Luận án chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam - Nghiên cứu khoa học
Luận án nghiên cứu chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý và trách nhiệm hình sự.
Số trang
173
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khái niệm và các điều kiện của chủ thể tội phạm hiện nay
- Số trang:
- 173 trang
- Chuyên ngành:
- Luật hình sự
- Tác giả:
- Trần Thị Ngọc Hiếu
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khái niệm và các điều kiện của chủ thể tội phạm hiện nay
Chủ thể tội phạm giữ vai trò trung tâm trong khoa học luật hình sự. Yếu tố này là một trong bốn yếu tố cơ bản tạo nên cấu thành tội phạm. Hành vi phạm tội phản ánh ý chí chủ quan ra thế giới bên ngoài. Ý chí đó được thể hiện qua hành động hoặc không hành động. Nếu không có chủ thể, hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ không tồn tại. Mọi yếu tố khách thể hay mặt khách quan đều bắt nguồn từ hành vi của chủ thể. Việc xác định đúng chủ thể giúp bảo đảm nguyên tắc công bằng. Pháp luật hình sự Việt Nam luôn đặt con người ở vị trí trọng tâm. Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 đã mở rộng phạm vi chủ thể. Sự thay đổi này đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm trong thời kỳ mới. Việc nhận diện chính xác chủ thể giúp hoạt động truy cứu trách nhiệm diễn ra minh bạch.
1.1. Năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện tiên quyết của cá nhân phạm tội. Điều kiện này bao gồm năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Cá nhân phải hiểu rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Đồng thời, người đó phải có khả năng làm chủ hành động thực tế. Khi một người mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức, pháp luật coi đó là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Những người rơi vào tình trạng này không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tòa án áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc thay vì hình phạt. Việc đánh giá năng lực tâm thần cần dựa trên kết luận giám định pháp y. Cơ quan tố tụng phải kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ bệnh án. Quy định này bảo đảm tính nhân đạo sâu sắc của pháp luật hình sự.
1.2. Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự phản ánh mức độ phát triển thể chất và tâm lý. Người đủ tuổi luật định mới có đủ khả năng nhận thức về tội phạm. Theo pháp luật Việt Nam, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội mang tính giáo dục và phục hồi. Hình phạt áp dụng cho lứa tuổi này luôn nhẹ hơn so với người đã thành niên. Cơ quan tiến hành tố tụng ưu tiên các biện pháp giám sát và hòa giải tại cộng đồng. Xác định chính xác ngày tháng năm sinh là yêu cầu bắt buộc khi lập hồ sơ vụ án.
1.3. Mối quan hệ giữa chủ thể và cấu thành tội phạm
Chủ thể có mối liên hệ hữu cơ với các yếu tố khác trong cấu thành tội phạm. Không có chủ thể thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ. Mặt chủ quan phản ánh lỗi, động cơ và mục đích của chính chủ thể đó. Mặt khách quan mô tả phương thức, phương tiện mà chủ thể sử dụng. Nếu thiếu dấu hiệu về chủ thể, hành vi không cấu thành tội phạm. Việc xác định sai chủ thể dẫn tới oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Khoa học luật hình sự coi chủ thể là điểm tựa để phân tích toàn bộ vụ án. Mọi phán quyết của Tòa án đều phải dựa trên chứng cứ xác thực về tư cách chủ thể.
II. Phân loại chi tiết các nhóm chủ thể tội phạm ở Việt Nam
Pháp luật hình sự phân chia chủ thể thành các nhóm cụ thể nhằm cá thể hóa trách nhiệm. Sự phân loại này dựa trên các đặc điểm pháp lý và bản chất hành vi. Trước năm 2015, luật chỉ công nhận cá nhân là chủ thể tội phạm. Hiện nay, hệ thống pháp luật đã bổ sung thêm tổ chức kinh tế. Việc phân loại rõ ràng giúp cơ quan điều tra định tội danh chính xác. Mỗi nhóm chủ thể có các điều kiện chịu trách nhiệm riêng biệt. Tòa án căn cứ vào phân loại để quyết định hình phạt phù hợp. Các nhóm chủ thể chủ yếu gồm cá nhân thông thường, chủ thể đặc biệt và pháp nhân. Cách tiếp cận đa dạng này phản ánh sự phát triển của lý luận hình sự hiện đại.
2.1. Cá nhân là chủ thể tội phạm thông thường và phổ biến
Cá nhân là chủ thể tội phạm truyền thống và xuất hiện nhiều nhất trong thực tiễn. Một cá nhân trở thành chủ thể khi đáp ứng hai điều kiện cơ bản. Thứ nhất, cá nhân phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Thứ hai, cá nhân phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi. Hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện thể hiện trực tiếp qua cơ bắp hoặc lời nói. Cá nhân có thể phạm tội với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Trách nhiệm hình sự của cá nhân gắn liền với thân nhân và nhân thân người phạm tội. Hình phạt áp dụng cho cá nhân bao gồm phạt tiền, tù có thời hạn hoặc tử hình. Mục đích xử lý cá nhân nhằm trừng trị, răn đe và giáo dục cải tạo.
2.2. Đặc điểm của chủ thể đặc biệt của tội phạm
Chủ thể đặc biệt của tội phạm là nhóm chủ thể mang thêm các dấu hiệu bổ sung. Ngoài năng lực hành vi và độ tuổi, họ phải có chức vụ, quyền hạn hoặc quan hệ đặc thù. Ví dụ, tội phạm về chức vụ đòi hỏi người thực hiện phải là người có thẩm quyền. Tội bức cung chỉ do người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp thực hiện. Tội loạn luân đòi hỏi quan hệ huyết thống hoặc gia đình trực hệ. Nếu thiếu các dấu hiệu đặc thù này, hành vi không thể cấu thành tội danh tương ứng. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt vừa là yếu tố định tội, vừa là tình tiết tăng nặng. Việc nhận diện đúng chủ thể đặc biệt ngăn chặn tình trạng lạm quyền trong bộ máy nhà nước.
2.3. Quy định mới về pháp nhân thương mại phạm tội
Pháp nhân thương mại phạm tội là chế định hoàn toàn mới trong luật hình sự Việt Nam. Quy định này ra đời nhằm xử lý các hành vi sai phạm có tổ chức của doanh nghiệp. Pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm hình sự về một số tội danh kinh tế và môi trường. Hành vi phạm tội của pháp nhân phải được thực hiện nhân danh tổ chức. Hành vi đó phải vì lợi ích của tổ chức và có sự chỉ đạo từ người đại diện. Việc xử lý pháp nhân không loại trừ trách nhiệm cá nhân của người trực tiếp thực hiện. Hình phạt áp dụng cho pháp nhân gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh. Quy định này bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh và phát triển bền vững.
III. Quy định Bộ luật hình sự về chủ thể tội phạm hiện hành
Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 đánh dấu bước tiến lớn trong kỹ thuật lập pháp. Bộ luật đã hoàn thiện hệ thống khái niệm về chủ thể và điều kiện xử lý. Các điều luật mô tả chi tiết từng nhóm hành vi và đối tượng áp dụng. Việc bổ sung tư cách chủ thể cho tổ chức thương mại thể hiện tư duy hội nhập quốc tế. Thực tiễn áp dụng các quy định này đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực. Cơ quan tiến hành tố tụng đã xử lý nghiêm minh nhiều vụ án phức tạp. Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn bộc lộ vướng mắc khi triển khai. Các tranh chấp về xác định độ tuổi và năng lực tâm thần vẫn đòi hỏi hướng dẫn cụ thể hơn.
3.1. Điểm mới của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017
Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 bổ sung nhiều nội dung mang tính đột phá. Lần đầu tiên, luật thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Luật cũng thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Danh mục các tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm được liệt kê rõ ràng. Kỹ thuật lập pháp chuyển từ định tính sang định lượng cụ thể. Các khái niệm về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được diễn đạt chuẩn xác hơn. Những sửa đổi này nâng cao tính minh bạch và bảo đảm quyền con người. Cơ quan tư pháp áp dụng luật thuận tiện và thống nhất hơn trên phạm vi toàn quốc.
3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật đối với cá nhân phạm tội
Thực tiễn điều tra và xét xử cá nhân phạm tội ghi nhận nhiều kết quả vững chắc. Các cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc suy đoán vô tội. Việc giám định năng lực nhận thức và điều khiển hành vi được thực hiện bài bản. Tuy vậy, một số địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc xác định tuổi của đối tượng lang thang. Công tác phối hợp giữa cơ quan giám định tâm thần và công an đôi khi còn chậm trễ. Một số trường hợp người chưa thành niên phạm tội chưa được áp dụng đầy đủ biện pháp chuyển hướng. Việc khắc phục những tồn tại này đòi hỏi sự đổi mới trong quy trình thu thập chứng cứ. Đội ngũ cán bộ tư pháp cần được bồi dưỡng kiến thức tâm lý tội phạm thường xuyên.
3.3. Vướng mắc khi truy cứu pháp nhân thương mại vi phạm
Truy cứu trách nhiệm đối với pháp nhân thương mại vẫn là thách thức lớn trong thực tiễn. Số lượng vụ án khởi tố pháp nhân thương mại phạm tội còn khá khiêm tốn. Khó khăn lớn nhất nằm ở việc chứng minh hành vi vì lợi ích của pháp nhân. Cơ chế phân định giữa lỗi của người quản lý và ý chí của pháp nhân chưa rõ ràng. Việc kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp gặp nhiều rào cản hành chính. Một số chế tài đình chỉ hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến người lao động vô can. Tòa án cần hướng dẫn áp dụng thống nhất các biện pháp tư pháp đối với tổ chức. Cần có cơ chế kiểm toán độc lập để xác định chính xác khoản lợi bất chính.
IV. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chủ thể tội phạm
Hoàn thiện pháp luật về chủ thể tội phạm là đòi hỏi tất yếu của cải cách tư pháp. Hệ thống giải pháp cần kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn thi hành. Việc hoàn thiện quy định giúp tòa án xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Cần tập trung giải quyết các bất cập trong phân loại và chứng minh tư cách chủ thể. Đổi mới quy trình tố tụng giúp tăng cường bảo vệ quyền công dân. Các cơ quan lập pháp cần tiếp tục rà soát Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017. Sự đồng bộ giữa luật hình sự, tố tụng hình sự và pháp luật hành chính là then chốt. Nâng cao năng lực cán bộ tư pháp cũng là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài.
4.1. Hoàn thiện quy định về năng lực và độ tuổi pháp lý
Nhà nước cần bổ sung các tiêu chí cụ thể để xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Quy trình giám định tâm thần tư pháp cần được rút ngắn và chuẩn hóa. Cần có quy định rõ ràng về tình trạng say rượu hoặc chất kích thích khác làm mất khả năng nhận thức. Đối với độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, luật cần hướng dẫn chi tiết cách tính tuổi khi thiếu giấy khai sinh. Cần mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc cá thể hóa hình phạt cho thanh thiếu niên cần dựa trên báo cáo điều tra xã hội học. Những cải tiến này giúp xây dựng môi trường tư pháp thân thiện và văn minh hơn.
4.2. Đồng bộ cơ chế xử lý pháp nhân và chủ thể đặc biệt
Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn về pháp nhân thương mại phạm tội. Cần làm rõ khái niệm hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân. Cần phân định ranh giới trách nhiệm giữa công ty mẹ và công ty con trong các tập đoàn kinh tế. Đối với chủ thể đặc biệt của tội phạm, pháp luật cần định nghĩa rõ hơn về người có chức vụ. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu khi xảy ra sai phạm cũng cần được siết chặt. Các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với doanh nghiệp cần bảo đảm không làm đình trệ chuỗi cung ứng. Việc đồng bộ hóa quy định bảo đảm xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm pháp.
4.3. Tăng cường đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp
Chất lượng áp dụng pháp luật phụ thuộc quyết định vào trình độ của cán bộ tiến hành tố tụng. Các trường đào tạo luật cần cập nhật sâu sắc lý luận về cấu thành tội phạm và các yếu tố chủ thể. Điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán cần được tập huấn thường xuyên về kỹ năng giám định pháp y tâm thần. Cần tổ chức các hội thảo khoa học chuyên đề về tội phạm kinh tế và môi trường do tổ chức thực hiện. Việc xây dựng sổ tay hướng dẫn giải quyết án hình sự có chủ thể phức tạp là rất cần thiết. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ nhân thân giúp tra cứu tiền án, tiền sự nhanh chóng. Đội ngũ tư pháp vững chuyên môn sẽ hạn chế tối đa các sai sót trong xét xử.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (173 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các đề xuất, kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào. Nghiên cứu sinh Trần Thị Ngọc Hiếu MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu về chủ thể của tội phạm.
Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến chủ thể của tội phạm. 19 Chƣơng 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM. Khái niệm và các điều kiện của chủ thể của tội phạm. Phân loại chủ thể của tội phạm.
Mối quan hệ giữa chủ thể của tội phạm với một số phạm trù khác. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề về chủ thể của tội phạm. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015. 59 Chƣơng 3 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
Thực tiễn quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về chủ thể của tội phạm. Thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về chủ thể của tội phạm ở nước ta. Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về chủ thể của tội phạm và nguyên nhân. 120 Chƣơng 4 YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM.
Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự về chủ thể của tội phạm. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật hình sự về chủ thể của tội phạm. 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC. 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
152 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BLDS: Bộ luật Dân sự BLHS: Bộ luật Hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm NCTN: Người chưa thành niên NLTNHS: Năng lực trách nhiệm hình sự Nxb: Nhà xuất bản TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự XHCN: Xã hội chủ nghĩa MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự là chủ thể của tội phạm. Tầm quan trọng của vấn đề về chủ thể của tội phạm không chỉ thể hiện ở chỗ chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) mà còn thể hiện ở chỗ chủ thể của tội phạm còn là yếu tố giữ vai trò “chi phối” các yếu tố khác của cấu thành tội phạm. Vấn đề là ở chỗ, nói đến tội phạm là nói đến hành vi phạm tội mà hành vi phạm tội đến lượt mình là sự thể hiện ý chí của chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) ra thế giới bên ngoài dưới hình thức hành động hoặc không hành động phạm tội.
Như vậy, nếu không có chủ thể của tội phạm (con người với tư cách là chủ thể của hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại với tư cách là chủ thể của hoạt động phạm tội) thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu không có chủ thể của tội phạm thì không cần phải xem xét đến các yếu tố khách thể, mặt khách quan của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Hơn thế, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tội phạm tương ứng không những trái với các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự mà còn không đạt được mục đích của luật hình sự. Mặc dù vậy, trong một thời gian dài, trong khoa học luật hình sự nước ta, tội phạm được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể là thể nhân (cá nhân) thực hiện.
Hơn thế, vấn đề chủ thể của tội phạm chủ yếu được đề cập nghiên cứu trong các giáo trình luật hình sự ở bậc đào tạo đại học; có không nhiều các luận văn thạc sĩ luật học có đề cập nghiên cứu chủ thể của tội phạm, nhưng chưa toàn diện và sâu sắc; còn trong các công trình nghiên cứu khác, chủ thể của tội phạm chỉ được nhắc đến “một cách nhân tiện” khi nghiên cứu các vấn đề khác của luật hình sự, chẳng hạn như các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS), miễn trách nhiệm hình sự…Nhiều vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm chưa được đặt ra hoặc đã được đặt ra nghiên cứu nhưng nhưng chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh lý luận cần phải có của chủ thể của tội phạm. Thực trạng nghiên cứu lý luận về chủ thể tội phạm ở nước ta, vì vậy chỉ mới dừng lại ở mức độ cơ bản (đại học). Nguyên nhân chính của thực trạng này không chỉ xuất phát từ tính đa dạng, phức tạp của chính bản thân vấn đề chủ thể của tội phạm mà còn xuất phát từ tiếp cận nghiên cứu đơn cực tức chỉ bằng một hoặc một vài cách tiếp cận được sử dụng để nghiên cứu chủ thể của tội phạm. Trong khi đó mối liên hệ đa chiều của lý luận về chủ thể của tội phạm chỉ có thể được làm sáng tỏ bằng phương pháp luận của nó không chỉ là phương pháp luận của triết học Mác-Lênin mà trong phương pháp luận này có cả các cách tiếp cận nghiên cứu (phương pháp nhận thức) xã hội học tâm lý học, hệ thống học, tội phạm học… 1 Thực trạng nghiên cứu lý luận như đã phân tích khái quát trên đây tác động mạnh mẽ đến kết quả lập pháp hình sự của nước ta về chủ thể của tội phạm.
Trong các Bộ luật hình sự năm 1985 và 1999, chủ thể của tội phạm được quy định là thể nhân (cá nhân). Khá nhiều vấn đề, chẳng hạn như độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chủ thể đặc biệt của tội phạm, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm…chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ và tối ưu. Thực trạng nghiên cứu lý luận cũng như thực trạng lập pháp hình sự nước ta về chủ thể của tội phạm như đã phân tích khái quát trên đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm. Trong số những vi phạm, sai lầm trong định tội danh, quyết định hình phạt đối với người phạm tội, có cả những vi phạm, sai lầm liên quan đến xác định chủ thể của tội phạm, nhất là trong trường hợp đồng phạm.
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta cho thấy, do nhận thức về chủ thể của tội phạm chưa đầy đủ và thống nhất dẫn đến quá trình xây dựng pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm còn hạn chế, như việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, xác định năng lực trách nhiệm hình sự, xác định những dấu hiệu đặc biệt của chủ thể đặc biệt do đó, ảnh hưởng đến việc quyết định trách nhiệm hình sự, hình phạt chưa phù hợp dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước. Nghiêm trọng hơn, thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đó phần nào làm cho tình hình tội phạm ở nước ta tuy có phần được kiềm chế nhưng diễn biến hết sức phức tạp. Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm trong cả nước, các Tòa án thụ lý trên dưới 70 đến 80 ngàn vụ án hình sự với trên 100 ngàn bị cáo, trong đó, nổi bật các vụ án giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tham ô, nhận hối lộ, … Để khắc phục những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về chủ thể của tội phạm, tăng cường khả năng và giá trị của pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và phát triển mạnh mẽ pháp luật hình sự nước ta theo hướng ngày càng nhân đạo hóa, phân hóa, quốc tế hóa…Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam bổ sung những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội không những đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan của cuộc sống, của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, của sự nghiệp cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, mà còn góp phần phát triển hơn nữa nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện đầy đủ sự công bằng, văn minh trong xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, việc bổ sung các quy định đối với pháp nhân tương mại phạm tội cũng làm cho vấn đề chủ thể của tội phạm càng trở nên phức tạp hơn cả về mặt lý luận, cả về mặt thể chế hóa pháp luật cả về mặt áp dụng pháp luật 2 hình sự trong pháp luật hình sự trong thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Bởi sự động và phát triển không ngừng của đời sống xã hội, những điểm hạn chế trong các quy định về chủ thể của tội phạm là thể nhân (cá nhân) chưa được khắc phục hoàn toàn, những quy định đối với pháp nhân thương mại vừa được bổ sung vào Bộ luật hình sự, thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm chắc chắn không thể tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Từ những điều phân tích khái quát trên đây, có thể khẳng định rằng, nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện các khía cạnh của lý luận cũng như của thực trạng quy định và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm để đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm, rõ ràng là việc làm có tính cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị Ngọc Hiếu (n.d.). Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hinh-su/luan-an-chu-the-cua-toi-pham-theo-phap-luat-hinh-su-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý và trách nhiệm hình sự.
Luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự. Danh mục: Luật Hình Sự.
Luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" có 173 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án chủ thể tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.