Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự nghiệp xây

Luận án: Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân việt nam thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Số trang

215

Thời gian đọc

33 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tầm quan trọng phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam
Số trang:
215 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tầm quan trọng phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam

Kỷ nguyên cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại tạo ra biến đổi lớn trong đời sống nhân loại. Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới. Lực lượng sản xuất toàn cầu gia tăng về chất. Điều này dẫn tới sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức. Sự xuất hiện của kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa mang lại cơ hội và thách thức. Điều này đúng cho mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đất nước cần tận dụng cơ hội này. Phát triển kinh tế tri thức là trọng tâm. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là mục tiêu. Rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế là điều cần thiết. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh điều này. Nghị quyết chỉ rõ cần phát huy lợi thế đất nước. Ứng dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Từng bước phát triển kinh tế tri thức. Bối cảnh thế giới và khu vực phức tạp. Sự phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam đang tác động nhiều lĩnh vực. Bao gồm quốc phòng – an ninh và xây dựng quân đội.

1.1. Sự cần thiết phát triển kinh tế tri thức toàn cầu

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tạo ra những biến đổi lớn. Kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn mới. Sản xuất toàn cầu gia tăng chất lượng. Nền kinh tế tri thức (KTTT) ra đời và phát triển. KTTT đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi. Thay đổi để thích ứng và tận dụng cơ hội. Tận dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế mạnh mẽ. Phát triển bền vững là mục tiêu cốt lõi. Công nghệ số đóng vai trò then chốt trong quá trình này. Chuyển đổi số là xu thế tất yếu.

1.2. Cơ hội thách thức cho Việt Nam trong nền kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức mang lại cơ hội vàng cho Việt Nam. Đất nước có thể rút ngắn khoảng cách phát triển. Cần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Việc này đòi hỏi tận dụng thành tựu khoa học công nghệ. Đồng thời, KTTT đặt ra nhiều thách thức. Thách thức trong việc nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao. Thách thức trong quản lý tri thức hiệu quả. Sự tụt hậu về công nghệ là nguy cơ. Việc xây dựng chính sách phát triển phù hợp là cực kỳ quan trọng. Đổi mới sáng tạo cần được khuyến khích mạnh mẽ.

II. Tổng quan về kinh tế tri thức và xu hướng phát triển

Kinh tế tri thức đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Nhiều công trình quốc tế đã được giới thiệu tại Việt Nam. Các cuốn sách như 'Nền kinh tế tri thức nhận thức và hành động' hay 'Kinh tế tri thức vấn đề và giải pháp' đã phân tích sâu. Những nghiên cứu này đề cập khái niệm, vai trò, đặc trưng của KTTT. Đồng thời, chúng phân tích sự hình thành và xu hướng phát triển. Báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới năm 1999 cũng làm rõ 'Nền kinh tế tri thức là gì'. Các tác giả Trung Quốc như Tần Ngôn Trước và Ngô Quý Tùng cũng có những đóng góp quan trọng. Các nghiên cứu này chỉ ra tri thức là sức mạnh kinh tế. Nó tạo ra tăng trưởng và thay đổi. Tuy nhiên, các khái niệm KTTT còn có hạn chế. Chúng chưa đủ sức thuyết phục để trở thành khái niệm chính thống. Vấn đề này cần tiếp tục được làm rõ hơn. Phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc. Nó cần một cách tiếp cận toàn diện.

2.1. Khái niệm đặc trưng của nền kinh tế tri thức

Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về kinh tế tri thức. KTTT là nền kinh tế mà sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức là động lực chính của tăng trưởng. Đặc trưng của nó bao gồm vai trò trung tâm của công nghệ số. Công nghệ thông tin là nền tảng. Đổi mới sáng tạo là yếu tố sống còn. Nguồn nhân lực chất lượng cao là tài sản quý giá nhất. Quản lý tri thức trở thành kỹ năng thiết yếu. Mặc dù vậy, một định nghĩa thống nhất vẫn còn thiếu. Điều này gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển.

2.2. Các xu hướng phát triển kinh tế tri thức toàn cầu

Xu hướng phát triển của KTTT rất rõ ràng. Nó tập trung vào sự gia tăng của công nghệ số. Chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Sự kết nối toàn cầu tăng cường. Việc tạo ra, phổ biến và khai thác tri thức được đẩy mạnh. Các quốc gia phát triển dẫn đầu trong đổi mới sáng tạo. Các nước đang phát triển cần hấp thụ và sử dụng tri thức toàn cầu. Việc này nhằm thu hẹp khoảng cách. Phát triển bền vững là mục tiêu cuối cùng của mọi xu hướng. Tác động kinh tế xã hội từ các xu hướng này rất lớn.

III. Chính sách phát triển kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo

Nhiều công trình đã tập trung bàn về vai trò của chính phủ và giáo dục – đào tạo trong KTTT. Các tác giả như Stan Davis, Lester C. Thurow nhấn mạnh điều này. Họ chỉ ra sự cần thiết của 'các tổ chức học tập' và 'chính sách công'. Điều này đặt ra yêu cầu đối với chính phủ. Chính phủ cần có động thái và quyết sách cụ thể. Mục đích là thích ứng với nền kinh tế tri thức. Các khuyến nghị được đưa ra. Chính phủ các nước phát triển cần hoạch định chính sách. Chính sách nhằm gia tăng tri thức, sáng tạo, phổ biến và khai thác tri thức. Điều này phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đối với các nước đang phát triển, cần xây dựng chiến lược hợp lý. Chiến lược này nhằm thu hẹp khoảng cách về tri thức. Cần hấp thụ và sử dụng tri thức của nhân loại. Tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về tri thức. Các chính sách này có giá trị gợi mở. Chúng rất hữu ích cho Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, luận án không đi sâu phân tích.

3.1. Vai trò chính phủ trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Chính phủ đóng vai trò trung tâm trong KTTT. Chính phủ cần tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là cần thiết. Khuyến khích hợp tác giữa các viện, trường và doanh nghiệp. Xây dựng chính sách phát triển công nghệ số. Thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi ngành. Điều này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Quản lý tri thức hiệu quả là nhiệm vụ của nhà nước.

3.2. Chiến lược cho các quốc gia đang phát triển

Các quốc gia đang phát triển đối mặt thách thức lớn. Cần có chiến lược rõ ràng để thu hẹp khoảng cách tri thức. Chiến lược này bao gồm việc đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Cải cách giáo dục và đào tạo là trọng tâm. Chính sách thu hút và giữ chân nhân tài là cấp thiết. Hấp thụ công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Đồng thời, phát triển năng lực nội sinh về đổi mới sáng tạo. Việc này giúp đạt được phát triển kinh tế bền vững. Nó cũng giảm thiểu tác động kinh tế xã hội tiêu cực.

IV. Tác động của kinh tế tri thức đến kinh tế xã hội Việt Nam

Kinh tế tri thức ở Việt Nam tuy mới ở bước đầu. Nhưng đã tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình CNH, HĐH. KTTT giúp tăng năng suất lao động. KTTT thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ giá trị cao. Các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi. Điều này tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tác động kinh tế xã hội rất rõ rệt. Nó thay đổi cách thức sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, KTTT còn ảnh hưởng đến lĩnh vực quốc phòng – an ninh. Nó tác động đến việc xây dựng quân đội. Nâng cao năng lực quốc phòng trong thời kỳ mới. Việc nhận diện và đánh giá các tác động này là cần thiết. Điều này giúp Việt Nam có hướng đi đúng đắn.

4.1. Tác động đến sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa

Kinh tế tri thức là động lực chính cho CNH, HĐH. Nó giúp Việt Nam đi tắt đón đầu. Áp dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý. Phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao. Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao là cốt lõi. Đây là yếu tố quyết định sự thành công. KTTT giúp Việt Nam tích hợp sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc này thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

4.2. Ảnh hưởng đến quốc phòng an ninh và xây dựng quân đội

KTTT có tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh. Nó thay đổi bản chất của chiến tranh và phòng thủ. Ứng dụng công nghệ cao trong quân sự là tất yếu. Việc này bao gồm công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa. KTTT yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Quân đội cần có nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần khả năng quản lý tri thức trong tác chiến. Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong quốc phòng. Điều này bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nó đảm bảo an ninh quốc gia trong thời kỳ mới.

V. Nghiên cứu kinh tế tri thức và định hướng cho Việt Nam

Kinh tế tri thức và phát triển KTTT tại Việt Nam là vấn đề mới. Vấn đề này đang là tâm điểm nghiên cứu của nhiều tổ chức, nhà khoa học. Quá trình phát triển của KTTT ra sao? Tác động của nó đến xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam như thế nào? Đây là những vấn đề phức tạp và chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Cần có sự luận giải về mặt lý luận. Đồng thời, kịp thời tổng kết những vấn đề thực tiễn nảy sinh. 'Phát triển kinh tế tri thức và tác động của quá trình đó đến sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam' là đề tài nghiên cứu chính. Các công trình trước đây còn hạn chế. Chúng chưa đi sâu vào tác động cụ thể này. Việt Nam cần tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu. Nghiên cứu để hiểu rõ hơn về KTTT. Từ đó, xây dựng các chính sách phát triển hiệu quả.

5.1. Thực trạng nghiên cứu kinh tế tri thức ở Việt Nam

Ở Việt Nam, KTTT đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm. Các cuộc hội thảo về KTTT đã được tổ chức. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào lý luận chung. Chúng ít đi sâu vào tác động cụ thể của KTTT. Đặc biệt, tác động đến quốc phòng và xây dựng quân đội vẫn còn là một khoảng trống. Việc này cần được chú trọng hơn. Cần có thêm các nghiên cứu thực tiễn. Nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế tri thức. Nguồn nhân lực chất lượng cao và quản lý tri thức cũng cần được khảo sát kỹ lưỡng.

5.2. Khoảng trống nghiên cứu và định hướng tương lai

Khoảng trống nghiên cứu chính nằm ở việc thiếu luận giải. Thiếu tổng kết thực tiễn về tác động của KTTT. Đặc biệt là đến quốc phòng – an ninh và xây dựng quân đội. Các định nghĩa về KTTT cũng chưa được thống nhất. Định hướng tương lai cần tập trung vào các nghiên cứu chuyên sâu. Nghiên cứu về tác động kinh tế xã hội. Nghiên cứu về chính sách phát triển và đổi mới sáng tạo. Cần ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số. Từ đó, phát triển bền vững đất nước. Luận án này đóng góp vào việc lấp đầy một phần khoảng trống đó.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân việt nam thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (215 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Cuộc cách mạng KH - CN hiện đại diễn ra như bão táp trong những thập niên gần đây, đã tạo nên những biến đổi nhảy vọt trong đời sống nhân loại. Kinh tế thế giới chuyển sang một thời kỳ phát triển mới với sự gia tăng về chất của lực lượng sản xuất mang tính toàn cầu, dẫn tới sự ra đời và phát triển của KTTT. Sự xuất hiện của KTTT trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực tạo ra cơ hội và thách thức mới đối với các quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng trên con đường phát triển của mình. Điều đó đặt ra và đòi hỏi nước ta hiện nay phải tận dụng cơ hội quí giá để phát triển KTTT, đẩy mạnh và thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH mà Đảng ta đã đề ra, rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: "Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức" [30, tr. Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, sự phát triển KTTT của nước ta tuy mới ở bước đi ban đầu nhưng đã và đang tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quốc phòng - an ninh và xây dựng quân đội. KTTT và phát triển KTTT ở Việt Nam là vấn đề còn mới, đang là tâm điểm nghiên cứu của nhiều tổ chức và các nhà khoa học. Quá trình phát triển của nó ra sao? tác động của quá trình đó như thế nào đến xây dựng QĐNDVN, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN cũng là vấn đề phức tạp và chưa được làm 6 sáng tỏ.

Cho nên, cần có sự luận giải về mặt lý luận, cũng như kịp thời tổng kết những vấn đề thực tiễn nảy sinh liên quan đến những vấn đề này. Vì lẽ đó, "Phát triển kinh tế tri thức và tác động của quá trình đó đến sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, KTTT đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Gần đây, một số công trình của các tác giả nước ngoài đã được Nxb Thống kê, Hà Nội tập hợp và giới thiệu trong các cuốn: "Nền kinh tế tri thức nhận thức và hành động - kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển", xuất bản năm 2000; "Kinh tế tri thức vấn đề và giải pháp - kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển", xuất bản năm 2001.

Nổi bật trong các cuốn sách này là các bài viết: "Nền kinh tế tri thức" của nhóm cố vấn về CNTT của Bộ trưởng Bộ CNTT trình lên Chính phủ New Zeland (tháng 8/1999); "Nền kinh tế tri thức là gì" Báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới (năm 1999); "Tri thức là một sức mạnh kinh tế tạo ra tăng trưởng và thay đổi" của David S. Birian Athur - Cansdise Stevens. Cũng vào năm 2001, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã phát hành hai cuốn sách của các tác giả người Trung Quốc, đó là: "Thời đại kinh tế tri thức" của Tần Ngôn Trước và "Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI" của GS.TS Ngô Quý Tùng. Các công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề của KTTT như: khái niệm, vai trò, biểu hiện đặc trưng, sự hình thành và xu hướng phát triển.

khuyến nghị đối với Chính phủ các nước phát triển hoạch định chính sách nhằm gia tăng tri thức, sáng tạo, phổ biến và khai thác tri thức phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội; đối với các nước đang phát triển, các tác giả cho rằng cần phải xây dựng chiến lược, chính sách hợp lý nhằm thu hẹp khoảng cách về tri thức so với các nước phát triển (hấp thụ và sử dụng tri thức của nhân loại), tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về tri thức trong phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia này. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra được khái niệm KTTT, tuy nhiên, các khái niệm đó còn bộc lộ những hạn 7 chế nhất định, chưa đủ sức thuyết phục và chưa được xem là khái niệm chính thống. Một số tác giả khác tập trung bàn về vai trò của chính phủ, của GD - ĐT trong KTTT như: "Các tổ chức học tập trong nền kinh tế toàn cầu dựa trên tri thức" của Stan Davis, Jim Botkin, John Mathews, Riiel Miller và Gregory Wurzburg; "Xã hội và chính sách công: Chính phủ, giáo dục và đào tạo trong nền kinh tế dựa trên tri thức" của Lester C. Thurow, Hedrick Smith, Daniell Colardyn và Marianne Durand - Drouhin.

Vấn đề được bàn đến trong các công trình này khá bổ ích, nó đặt ra yêu cầu đối với Chính phủ và nền GD - ĐT của một nước cần phải có động thái và quyết sách cụ thể để thích ứng với KTTT. Điều đó mang tính gợi mở và có một giá trị nhất định đối với nước ta hiện nay, song luận án không đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Ở Việt Nam, vấn đề KTTT đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm nghiên cứu dưới góc độ lý luận. Trong thời gian qua đã có hai cuộc hội thảo về KTTT, đó là: "Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" do Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ ngoại giao đã phối hợp tổ chức tại Hà Nội, ngày 21 - 22/6/2000; "Kinh tế tri thức - khoa học và thực tiễn ở Việt Nam" do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức vào tháng 11/2003.

Cùng thời gian này, nhiều cuốn sách đã được xuất bản: "Kinh tế tri thức - Những khái niệm và vấn đề cơ bản" của Đặng Mộng Lân, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001; "Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" do GS. VS Đặng Hữu (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001. Nhiều bài viết được đăng tải: "Cơ sở lý luận về kinh tế tri thức" của GS. TS Trần Ngọc Hiên, Tạp chí Khoa học xã hội, số234, tháng 6 năm 2002; "Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức" của PGS.

TS Nguyễn Kế Tuấn, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 63, tháng 9/2002. Một số bài tham luận, các cuốn sách và các công trình nghiên cứu kể trên nhìn chung đều thống nhất cho rằng, sự ra đời của KTTT là bước phát triển tất yếu của nhân loại, đưa ra được quan niệm của mình về 8 KTTT, nêu bật vai trò của thông tin, tri thức đối với sự phát triển kinh tế, chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của KTTT. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên các quan niệm về KTTT rất khác nhau, chưa có sự thống nhất, thậm chí có quan niệm lệch lạc khi xem KTTT như một hình thái kinh tế - xã hội mới. Hướng nghiên cứu của một số tác giả khác lại tập trung bàn về mối quan hệ giữa CNH, HĐH và KTTT, luận chứng sự cần thiết phải gắn kết giữa CNH, HĐH và KTTT; vai trò của KTTT đối với quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay, đó là: "Nền kinh tế tri thức và mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam trong tầm nhìn 2020" của TS Đặng Ngọc Dinh, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam"; "Kinh tế tri thức trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực hiện sự phát triển định hướng hiện đại, rút ngắn" của PGS.

TS Lê Cao Đoàn, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 306, tháng 11/2003. Dưới góc độ thực tiễn, phát triển KTTT trên thế giới thời gian qua cũng được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh: chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển của các nước phát triển, đang phát triển trong khu vực và trên thế giới; những thành tựu mà họ đã và đang đạt được trong việc phát triển GD - ĐT nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, khai thác và sử dụng tri thức cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển năng lực KH - CN quốc gia, đẩy mạnh xây dựng các khu CNC, đột phá vào các lĩnh vực CNC đặc biệt là CNTT và CNSH, xây dựng cơ chế chính sách tài chính mở, tạo môi trường thông thoáng cho SX - KD và cạnh tranh hiệu quả trong KTTT. Những vấn đề này được trình bày trong các cuốn sách, bài viết tiêu biểu: "Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở một số nước trên thế giới hiện nay" của nhóm tác giả do TS Lưu Ngọc Trịnh (chủ biên), Nxb Giáo dục, năm 2002; "Tiếp cận kinh tế tri thức qua kinh nghiệm của một số nước" của Nguyễn Xuân Tề, Tạp chí Cộng sản, số 16, tháng 8/2001; "Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở Mỹ hiện nay" của Bùi Trường Giang, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số289, tháng 6/2002. Điều đó đem lại giá trị thiết thực giúp cho việc nghiên cứu và hoạch định chiến lược, chính sách phát 9 triển KTTT ở Việt Nam.

Thế nhưng, vấn đề quan trọng hơn là phải có những khảo sát, luận chứng xác thực về thuận lợi và khó khăn, điều kiện phát triển KTTT ở Việt Nam và những kiến nghị ở tầm vĩ mô giúp Đảng và Nhà nước ta hoạch định chiến lược, chính sách phát triển KTTT trong thời kỳ CNH, HĐH chưa được nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo. Một nhóm công trình nghiên cứu khác đề xuất những vấn đề mang tính giải pháp nhằm phát triển KTTT ở Việt Nam hiện nay. Các công trình này cố gắng làm rõ vai trò của GD - ĐT, sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng GD - ĐT nhằm tạo nguồn nhân lực thúc đẩy KTTT phát triển; xây dựng và phát triển thị trường KH - CN cũng được xem là giải pháp quan trọng trong quá trình phát triển KTTT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/luan-an-tien-si-phat-trien-kinh-te-tri-thuc-va-tac-dong-cua-no-den-su-nghiep-xay-dung-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-thoi-ky-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân việt nam thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.

Luận án "Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của" có 215 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế tri thức và tác động của" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter