiếng Anh TB: thông báo TGĐ: tiền giả định TK: Truyện Kiều, Nguyễn Du TL: trả lời TS&SN: Mục Thời sự và Suy nghĩ, Báo Tuổi trẻ TV: tiếng Việt TVH: Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp TXV: Thời xa vắng, Lê Lựu TTTN NHT: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Vd: ví dụ MỤC LỤC Trang phụ bìa Trang Lời cam đoan Lời cảm ơn Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt Mục lục Danh mục các bảng và mô hình MỞ ĐẦU.
Lí do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu. Ngữ liệu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án. Bố cục của luận án. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT.
Tình hình nghiên cứu động từ chỉ hoạt động nhận thức ở nước ngoài. Tình hình nghiên cứu động từ chỉ hoạt động nhận thức ở Việt Nam. Hoạt động nhận thức từ một số phương diện tiếp cận. Cơ sở lí thuyết cho việc nghiên cứu động từ chỉ hoạt động nhận thức.
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT. Cách tiếp cận “đường hướng nhiều tiêu chí” của ngữ pháp cấu trúc. Về từ loại. Ý nghĩa khái quát.
Khả năng kết hợp. Chức năng cú pháp. Cách tiếp cận của ngữ pháp chức năng. Cấu trúc tham tố của động từ nhận thức.
Phân loại động từ nhận thức theo tham số ngữ nghĩa [+/- động] và [+/- chủ ý]. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT. Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt. Dựa vào tiêu chí [+/- nét nghĩa đánh giá hoạt động] trong cấu trúc nghĩa của động từ.
Dựa vào tiêu chí [+/- TGĐ] trong cấu trúc nghĩa của động từ chỉ hoạt động nhận thức. Quan hệ ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hoạt động nhận thức tiêu biểu trong tiếng Việt. Hiện tượng đa nghĩa của động từ nghĩ. Hiện tượng đồng nghĩa, gần nghĩa, bao nghĩa của nhóm biết - hiểu.
Một số đặc điểm ngữ nghĩa đặc thù của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức. Hiện tượng trung gian giữa động từ chỉ hoạt động nhận thức và động từ chỉ tâm lí - tình cảm .2 Sự chuyển nghĩa của động từ tri giác vào động từ nhận thức và trường hợp của động từ thấy. Khả năng biểu thị nghĩa tình thái của động từ chỉ hoạt động nhận thức và trường hợp Tôi nghĩ. ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA MỘT SỐ BIỂU THỨC NGÔN NGỮ CÓ CHỨA ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC.116 TRONG TIẾNG VIỆT (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH).
Khả năng ngữ dụng hóa để trở thành tác tử ngữ dụng. Chức năng của các tác tử ngữ dụng có chứa động từ nhận thức. Chức năng tổ chức và tương tác hội thoại. Chức năng nối kết chủ quan (intersubjectivity).
Chức năng cộng tác hội thoại. Chiến lược lịch sự. Hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại .138 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ .142 TÀI LIỆU THAM KHẢO .143 TỪ ĐIỂN TRA CỨU NGỮ LIỆU KHẢO SÁT VÀ MINH HỌA PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ MÔ HÌNH DANH MỤC CÁC BẢNG (20 bảng) Chương 2 2. Một số đặc điểm của nhóm động từ nhận thức 2.
Tần số xuất hiện của 8 động từ nhận thức phổ biến trong tiếng Việt 2. Bổ ngữ của động từ tri giác và động từ nhận thức 2. Diễn tố điển hình đảm nhận vai tác thể, nghiệm thể, phát ngôn thể 2. Phân loại động từ nhận thức theo tham số ngữ nghĩa [+/-động] và [+/- chủ ý] Chương 3 3.
Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nhận thức theo tiêu chí [+/- nét nghĩa đánh giá hoạt động] 3. Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nhận thức theo tiêu chí [+/- tiền giả định] 3. Sự tổ chức ý niệm NGHĨ của người Việt, người Anh và sự thể hiện qua ngôn ngữ 3. Các phạm vi nghĩa của động từ biết trong tiếng Việt và hình thức tương ứng trong tiếng Anh 3.
Động từ nhận thức và động từ đan xen nhận thức - tình cảm 3. Sự phân bố của động từ thấy, nghĩ, tin ở phạm vi nghĩa đánh giá trong tiếng Việt và hình thức tương ứng trong tiếng Anh 3. Các phạm vi nghĩa của động từ thấy 3. Sự phân bố của động từ thấy trong các phạm vi nghĩa 3.
Cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của thấy - động từ tri giác và thấy - động từ nhận thức 3. Bổ ngữ của thấy - động từ tri giác và thấy - động từ nhận thức 3. Các kiểu bổ ngữ của động từ thấy ở phạm vi nghĩa nhận thức 3. Mức độ sử dụng các cấu trúc đánh giá trong bài phỏng vấn trên báo năm 2012 3.
Sự chuyển nghĩa của động từ thấy trong tiếng Việt và động từ see trong tiếng Anh vào lĩnh vực nhận thức Chương 4 4. Tần số xuất hiện của các cấu trúc đánh giá ở bài phỏng vấn trong tiếng Việt 4. Tần số xuất hiện của các cấu trúc đánh giá trong tiếng Anh DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH (10 mô hình) Chương 1 1. Mô hình phạm trù đường rọi 1.
Mô hình tính hữu chứng 1. Mô hình ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa Chương 2 2. Sự giao nhau giữa động từ chỉ hành động nhận thức và động từ chỉ trạng thái nhận thức 2. Sự giao nhau giữa động từ chỉ trạng thái nhận thức và động từ chỉ quá trình nhận thức Chương 3 3.
Cấu trúc đa nghĩa của động từ think theo cách tiếp cận của ngữ nghĩa học truyền thống 3. Cấu trúc đa nghĩa của think theo cách tiếp cận của ngữ nghĩa học tri nhận 3. Cấu trúc đa nghĩa của nghĩ theo mô hình phạm trù đường rọi 3. Thang độ xác tín của người nói đối với tính chân thực của mệnh đề Chương 4 4.
Thang độ của tính hữu chứng MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất và đặc thù của con người. Thời nào, ở đâu cũng thế, con người không thể tồn tại và phát triển nếu không có nhận thức. Hoạt động này vì vậy là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều khoa học: triết học, logic học, tâm lí học, nhân học, sinh học, thần kinh học, v.
Tuy nhiên, nó có tính tinh thần, hoàn toàn trừu tượng, nhờ phương tiện ngôn ngữ mà được di chuyển ra bên ngoài. Ở đây, trong quá trình sáng tạo ngôn ngữ, con người đã gọi tên hoạt động nhận thức một cách đầy đủ, phong phú và tinh tế bằng một số các từ gọi chung là từ chỉ hoạt động nhận thức như: biết, nghĩ, hiểu, tưởng, nhớ, quên, v. Điều này sẽ được khẳng định khi chúng ta đi vào tìm hiểu những đặc điểm ngôn ngữ của nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt. Từ bình diện ngữ nghĩa, gần đây, ngữ nghĩa học đã có được năng lực giải thích lớn cho các đơn vị từ vựng khi kết hợp ngữ nghĩa học hướng hệ thống với ngữ nghĩa học hướng lời nói, cũng như cách tiếp cận với nhiều kiến giải thú vị của ngữ nghĩa học tri nhận.
Nhiều trường phái xuất hiện với lí thuyết trường nghĩa, phương pháp phân tích nghĩa vị, những thử nghiệm phân tích logic ngôn ngữ tự nhiên, nghĩa của lời, của văn bản, v. đã mang lại tiến bộ đáng kể cho khoa học ngôn ngữ thì việc lựa chọn ngữ nghĩa học từ vựng cùng việc vận dụng những thành tựu của ngữ nghĩa học tri nhận để nghiên cứu nhóm từ này là một công việc hợp lí. Thêm vào đó, trong mấy chục năm qua, hướng nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ đã đem lại nhiều thành tựu về lí thuyết cũng như ứng dụng, vậy nên trong quá trình triển khai vấn đề, việc liên hệ đối chiếu với tiếng Anh ở những điểm cần thiết là điều có ý nghĩa, nhằm làm nổi bật những đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của nhóm từ này trong tiếng Việt, đồng thời góp phần phục vụ cho những nhu cầu thiết thực của xã hội như: học tiếng, dịch thuật, biên soạn từ điển, v. Ngoài ra, khó có một hình dung đầy đủ, một hiểu biết trọn vẹn về các trường nghĩa cơ bản trong tiếng Việt nếu như bỏ qua trường nghĩa chỉ hoạt động nhận thức, hoạt động phức tạp nhưng là hoạt động mang tính loài, góp phần định tính con người về mặt xã hội.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Thu Hà (2016). Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh [Luận án tiến sĩ, trường đại học khoa học, đại học huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/ngon-ngu-hoc/ngon-ngu-hoc-doi-chieu/nhom-dong-tu-nhan-thuc-trong-tieng-viet-lien-he-tieng-anh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt, liên hệ và so sánh với tiếng Anh để phân tích chi tiết ngữ pháp.
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại trường đại học khoa học, đại học huế. Năm bảo vệ: 2016.
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học. Danh mục: Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu.
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" có 206 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nhóm động từ nhận thức trong tiếng Việt liên hệ tiếng Anh" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.