Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm phía nam 1993 2008 lu

Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2020-2024

Chuyên ngành
Kinh tế học
Tác giả

Luan An

Số trang

211

Thời gian đọc

32 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Quan điểm phát triển Vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam

Hệ thống vùng kinh tế của mỗi quốc gia hình thành khách quan. Các vùng này có nhiều cấp độ khác nhau. Luôn có một số vùng vượt trội về trình độ sản xuất. Cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí, mức sống dân cư cũng cao hơn. Sự vượt trội này mang tính khách quan và là sản phẩm nhận thức con người. Các vùng thuận lợi này thu hút đầu tư trong và ngoài nước, mang lại hiệu quả cao hơn.

1.1. Lý do hình thành VKTTĐ

Các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) hình thành một cách khách quan. Chúng có nhiều cấp độ khác nhau. Những vùng này thường vượt trội về trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng. Trình độ dân trí và mức sống dân cư cũng cao hơn. Sự vượt trội này vừa khách quan, vừa là sản phẩm nhận thức con người. Các VKTTĐ mang lại điều kiện thuận lợi hơn, thu hút đầu tư hiệu quả.

1.2. Vai trò động lực tăng trưởng

Điều hành vĩ mô đối mặt với nguồn vốn có hạn. Việc ưu tiên đầu tư vào VKTTĐ tạo cục diện mới. Điều này thúc đẩy phát triển đồng đều các vùng kinh tế khác. Giai đoạn tiếp theo sẽ có sự phát triển đồng đều hơn. Trên thế giới, nhiều quốc gia có VKTTĐ cấp quốc gia. Các vùng lãnh thổ và tỉnh cũng có VKTTĐ cấp nhỏ hơn.

1.3. Chính sách ưu tiên đầu tư

Việt Nam đã chuyển đổi cơ chế quản lý. Từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước. Đảng và Chính phủ xác định phát triển địa bàn kinh tế trọng điểm. Mục tiêu tạo ra sự phát triển nhanh. Nó tạo động lực lôi kéo các vùng khác phát triển. Đồng thời giảm bớt cách biệt về phát triển không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ.

II. Diễn tiến hình thành Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Việt Nam xác định rõ quan điểm phát triển các địa bàn kinh tế trọng điểm. Mục tiêu tạo ra sự phát triển nhanh, làm động lực. Đầu tiên là ba “Tam giác trọng điểm” cuối thập niên 80. Các khu vực này dần được mở rộng và nâng cấp thành Vùng kinh tế trọng điểm, đặc biệt ở phía Nam.

2.1. Giai đoạn Tam giác trọng điểm

Trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, ba “Tam giác trọng điểm” được hình thành. Phía Bắc có Tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Phía Nam có Tam giác TP.HCM - Đồng Nai - Bà Rịa-Vũng Tàu. Khu vực miền Trung có Tam giác Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Ngãi. Đây là các đỉnh phát triển ban đầu của đất nước.

2.2. Mở rộng Địa bàn và Vùng kinh tế trọng điểm

Trong quá trình phát triển, các Tam giác trọng điểm được mở rộng. Chúng chuyển đổi thành các Địa bàn kinh tế trọng điểm (ĐBKTTĐ). Sau đó là các Vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ). Những chính sách đặc thù của Đảng và Nhà nước được ban hành. Mục tiêu tạo ra sự phát triển nhanh, có sức lan tỏa lớn đến các vùng ảnh hưởng.

2.3. Các quyết định mở rộng không gian

Đông Nam Bộ hình thành ĐBKTTĐ phía Nam từ năm 1993. Gồm TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương. Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy hoạch VKTTĐPN. Tháng 7/2003, Thủ tướng bổ sung Tây Ninh, Bình Phước và Long An. Tháng 9/2005, tỉnh Tiền Giang được thêm vào. Hiện tại, VKTTĐPN có 8 tỉnh, thành. Khu vực hạt nhân gồm TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu.

III. Đóng góp kinh tế vượt trội của VKTTĐ phía Nam

VKTTĐ phía Nam trở thành cực tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh. Vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khu vực này đóng góp quyết định vào tăng trưởng kinh tế chung cả nước. Vùng tạo động lực đáng kể cho quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội khu vực Nam bộ.

3.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt trội

VKTTĐPN có lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng. Vùng trở thành một cực tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,6%. Vùng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

3.2. Đóng góp vào ngân sách quốc gia

VKTTĐPN đóng vai trò quyết định vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Vùng tạo động lực đáng kể cho quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội khu vực Nam bộ. Tổng thu ngân sách của Vùng chiếm 66,5% tổng thu ngân sách quốc gia. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng to lớn của vùng.

3.3. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực

Cơ cấu kinh tế của Vùng năm 2007 có sự chuyển dịch rõ rệt. Khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 7,3%. Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 56,3%. Khu vực dịch vụ chiếm 36,4%. Thu nhập bình quân đầu người của vùng đạt 31,4 triệu đồng/năm. Mức này gấp 2,6 lần mức bình quân cả nước. Nó cũng gấp 1,9 lần VKTTĐBB và 3,2 lần VKTTĐMT.

IV. Ảnh hưởng lan tỏa vị thế kinh tế VKTTĐPN

VKTTĐPN không chỉ phát triển nội tại. Vùng còn có sức lan tỏa mạnh mẽ đến các địa phương xung quanh. Đặc biệt là khu vực Nam Bộ. Vùng giữ vị thế xuất khẩu cao và là khu vực duy nhất xuất siêu. Đóng góp vào công nghiệp và xuất khẩu quốc gia là rất lớn.

4.1. Động lực cho khu vực Nam Bộ

VKTTĐPN không chỉ tăng trưởng riêng. Vùng còn tạo động lực đáng kể cho quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội. Khu vực Nam Bộ được hưởng lợi từ sự phát triển này. Đặc biệt là các địa phương gần kề VKTTĐPN có điều kiện phát triển nhanh.

4.2. Khả năng xuất khẩu xuất siêu

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của vùng đạt 56,4 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 36,8 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu là 19,6 tỷ USD. VKTTĐPN là vùng có khả năng xuất khẩu cao. Vùng cũng là vùng duy nhất của cả nước có khả năng xuất siêu.

4.3. Nâng cao sức cạnh tranh quốc gia

Theo báo cáo, VKTTĐPN chiếm tỷ trọng 60% giá trị sản xuất công nghiệp. Vùng cũng chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc. Những con số này minh chứng cho vị thế quan trọng. VKTTĐPN góp phần quyết định nâng cao hiệu quả. Vùng tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm phía nam 1993 2008 luận án

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (211 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Hệ thống vùng kinh tế của mỗi quốc gia được hình thành một cách khách quan, có nhiều cấp độ khác nhau và bao giờ cũng có một số vùng vượt trội về trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí và mức sống của dân cư. Sự vượt trội đó vừa mang tính chất khách quan vừa là sản phẩm của nhận thức chủ quan của con người. Những vùng vượt trội thường có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với các vùng khác, mà bất cứ một chủ thể sản xuất nào ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều nhận thấy đầu tư vào các vùng này có hiệu quả hơn.

Mặt khác, về điều hành vĩ mô, hoàn cảnh nguồn vốn có hạn, việc ưu tiên đầu tư vào các vùng này sẽ sớm tạo ra cục diện mới, thúc đẩy phát triển đồng đều các vùng kinh tế khác ở giai đoạn tiếp theo. Trên thế giới hầu hết các nước đều có các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) cấp quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ và mỗi tỉnh có VKTTĐ ở cấp nhỏ hơn trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Ở Việt Nam, từ sau thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ quan điểm trước hết phát triển các địa bàn kinh tế trọng điểm nhằm tạo ra sự phát triển nhanh, tạo động lực lôi kéo các vùng khác phát triển, giảm bớt sự cách biệt về sự phát triển không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ. Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, ba “Tam giác trọng điểm” được hình thành ở ba vùng của đất nước.

Ở phía Bắc có Tam giác trọng điểm với 3 đỉnh phát triển là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Ở phía Nam có Tam giác trọng điểm với 3 đỉnh 2 phát triển là thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) - Đồng Nai - Bà Rịa-Vũng Tàu. Ở khu vực miền Trung có Tam giác trọng điểm với 3 đỉnh phát triển là Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Ngãi. Trong quá trình phát triển, các Tam giác trọng điểm được mở rộng thêm, chuyển đổi thành các Địa bàn kinh tế trọng điểm (ĐBKTTĐ) và sau đó là các Vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) với những chính sách đặc thù của Đảng và Nhà nước để tạo ra sự phát triển nhanh, có sức lan tỏa lớn đến các vùng ảnh hưởng.

Tại Đông Nam bộ, từ năm 1993, Địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam (ĐBKTTĐPN) đã được hình thành bao gồm TP.HCM, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Bình Dương. Để ĐBKTTĐPN có điều kiện trở thành một địa bàn kinh tế phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, Chính phủ đã có kế hoạch mở rộng và quy hoạch ĐBKTTĐPN trở thành Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN). Theo hướng đó, đầu năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010. VKTTĐPN theo Quyết định này gồm 4 tỉnh, thành (cũng chính là 4 địa phương thuộc ĐBKTTĐPN trước kia là TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương).

Trong quá trình phát triển, để tạo cho các địa phương xung quanh VKTTĐPN, nhất là các địa phương gần kề có điều kiện phát triển nhanh về kinh tế - xã hội nên Chính phủ đã có một số điều chỉnh mở rộng không gian lãnh thổ Vùng. Cụ thể, tháng 7/2003 Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước và Long An gia nhập Vùng tại Thông báo số 99/2003/TB-VPCP ngày 02/07/2003 của Văn phòng Chính phủ; Tháng 9/2005 Thủ tướng Chính phủ bổ sung tiếp tỉnh Tiền Giang vào Vùng tại công văn số 4973/2005/CV-VPCP của Văn phòng Chính phủ. Như vậy, tính đến nay VKTTĐPN có tất cả là 8 tỉnh, thành. Trong đó, khu vực hạt nhân của 3 Vùng chính là 4 tỉnh, thành phố lúc đầu khi hình thành Vùng là TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu.

* Từ khi hình thành và phát triển đến nay, với lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng. VKTTĐPN đã trở thành một cực tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Vùng còn giữ vai trò đóng góp quyết định vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước và tạo động lực đáng kể cho quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của khu vực Nam bộ. Theo báo cáo của Văn phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của vùng năm 2007 đạt 12,6%, chiếm tỷ trọng 60% giá trị sản xuất công nghiệp, 70% kim ngạch xuất khẩu.

Cơ cấu kinh tế của Vùng là khu vực nông, lâm, thuỷ sản 7,3%, khu vực công nghiệp và xây dựng 56,3% và khu vực dịch vụ 36,4%. Thu nhập bình quân đầu người của vùng đạt 31,4 triệu đồng/năm, gấp 2,6 lần mức bình quân của cả nước và gấp 1,9 lần vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (VKTTĐBB) và 3,2 lần của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT). Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của vùng đạt 56,4 tỷ USD, gồm có kim ngạch xuất khẩu đạt 36,8 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu 19,6 tỷ USD. VKTTĐPN là vùng có khả năng xuất khẩu cao và cũng là vùng có khả năng xuất siêu duy nhất của cả nước.

Tổng thu ngân sách của Vùng chiếm 66,5% tổng thu ngân sách quốc gia. Thu hút vốn đầu tư trong 20 năm qua, chiếm 54% tổng vốn đăng ký đầu tư toàn quốc. [108; 2] Hiện nay, Đảng và Chính phủ Việt Nam vẫn đang tiếp tục thúc đẩy VKTTĐPN phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, tiếp tục tạo điều kiện cho Vùng có sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh quốc tế, đi đầu trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của 4 Vùng và khu vực, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển, VKTTĐPN cũng bộc lộ rõ một số vấn đề bất cập như tốc độ tăng trưởng chưa cao so với chỉ tiêu và tiềm lực; cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch; nguồn nhân lực dồi dào nhưng trình độ lao động tại chỗ chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển công nghiệp, dẫn đến sự dịch chuyển ồ ạt lực lượng lao động từ nơi khác đến mang tính chất tự phát làm nảy sinh nhiều vấn nạn xã hội; do có sự chênh lệch quá lớn về mức thu nhập giữa khu vực đô thị và xung quanh, nên xu hướng di dân quá nhanh từ bên ngoài vào các đô thị (như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu) làm quá tải so với khả năng đáp ứng về các điều kiện kết cấu hạ tầng đô thị (điện, nước, giao thông, y tế, giáo dục,.) gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường… Bên cạnh đó, việc các ngành công nghiệp, nhất là các khu chế xuất, khu công nghiệp (KCX, KCN) phát triển nhanh và chưa được quản lý tốt về chất thải công nghiệp nên vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra gay gắt, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Hơn nữa, cũng như các VKTTĐ khác, cho đến nay VKTTĐPN vẫn còn thiếu một cơ chế quản lý rõ ràng từ Trung ương để có thể điều phối một cách khoa học và hiệu quả toàn Vùng cũng như của từng thành viên trong Vùng… dẫn sự hiện thiếu liên kết, thiếu phối hợp với nhau trong hoạch định chính sách lẫn vận hành. ** Nhìn chung, thực tiễn qua hơn 10 năm hình thành và phát triển cho thấy VKTTĐPN là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất cả nước, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của Việt Nam. Đồng thời, thực tiễn đó còn phản ánh tính chính xác của các quyết sách ở tầm vĩ mô của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế vùng, thể hiện thành quả lao động sáng tạo của Đảng Bộ, Chính quyền và nhân dân các địa phương trong VKTTĐPN.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế ở VKTTĐPN vẫn còn chưa có tính bền vững, 5 những lợi thế so sánh, nguồn lực phát triển, tiềm năng và thế mạnh của Vùng vẫn chưa được phát huy triệt để, chưa được khai thác đúng mức. Hơn thế nữa, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vấn đề chênh lệch giàu nghèo, vấn đề ô nhiễm môi trường… ở VKTTĐPN vẫn còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với phát triển kinh tế. Đặc biệt, vấn đề liên kết phát triển giữa các thành viên trong Vùng vẫn còn lỏng lẻo, còn mang tính cục bộ… nên chưa phát huy hết sức mạnh thực sự và đáng có của Vùng. *** Chọn đề tài “Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (1993 - 2008)” để nghiên cứu làm luận án Tiến sĩ Lịch sử chúng tôi vì những lý do chính như sau: - Thứ nhất, VKTTĐPN là một vùng kinh tế trọng điểm nổi bật nhất nước, có quá trình phát triển kinh tế - xã hội để lại nhiều ấn tượng, có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và chuyển biến xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

Như vậy, việc nghiên cứu về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội ở VKTTĐPN theo tác giả là một việc rất đáng nên thực hiện. - Bản thân tác giả luận án là người rất yêu thích nghiên cứu các vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam, mà lại đang là một nghiên cứu sinh của chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, nên tác giả suy nghĩ chọn đề tài về quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở một vùng kinh tế trọng điểm cấp quốc gia trong thời kỳ mới để làm luận án là phù hợp với chuyên ngành, đồng thời đó cũng là một nghiên cứu thú vị và có ích.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" nghiên cứu về vấn đề gì?

Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2020-2024

Luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" thuộc chuyên ngành Kinh tế học. Danh mục: Kinh Tế.

Luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" có bao nhiêu trang?

Luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" có 211 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Những chuyển biến kinh tế xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm p" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter