Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuy
Luận án: Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Số trang
95
Thời gian đọc
15 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tầm quan trọng của mối liên kết sản xuất - thương mại.
- Số trang:
- 95 trang
- Chuyên ngành:
- Kinh tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.
Luận án khám phá mối liên kết giữa sản xuất và thương mại. Mác phân tích sự chuyển đổi từ sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Đó là quá trình hình thành đại công nghiệp. Hiệp tác và phân công có vai trò cốt yếu. Thương mại và dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng. Lênin nhấn mạnh vai trò của thương mại. Thương mại liên kết hàng chục triệu tiểu nông. Nó kết nối tiểu nông với nền đại công nghiệp. Liên kết này đưa nền kinh tế lạc hậu thành tiên tiến. Tổ chức liên kết kinh tế thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Nó biến sản xuất tiểu nông thành đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa.
1.1. Quan điểm Mác Lênin về mối liên kết.
Mác chỉ ra sự phát triển từ hiệp tác giản đơn. Quá trình này dẫn đến giai đoạn máy móc và đại công nghiệp. Phân công và hợp tác hóa phát triển mạnh mẽ. Sản xuất và lưu thông hàng hóa liên kết chặt chẽ. Lênin nêu rõ quy luật phát triển chủ nghĩa tư bản mới. Người vạch ra con đường lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, chế độ hợp tác.
1.2. Vai trò của thương mại trong liên kết kinh tế.
Thương mại liên kết người sản xuất độc lập. Nó tạo quan hệ trao đổi sản phẩm. Thương mại cũng kết hợp hiệp tác trực tiếp trong sản xuất. Nó liên kết các công xưởng, công ty. Quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Quá trình tích tụ và tập trung tư bản mạnh mẽ. Thương mại góp phần đưa nền kinh tế tiến bộ. Việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng trở nên cần thiết.
II.
Liên kết kinh tế phát triển từ thấp đến cao. Quan hệ ban đầu lỏng lẻo dần bền chặt hơn. Nó tạo nên một chỉnh thể kinh tế lớn. Nhiều nhà kinh tế học đã nghiên cứu vấn đề này. Liên kết diễn ra trong sản xuất công nghiệp. Liên kết nông - công nghiệp cũng quan trọng. Chuỗi giá trị sản xuất được hình thành từ đây. Mối liên kết sản xuất - thương mại tạo nên sức mạnh tổng hợp.
2.1. Hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Mác trình bày quá trình này. Từ hiệp tác giản đơn đến máy móc và đại công nghiệp. Phân công lao động, hợp tác hóa phát triển. Sản xuất và lưu thông hàng hóa liên kết. Người sản xuất độc lập kết hợp. Quan hệ trao đổi sản phẩm được thiết lập. Liên kết sản xuất và thương mại là động lực chính.
2.2. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
Hiệp tác trực tiếp trong quá trình sản xuất. Hợp tác giữa những người lao động diễn ra. Từ xưởng thợ đến công trường thủ công lớn. Các công ty, xí nghiệp liên kết thành tổ chức lớn hơn. Quy mô doanh nghiệp ngày càng mở rộng. Tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ. Đây là nền tảng cho sự phát triển.
2.3. Kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa về liên kết.
Các nước xã hội chủ nghĩa nghiên cứu liên kết kinh tế. Liên kết sản xuất theo sản phẩm, ngành được quan tâm. Chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp. Liên kết nông - công nghiệp trong vùng. Khoa học và sản xuất cũng có mối liên kết. Điều này giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
III.
Việt Nam bắt đầu quan tâm liên kết kinh tế. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) khởi xướng. Chủ trương "bung ra" trong sản xuất. Vấn đề liên kết kinh tế trở nên cấp bách. Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VI) tiếp tục. Chủ trương phát triển nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần. Liên kết kinh tế thành hiện tượng "thường nhật". Đây là một phần của chính sách công nghiệp và thương mại quốc gia. Phát triển thị trường nội địa là ưu tiên.
3.1. Giai đoạn đầu đổi mới Chủ trương bung ra .
Đầu những năm 80, Việt Nam đổi mới. Chủ trương "bung ra" thúc đẩy sản xuất. Liên kết kinh tế nổi lên. Vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn. Nó kích thích sự phát triển kinh tế. Đây là bước đệm quan trọng.
3.2. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VI) có ý nghĩa. Nó chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa. Kinh tế nhiều thành phần được khuyến khích. Các doanh nghiệp và địa phương thực hiện liên kết. Đây là bước đi quan trọng. Phát triển thị trường nội địa cũng được quan tâm. Hội nhập dọc trong sản xuất kinh doanh được thúc đẩy.
3.3. Thiếu nghiên cứu toàn diện về liên kết kinh tế.
Nhiều tác giả bàn về liên kết kinh tế. Nhưng chưa có công trình toàn diện. Nghiên cứu bản chất, nội dung, triển vọng còn hạn chế. Các vấn đề cơ bản vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Điều này cần được khắc phục. Nhu cầu về đổi mới sáng tạo trong sản xuất và thương mại là rõ ràng.
IV.
Việt Nam quyết tâm đổi mới kinh tế. Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Vận hành theo cơ chế thị trường. Có sự quản lý của Nhà nước. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đây là chính sách công nghiệp và thương mại mới. Mục tiêu là thoát khỏi sự trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu. Tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân. Tìm con đường phát triển kinh tế ngắn nhất. Tối ưu hóa chuỗi cung ứng là chìa khóa.
4.1. Chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Công cuộc đổi mới kinh tế diễn ra. Nó nhằm thoát khỏi trì trệ, nghèo nàn. Đất nước cần vượt qua lạc hậu. Cơ chế mới tạo động lực phát triển. Điều này thúc đẩy năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
4.2. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế quốc dân.
Đổi mới đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Nó tìm ra con đường phát triển kinh tế ngắn nhất. Liên kết đóng vai trò quan trọng. Tối ưu hóa chuỗi cung ứng là mục tiêu then chốt. Nâng cao chuỗi giá trị sản xuất.
4.3. Vai trò nhà nước trong quản lý thị trường.
Nền kinh tế thị trường có sự quản lý. Nhà nước định hướng phát triển. Điều này đảm bảo ổn định. Nó tạo môi trường thuận lợi cho liên kết. Chính sách công nghiệp và thương mại được điều chỉnh linh hoạt.
V.
Chủ trương đổi mới tạo nhiều hình thức kinh tế. Các loại hình doanh nghiệp năng động xuất hiện. Doanh nghiệp sản xuất và thương mại đa dạng. Các hình thức sở hữu phong phú. Có sở hữu thuần khiết hoặc đan xen. Điều này thúc đẩy hội nhập dọc trong sản xuất kinh doanh. Nó góp phần tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Đổi mới sáng tạo trong sản xuất và thương mại là yếu tố sống còn. Phát triển thị trường nội địa và logistics là trọng tâm.
5.1. Xuất hiện các hình thức kinh tế năng động.
Quá trình đổi mới tạo ra sức sống mới. Nhiều mô hình kinh tế được thử nghiệm. Chúng thúc đẩy sự phát triển. Nền kinh tế trở nên linh hoạt. Thương mại điện tử và sản xuất cũng đóng góp.
5.2. Đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp và sở hữu.
Doanh nghiệp sản xuất và thương mại phát triển. Chúng thuộc nhiều hình thức sở hữu. Sở hữu thuần khiết hoặc đan xen xuất hiện. Điều này làm tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Logistics và phân phối sản phẩm được cải thiện.
5.3. Tác động của mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài. Điều này tạo cơ hội mới. Nó thúc đẩy liên kết quốc tế. Đổi mới sáng tạo trong sản xuất và thương mại được khuyến khích. Hội nhập dọc trong sản xuất kinh doanh trở nên quan trọng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (95 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHẦN MỞ ĐẦU 1. Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án: Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, được Mác phản ánh trong bộ "Tư bản", là một mẫu hình, một con đường chuyển nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống và nông nghiệp ở nhiều quốc gia, của nhiều dân tộc lên thành nền đại công nghiệp, biến cải nền sản xuất hàng hoá nhỏ thành nền sản xuất lớn tư bản hiện đại, trong đó nổi bật lên là vai trò của hiệp tác và phân công, vai trò của các ngành thương mại và dịch vụ. Trong phần IV, phần nói về "sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối" (Hay ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản), C.Mác trình bày quá trình hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ hiệp tác giản đơn đến giai đoạn máy móc và đại công nghiệp. Người đã trình bày sự phát triển của quá trình phân công và hợp tác hoá, sự phát triển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá; liên kết những người sản xuất độc lập từ kiến tạo quan hệ trao đổi kết quả lao động (sản phẩm), đến chỗ kết hợp hiệp tác trực tiếp ngay trong quá trình sản xuất (quá trình lao động) với nhau; từ chỗ hợp tác giữa những người lao động trong một xưởng thợ, đến chỗ hiệp tác và kết hợp giữa các công trường thủ công thành công trường thủ công lớn hơn, giữa các công ty, xí nghiệp thành các công ty, xí nghiệp lớn hơn, làm cho quy mô của các doanh nghiệp ngày một lớn và quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng mạnh mẽ.
Quá trình đó được diễn ra từ những quan hệ nội tại, phát triển từ thấp đến cao, từ quan hệ ban đầu ngẫu nhiên lỏng lẻo cho đến lúc bền chặt cố kết và hoà hợp với nhau tạo nên một chỉnh thể ngày một lớn hơn. Trong các tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" và một loạt tác phẩm bàn về "chính sách kinh tế mới", Lênin cũng vạch ra các quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn mới và con đường đưa nền sản xuất hàng hoá nhỏ lên chủ nghĩa xã hội thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, thông qua "chế độ hợp tác"… Trong tác phẩm "về tác dụng của vàng hiện nay và sau khi chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi" và một số tác phẩm khác, Người đề cao vai trò to lớn của thương mại trong việc "liên kết hàng chục triệu tiểu nông" lại và liên kết chúng với nền đại công nghiệp, đưa chúng vào quỹ đạo hoạt động của chủ nghĩa xã hội, bằng sự thuyết phục những lợi ích thiết thực trước mắt và lâu dài để tạo nhanh và rộng sự liên kết ấy. Nghĩa là, việc tổ chức quá trình liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại sẽ góp phần quan trọng vào việc đưa nền sản xuất hàng hoá (tiểu nông) lên sản xuất lớn đại công nghiệp của chủ nghĩa xã hội. Sau này, với nhận thức và những sáng tạo mới mẻ về phương diện lý luận và bằng tài tổ chức của mình, Lênin đã thực hiện trong đời sống kinh tế - xã hội Nga công cuộc liên kết sản xuất tiểu nông với công nghiệp và thương mại và thông qua hoạt động bao tiêu của thương mại để đưa một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ở Liên Xô thành một nền kinh tế tiên tiến lúc đó.
Trong vài chục năm gần đây, vấn đề liên kết kinh tế lại được nhiều nhà kinh tế học của các nước xã hội chủ nghĩa đề cập tới ở các khía cạnh sau: 1. Liên kết kinh tế trong sản xuất theo sản phẩm và theo ngành chủ yếu trên lĩnh vực công nghiệp trong phạm vi hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Liên kết nông - công nghiệp trong phạm vi một vùng và một nước (chủ yếu trong công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm). Liên kết kinh tế giữa khoa học và sản xuất.
Ở nước ta, vào đầu những năm 80, kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (khoá IV) với chủ trương "bung ra" trong sản xuất, vấn đề liên kết kinh tế đã nổi lên như một vấn đề nóng hổi của thực tiễn đời sống kinh tế. Đặc biệt sau khi có Nghị quyết của Hội nghị trung ương 3 (khoá VI) với chủ trương phát triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, thì liên kết kinh tế đã trở thành một hiện tượng "thường nhật" của các doanh nghiệp và ở các địa phương. Từ đó, trên các sách, báo, tạp chí, hội nghị, đề tài khoa học, đã có không ít tác giả bàn đến vấn đề liên kết kinh tế. Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về bản chất, nội dung, bước đi và triển vọng của quá trình liên kết kinh tế ở nước ta.
Hơn nữa, về các vấn đề cơ bản này, còn có những ý kiến khác nhau. Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã quyết tâm chuyển nền kinh tế từ hoạt động trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài. Thực chất của công cuộc đổi mới kinh tế này là nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân và tìm ra con đường phát triển kinh tế ngắn nhất. Thực hiện chủ trương đổi mới đó, đã, đang và sẽ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế năng động, nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất và thương mại khác nhau, thuộc nhiều hình thức sở hữu thuần khiết hoặc đan xen nhau.
Hình thức quan hệ kinh tế chủ yếu và ngày càng trở nên phổ biến giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng như trong một doanh nghiệp là quan hệ liên kết sản xuất và thương mại. Đến lượt mình, nó làm xuất hiện những loại hình doanh nghiệp và quan hệ kinh tế mới phức tạp hơn, nhưng hiệu quả kinh tế cao hơn, góp một phần nhất định vào việc đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi sự khủng hoảng, trì trệ, giữ vững sự ổn định và phát triển. Tuy nhiên trong sự vận động, chuyển hoá, "bung ra" ban đầu và trong điều kiện luật pháp chưa ban hành kịp thời, đầy đủ hoặc chưa thể giải phóng hoàn toàn khỏi tư duy cũ thì có không ít những quan hệ kinh tế được xem như là "một hiện tượng không lành mạnh" cần phải "uốn nắn". Vì vậy cần có một công trình nghiên cứu tương đối công phu hơn về thực chất và những vấn đề liên quan của quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó đi sâu vào việc liên kết giữa sản xuất và thương mại.
Để một lần nữa minh chứng và trên cơ sở đó khẳng định những mặt đúng và chưa đúng, những mặt được và chưa được của quá trình liên kết kinh tế ở nước ta, thực sự làm cho nó trở thành một biện pháp tăng hiệu quả sản xuất-kinh doanh, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân và quá trình tái sản xuất xã hội vận động phát triển nhanh. Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã lựa chọn "Vấn đề liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường" làm đề tài luận án. Mục đích nghiên cứu của luận án: Lựa chọn đề tài nghiên cứu trên, chúng tôi nhằm những mục tiêu chủ yếu sau: - Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những kết quả của những công trình đã công bố, cùng với những suy nghĩ nghiên cứu của bản thân, cố gắng làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển các quan hệ liên kết kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. - Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các quan hệ liên kết giữa sản xuất và thương mại, bản luận án nêu lên những nội dung chủ yếu trong sự phát triển của quá trình liên kết sản xuất với thương mại trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
- Phân tích, vạch rõ phương hướng, những nguyên tắc điều kiện cần thiết và kiến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại, góp phần làm cho nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: - Đối tượng chính được nghiên cứu trong bản luận án này là các quan hệ liên kết kinh tế dưới góc độ kinh tế chính trị học. Nghĩa là, bản luận án tập trung vào các vấn đề: cơ sở hình thành, bản chất, xu hướng vận động, những hình thức, những điều kiện cần thiết và những giải pháp thích hợp thúc đẩy quá trình phát triển liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại. - Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong các mối quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp sản xuất và thương mại (một số đơn vị tiêu biểu), cùng các mối quan hệ giữa các khâu sản xuất và thương mại, dịch vụ trong một doanh nghiệp.
- Tác giả luận án sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp hệ thống, kết hợp chặt chẽ các phương pháp minh hoạ, đối chiếu so sánh, kết hợp kinh nghiệm trong nước với kinh nghiệm thế giới, lịch sử và hiện đại. Đồng thời cũng vận dụng tổng hợp các phương pháp của công việc tổng kết thực tiễn như điều tra chọn mẫu, phân tích, khái quát. để làm sáng tỏ các vấn đề. Đề tài đã được nghiên cứu đến đâu: Như ở phần trên chúng tôi đã trình bày, trong vài chục năm qua, vấn đề liên kết kinh tế đã được nhiều nhà kinh tế học ở các nước xã hội chủ nghĩa bàn đến.
Nhiều tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt. Các cuốn sách này chủ yếu trình bày quá trình phát triển các mối quan hệ liên kết kinh tế trên phạm vi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới, liên kết khoa học và sản xuất, liên kết nông- công nghiệp ở Liên Xô cũ. Đáng chú ý là các công trình sau: - "Liên kết sản xuất xã hội chủ nghĩa và quản lý" của 3 tác giả: Iu.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/luan-an-tien-si-van-de-lien-ket-giua-san-xuat-va-thuong-mai-trong-qua-trinh-chuyen-sang-nen-kinh-te-thi-truong
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" thuộc chuyên ngành Kinh tế. Danh mục: Kinh Tế.
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" có 95 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ vấn đề liên kết giữa sản xuất và thương mại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.