Luận án tiến sĩ: Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Luận án nghiên cứu tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam. Phân tích pháp luật hiện hành, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật.

Chuyên ngành
Luật Kinh tế
Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án tiến sĩ

Số trang

167

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Thị trường chứng khoán tạo ra những cơ hội cho các NĐT tìm kiếm lợi nhuận. Với sự đa dạng và phong phú của TTCK, NĐT có thể lựa chọn cho mình những phương thức đầu tư có hiệu quả nhất. Thế nhưng, song hành với lợi nhuận luôn tiềm ẩn những rủi ro. Để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro gặp phải, các NĐT có thể cùng tập trung vốn vào một Quỹ đầu tư chứng khoán để tiến hành đầu tư. Là một hình thức đầu tư tập thể, QĐTCK có tác dụng tích cực đối với NĐT trên TTCK như: Giúp NĐT có thể tham gia đầu tư vào nhiều loại thị trường với nhiều loại hàng hóa khác nhau, từ đó đa dạng hóa

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Khung pháp lý tổ chức quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
Số trang:
167 trang
Chuyên ngành:
Luật Kinh tế
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Khung pháp lý tổ chức quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Thị trường chứng khoán (TTCK) mang lại cơ hội lẫn rủi ro cho nhà đầu tư (NĐT). Quỹ đầu tư chứng khoán (QĐTCK) là hình thức đầu tư tập thể, giúp giảm thiểu rủi ro và tăng tính chuyên môn hóa. QĐTCK hoạt động dưới sự quản lý chuyên nghiệp của Công ty quản lý quỹ. Pháp luật Việt Nam đã và đang phát triển liên tục nhằm điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động QĐTCK. Các văn bản pháp lý quan trọng hình thành và hoàn thiện theo thời gian, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thị trường.

1.1. Giai đoạn hình thành pháp luật quỹ đầu tư chứng khoán

Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh trực tiếp về QĐTCK. QĐTCK đầu tiên chính thức thành lập năm 2004. Luật Chứng khoán năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung 2010 tiếp tục củng cố cơ sở pháp lý. Nền tảng này tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Công ty quản lý quỹ và các loại hình QĐTCK. Sự phát triển này là bước đệm quan trọng cho ngành.

1.2. Định hướng chiến lược phát triển quỹ đầu tư chứng khoán

Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ như 252/QĐ-TTg (2012) và 1826/QĐ-TTg (2012) phê duyệt chiến lược phát triển và tái cấu trúc TTCK. Các quyết định này chỉ rõ cần tập trung tái cấu trúc NĐT có tổ chức, trong đó có Công ty quản lý quỹ và QĐTCK. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về thành lập, tổ chức, quản lý QĐTCK. Mục đích điều chỉnh là bảo vệ lợi ích hợp pháp của NĐT, phù hợp khuyến nghị của IOSCO.

II. Thực trạng hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán tại VN

Sau hơn 12 năm thực thi Luật Chứng khoán, QĐTCK chưa thể hiện được hết vai trò tích cực trên TTCK. Nó chưa trở thành phương thức đầu tư tin cậy của NĐT. Thực trạng hoạt động QĐTCK tại Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế và bất cập. Việc đánh giá khách quan tình hình giúp nhận diện rõ các vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả.

2.1. Các loại hình và số lượng quỹ đầu tư chứng khoán

QĐTCK ở Việt Nam chủ yếu được thành lập dưới dạng Quỹ đóng, Quỹ mở, Quỹ ETF, và quỹ đầu tư bất động sản. Tuy nhiên, chưa hình thành quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện hoặc công ty đầu tư chứng khoán (mô hình QĐTCK dạng công ty cổ phần). Số lượng QĐTCK hiện nay còn ít, chỉ khoảng 39 quỹ. Điều này cho thấy sự đa dạng và quy mô thị trường chưa cao.

2.2. Hiệu quả và sự tham gia của nhà đầu tư vào quỹ

Hiệu quả hoạt động của các QĐTCK chưa đạt kỳ vọng. Số lượng NĐT tham gia vào QĐTCK không nhiều và có xu hướng giảm. Đáng chú ý, một số QĐTCK có quy mô lớn đã phải chấm dứt hoạt động. Điều này phản ánh thách thức lớn về khả năng thu hút vốn và tạo ra lợi nhuận cho NĐT. Quyết định đầu tư vào QĐTCK vẫn chưa đủ sức hấp dẫn.

III. Hạn chế pháp luật và quản trị quỹ đầu tư chứng khoán

Hoạt động của QĐTCK đối mặt với nhiều hạn chế từ thể chế. Các nguyên nhân chính thuộc về pháp luật và cơ chế quản trị. Việc xác định rõ những điểm yếu này là bước quan trọng để đưa ra giải pháp khắc phục. Những bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và niềm tin của NĐT vào QĐTCK.

3.1. Hạn chế bất cập trong quy định pháp luật quỹ đầu tư

Pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Các Nghị định về quỹ đầu tư chứng khoán và Thông tư hướng dẫn quỹ đầu tư đôi khi thiếu tính toàn diện, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng, cản trở sự phát triển linh hoạt của các loại hình QĐTCK và ảnh hưởng đến hoạt động của Công ty quản lý quỹ.

3.2. Vấn đề quản trị và cơ chế hỗ trợ thực thi pháp luật

Quản trị QĐTCK còn nhiều điểm yếu. Cơ chế hỗ trợ thực thi pháp luật chưa thật sự hiệu quả. Vai trò của Công ty quản lý quỹ và Ngân hàng giám sát đôi khi chưa được phát huy tối đa do vướng mắc pháp lý hoặc thực tiễn. Những vấn đề này làm giảm hiệu suất hoạt động, ảnh hưởng đến Giá trị tài sản ròng (NAV) và gây mất niềm tin cho NĐT. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ hơn.

IV. Giải pháp hoàn thiện quy định về quỹ đầu tư chứng khoán

Để thúc đẩy QĐTCK phát triển mạnh mẽ hơn, cần có các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật và cơ chế quản trị. Các đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán đã và đang đặt ra những mục tiêu cụ thể, hướng tới một TTCK ổn định và hiệu quả hơn. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ NĐT và tăng cường khả năng huy động vốn của nền kinh tế.

4.1. Định hướng tái cấu trúc thị trường và quỹ đầu tư

Quyết định 242/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán” đã đưa ra định hướng quan trọng. Đề án nhấn mạnh việc biến TTCK thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Mục tiêu bao gồm nâng cao năng lực quản trị của Công ty quản lý quỹ, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa NĐT cá nhân và NĐT tổ chức. Đồng thời, thúc đẩy sự phát triển của NĐT chuyên nghiệp, trong đó có QĐTCK.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi

Cần đánh giá toàn diện các quy định pháp luật về QĐTCK, xét về tính đồng bộ, phù hợp và hiệu quả. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, bao gồm sửa đổi Luật Chứng khoán, Nghị định về quỹ đầu tư chứng khoán, và Thông tư hướng dẫn quỹ đầu tư. Cải thiện cơ chế quản trị QĐTCK, nâng cao hiệu quả hoạt động, và đảm bảo minh bạch thông tin về Giá trị tài sản ròng (NAV) và Chứng chỉ quỹ. Các thay đổi này phục vụ quá trình tái cơ cấu và phát triển bền vững.

Mục lục chi tiết luận án

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
1.1.1.1. Công trình nghiên cứu về khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.1.2. Công trình nghiên cứu về đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.1.3. Công trình nghiên cứu về phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán
2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KẾT LUẬN
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật việt nam hiện nay

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (167 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán tạo ra những cơ hội cho các NĐT tìm kiếm lợi nhuận. Với sự đa dạng và phong phú của TTCK, NĐT có thể lựa chọn cho mình những phương thức đầu tư có hiệu quả nhất. Thế nhưng, song hành với lợi nhuận luôn tiềm ẩn những rủi ro. Để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro gặp phải, các NĐT có thể cùng tập trung vốn vào một Quỹ đầu tư chứng khoán để tiến hành đầu tư.

Là một hình thức đầu tư tập thể, QĐTCK có tác dụng tích cực đối với NĐT trên TTCK như: Giúp NĐT có thể tham gia đầu tư vào nhiều loại thị trường với nhiều loại hàng hóa khác nhau, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro; giúp cho hoạt động đầu tư mang tính chuyên môn hơn vì QĐTCK hoạt động dưới sự quản lý chuyên nghiệp của những nhà đầu tư có tổ chức (CTQLQ); giúp định hướng đầu tư trên thị trường và tiết kiệm được chi phí giao dịch. Tại Việt Nam, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh trực tiếp về QĐTCK. Theo đó, QĐTCK đầu tiên được chính thức thành lập vào năm 2004. Quá trình phát triển của QĐTCK dần được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý có giá trị cao như: Luật Chứng khoán năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010.

Cơ sở pháp lý vững chắc này đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các CTQLQ và QĐTCK. Quyết định số 252/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” và Quyết định số 1826/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/12/2012 về việc phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”, Chính phủ Việt Nam đã chỉ rõ cần phải tập trung tái cấu trúc NĐT có tổ chức, trong đó có các CTQLQ, các QĐTCK. Để hiện thực hóa các chiến lược, đề án trên và phát triển mạnh mẽ TTCK, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về việc thành lập, tổ chức và quản lý các loại hình QĐTCK. Mục đích điều chỉnh của pháp luật đối với 1 QĐTCK là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư trước khả năng bị lạm dụng bởi các chủ thể tham gia vào tổ chức và hoạt động của QĐTCK.

Điều này cũng phù hợp với một trong những mục tiêu điều chỉnh hoạt động chứng khoán do IOSCO khuyến nghị là “bảo vệ nhà đầu tư”. Tuy nhiên, qua hơn 12 năm thực thi Luật Chứng khoán nhận thấy, QĐTCK chưa thể hiện được vai trò và tác dụng tích cực của mình trên TTCK, chưa là phương thức đầu tư tin cậy của NĐT. Điều này được thể hiện: QĐTCK chủ yếu được thành lập dưới dạng quỹ đóng, quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản; chưa thành lập quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và CTĐTCK (mô hình QĐTCK dạng CTCP); số lượng QĐTCK hiện nay còn ít (39 QĐTCK); hiệu quả hoạt động của QĐTCK chưa cao; số lượng NĐT tham gia vào QĐTCK không nhiều và ngày càng giảm; một số QĐTCK có quy mô lớn đã chấm dứt hoạt động. Xét nguyên nhân thuộc về thể chế hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của QĐTCK, đó là vẫn còn tồn tại các hạn chế, bất cập của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, vấn đề quản trị QĐTCK và cơ chế hỗ trợ thực thi pháp luật.

Tiếp tục tái cơ cấu theo Quyết định số 242/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/02/2019 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, trong đó: Tiếp tục cơ cấu lại toàn diện để TTCK trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; nâng cao năng lực quản trị của các CTQLQ; đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa NĐT cá nhân và NĐT có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các NĐT chuyên nghiệp (QĐTCK). Nhằm đánh giá các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK xét về tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu quả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của QĐTCK phục vụ quá trình tái cơ cấu, tôi chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - Mục đích của luận án: Mục đích của luận án là phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập về phương diện pháp luật và cơ chế quản trị; từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK trên TTCK Việt Nam. - Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận án được đặt ra nghiên cứu cụ thể là: Thứ nhất, Luận án làm rõ lý luận chung về QĐTCK và cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK.

Thứ hai, Luận án phân tích thực trạng các quy định pháp luật chứng khoán Việt Nam về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; đánh giá các kết quả đạt được của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, những kết quả trong hoạt động của QĐTCK; chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của QĐTCK về phương diện pháp luật và cơ chế quản trị làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật. Thứ ba, Luận án đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK. Những giải pháp này phải xuất phát từ yêu cầu, định hướng của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật về TTCK nói chung, nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của TTCK, đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án - Đối tượng nghiên cứu của luận án: Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán đặt trong bối cảnh pháp luật và thực tiễn của Việt Nam.

- Phạm vi nghiên cứu của luận án: + Phạm vi về nội dung: Quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam bao gồm Quỹ đầu tư chứng khoán (không có tư cách pháp nhân) và QĐTCK theo 3 dạng CTCP (Công ty đầu tư chứng khoán) được thành lập, tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Các quy định của pháp luật chứng khoán đối với từng loại hình QĐTCK (Quỹ đại chúng, Quỹ thành viên, Quỹ mở, Quỹ hoán đổi danh mục, Quỹ bất động sản) được tác giả phân tích lồng ghép khi nghiên cứu các quy định chung của Luật Chứng khoán năm 2006, văn bản hướng dẫn hiện hành về tổ chức và hoạt động của QĐTCK nói chung mà không đi sâu phân tích các quy định riêng lẻ của từng quỹ cụ thể. + Phạm vi về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu theo pháp luật Việt Nam. Pháp luật về QĐTCK của một số nước trên thế giới được đề cập để phân tích, so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị.

+ Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam từ khi có Luật Chứng khoán 2006 cho đến nay. Giai đoạn trước khi Luật Chứng khoán có hiệu lực không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, tuy nhiên có thể được đề cập khi so sánh và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án - Phương pháp luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về việc “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [46, tr175], trong đó có hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật chứng khoán nói riêng. Bên cạnh đó, Luận án nghiên cứu dựa trên định hướng cơ cấu lại thị trường tài chính, đảm bảo lành mạnh hóa và ổn định trong sự phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt với các loại thị trường khác: Thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ [46, tr109-110].

- Phương pháp nghiên cứu: Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: + Phương pháp hệ thống hóa các luận điểm khoa học, tổng hợp, phân tích và đánh giá để nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động QĐTCK. 4 + Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê được sử dụng để nghiên cứu, đưa ra các nhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam hiện nay làm cơ sở cho các kết luận, đề xuất và kiến nghị khoa học. + Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật, các định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp cụ thể. Đóng góp mới về khoa học của luận án Một là, về phương diện lý luận chung, Luận án làm rõ được khái niệm về QĐTCK, vai trò của QĐTCK; chỉ ra được các đặc điểm của QĐTCK để thấy sự khác biệt với các loại quỹ đầu tư khác; vận dụng được các lý thuyết khoa học trong việc xác định cơ chế tổ chức và hoạt động của từng dạng mô hình của QĐTCK.

Hai là, về cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, Luận án xác định được nội hàm của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK đi từ nguyên tắc điều chỉnh pháp luật, xác định chủ thể pháp luật, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể tham gia vào QĐTCK và từ đó, đưa ra được khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/luan-an-to-chuc-hoat-dong-quy-dau-tu-chung-khoan-phap-luat-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án nghiên cứu tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam. Phân tích pháp luật hiện hành, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật.

Luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Kinh Tế.

Luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" có bao nhiêu trang?

Luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter