Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Quản lý vốn tại DNNN từ thực tiễn Công ty TNHH MTV TP.HCM

"Luận án tiến sĩ: chiến lược quản lý vốn hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, dựa trên thực tiễn công ty TNHH TP.HCM."

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận văn

Số trang

214

Thời gian đọc

33 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Vai trò DNNN và Quản lý vốn nhà nước hiệu quả
Số trang:
214 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Vai trò DNNN và Quản lý vốn nhà nước hiệu quả

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). DNNN cần hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh. Mục tiêu là phát triển DNNN, tăng cường vai trò nòng cốt. Điều này giúp Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô. Đồng thời, DNNN đóng góp vào an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước cũng dựa vào nền tảng này. Hiến pháp 2013 và Cương lĩnh Xây dựng đất nước khẳng định vị thế này. Các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng liên tục nhấn mạnh. Quản lý tài chính DNNN hiệu quả là yêu cầu cốt lõi. Hiệu quả sử dụng vốn nhà nước cần được tối ưu hóa. Điều này đảm bảo nguồn lực quốc gia được phát huy tối đa.

1.1. Vị thế chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước

Kinh tế nhà nước là trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò then chốt. Chúng hiện diện trong nhiều lĩnh vực quan trọng. Nhà nước sử dụng DNNN làm công cụ điều tiết vĩ mô. Mục tiêu là ổn định kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. DNNN cũng thúc đẩy tăng trưởng, tạo nền tảng công nghiệp hóa. Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện pháp luật và định hướng phát triển quốc gia. Vai trò này đòi hỏi DNNN phải hoạt động với năng lực cao. Quản trị doanh nghiệp nhà nước cần minh bạch, hiệu quả. Đây là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững. Mục tiêu là phát huy tối đa tiềm lực của khu vực kinh tế này.

1.2. Nâng cao năng lực quản lý vốn DNNN

Việc nâng cao năng lực quản lý vốn DNNN là yếu tố sống còn. DNNN cần đổi mới để sản xuất kinh doanh hiệu quả. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra mục tiêu này. Số lượng DNNN giảm nhưng quy mô vốn tăng tại các ngành chủ chốt. Hiệu quả hoạt động được cải thiện. Đây là kết quả tích cực của quá trình đổi mới. Việc này giúp bảo toàn và phát triển vốn nhà nước. Giá trị tài sản tăng lên, tỷ lệ nợ được kiểm soát. Nâng cao năng lực quản lý vốn bao gồm cả việc tối ưu hóa phân bổ vốn đầu tư DNNN. Điều này đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cao nhất.

II. Đổi mới và cơ cấu vốn DNNN tại TP

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã thực hiện nhiều nỗ lực đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Quá trình này tập trung vào hai hình thức chính. Một là đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư thông qua cổ phần hóa DNNN. Hai là quản lý trực tiếp vốn nhà nước thông qua các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV). Cơ cấu vốn DNNN TP.HCM đã thay đổi đáng kể. Từ 432 doanh nghiệp năm 1997, chỉ còn 107 Công ty TNHH MTV sở hữu 100% vốn nhà nước. Tổng số vốn đạt 57.756 tỷ đồng. Trong đó, 17 tổng công ty và công ty lớn nắm giữ khoảng 51.554 tỷ đồng. Các đơn vị này hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Điều này đã giúp các doanh nghiệp chủ động hơn. Năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao. Tái cơ cấu DNNN TP.HCM là một quá trình liên tục. Mục tiêu là tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực nhà nước. Phân bổ vốn đầu tư DNNN được xem xét kỹ lưỡng. Điều này nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.

2.1. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư DNNN TP.HCM

TP.HCM ưu tiên cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Đây là một hình thức đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ. Người lao động cũng có quyền tự quyết trong cơ chế năng động. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao rõ rệt. Quá trình này đã mang lại những lợi ích cụ thể. Nguồn thu ngân sách nhà nước tăng 40%. Thu nhập của người lao động cũng tăng trên 24%. Điều này cho thấy tác động tích cực của chính sách. Cổ phần hóa DNNN góp phần cải thiện hiệu quả tài chính và xã hội.

2.2. Quản lý trực tiếp vốn nhà nước tại TP.HCM

Bên cạnh cổ phần hóa, Nhà nước quản lý trực tiếp vốn. Đại diện chủ sở hữu vốn thực hiện nhiệm vụ này. Mô hình các Công ty TNHH MTV được áp dụng. Số lượng doanh nghiệp do UBND TP.HCM sở hữu 100% vốn nhà nước đã giảm. Từ 432 doanh nghiệp năm 1997, con số hiện tại là 107 Công ty TNHH MTV. Tổng vốn nhà nước tại các đơn vị này đạt 57.756 tỷ đồng. Đặc biệt, 17 tổng công ty và công ty lớn nắm giữ phần lớn vốn. Các đơn vị này hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Mô hình này giúp phát huy thế chủ động. Năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị được nâng cao. Việc quản lý trực tiếp này đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ đối với hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.

III. Kết quả Hiệu quả sử dụng vốn nhà nước TP

Quá trình tái cơ cấu và đổi mới DNNN đã đạt được thành tựu nhất định. Các doanh nghiệp nhà nước đã tập trung hơn vào lĩnh vực then chốt. Quốc phòng, an ninh và cung ứng hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu là ưu tiên. Hệ thống pháp luật về DNNN được hoàn thiện. Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước được xác định rõ. Hoạt động của DNNN được công khai, minh bạch. Cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành được đẩy mạnh theo cơ chế thị trường. Năng lực quản trị và tiềm lực tài chính của DNNN được nâng lên. Hiệu quả sản xuất kinh doanh cải thiện. Vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển. Giá trị tài sản tăng. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu nằm trong giới hạn quy định. Đánh giá hiệu quả vốn DNNN cho thấy các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động tốt hơn. Những thành quả này là động lực để tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.

3.1. Tác động của cổ phần hóa đến ngân sách và lao động

Cổ phần hóa đã mang lại lợi ích cụ thể tại TP.HCM. Nguồn thu ngân sách nhà nước tăng 40%. Thu nhập của người lao động tăng trên 24%. Điều này chứng minh hiệu quả tích cực của việc chuyển đổi. Cổ phần hóa không chỉ tạo động lực kinh doanh. Cổ phần hóa còn góp phần cải thiện đời sống người lao động. Đồng thời, tăng nguồn lực cho ngân sách nhà nước. Đây là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả vốn DNNN. Sự thay đổi cơ cấu vốn DNNN TP.HCM đã mang lại kết quả rõ rệt.

3.2. Cải thiện năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp nhà nước sau tái cơ cấu đã phát huy thế chủ động. Năng lực sản xuất kinh doanh được nâng cao. Đặc biệt, các công ty TNHH MTV và tổng công ty lớn đã hoạt động hiệu quả hơn. Chúng góp phần quan trọng vào sự phát triển của TP.HCM. Việc này cũng phù hợp với mục tiêu nâng cao năng lực quản lý vốn. Cải thiện hiệu quả sử dụng vốn nhà nước là ưu tiên hàng đầu. Điều này đảm bảo các DNNN thực hiện tốt vai trò của mình. Chúng trở thành công cụ vật chất hiệu quả để Nhà nước điều tiết kinh tế.

IV. Thách thức quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện tại

Mặc dù có những thành tựu, DNNN vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả. Vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước chưa được thể hiện đầy đủ. Tái cơ cấu DNNN, cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm tiến độ. Tỷ lệ vốn được cổ phần hóa vẫn thấp. Quản trị doanh nghiệp nhà nước đổi mới chậm. Kiểm tra, giám sát nội bộ còn hạn chế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều DNNN thấp. Điều này không tương xứng với tài sản và nguồn lực được giao. Tình trạng thất thoát, lãng phí vẫn còn lớn. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra bất cập. Đầu tư khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhưng dàn trải. Nhiều công trình đầu tư không đồng bộ. Mục đích đầu tư không phù hợp với mục đích sử dụng. Điều này dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn rất thấp. Rủi ro tài chính DNNN cần được quản lý chặt chẽ hơn. Phân bổ vốn đầu tư DNNN cần được tối ưu hóa. Các vấn đề này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ và toàn diện.

4.1. Hạn chế trong tái cơ cấu và cổ phần hóa

Tiến độ tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn ở một số doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ vốn nhà nước được cổ phần hóa vẫn còn thấp. Điều này gây khó khăn cho việc đa dạng hóa nguồn vốn. Nó cũng hạn chế sự năng động của doanh nghiệp. Quá trình chuyển đổi chậm chạp ảnh hưởng đến hiệu quả tổng thể. Đây là một trong những rủi ro tài chính DNNN. Cần đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp tái cơ cấu. Mục tiêu là giải quyết dứt điểm các vướng mắc tồn đọng. Điều này giúp thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.

4.2. Thất thoát lãng phí và quản lý vốn dàn trải

Quản trị doanh nghiệp nhà nước đổi mới còn chậm. Hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ còn nhiều hạn chế. Điều này tạo điều kiện cho thất thoát và lãng phí. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều DNNN thấp. Nó không tương xứng với tài sản và nguồn lực khổng lồ. Việc phân bổ vốn đầu tư DNNN thường dàn trải. Nhiều công trình không đồng bộ, mục đích đầu tư không rõ ràng. Điều này dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp. Rủi ro tài chính DNNN gia tăng. Cần có giải pháp quyết liệt để nâng cao năng lực quản lý vốn. Đồng thời, phải kiểm soát chặt chẽ các khoản đầu tư. Việc này nhằm giảm thiểu lãng phí và tối ưu hóa nguồn lực.

Mục lục chi tiết luận án

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục tiêu nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.2. Vấn đề nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Quản lý hiệu quả vốn tại các doanh nghiệp nhà nước từ thực tiễn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của thành phố hồ chí minh luận án tiến sĩ kinh tế

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (214 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chú trọng hoàn thiện và hài hòa hóa các thành phần kinh tế. Trong Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp 2013, Đảng luôn khẳng định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thành phần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng. Tuy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một bộ phận của thành phần kinh tế nhà nước, nhưng cũng như các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Theo Điều 51 và Điều 52 Hiến pháp 2013, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước luôn xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước nhằm đảm bảo tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân. Vào tháng 04 năm 2001, Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, trong đó đã xác định rõ “Vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; DNNN được đổi mới, phát triển, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả”[34]. Sau 10 năm thực hiện, tháng 12 năm 2011, Hội nghị báo cáo tổng kết việc thực hiện Chiến lược này đã được tổ chức tại Hà Nội.

Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo thì kết quả đạt được là DNNN giảm về số lượng, nhưng doanh nghiệp trong những ngành, lĩnh vực quan trọng thì quy mô vốn tăng lên, hiệu quả hoạt động tốt hơn, cơ bản thực hiện được vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, làm công cụ vật chất để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhìn chung, kết quả đổi mới và phát triển doanh nghiệp mang tính tích cực và khả quan.750 DNNN đã được sắp xếp lại[67]. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), việc sắp xếp, đổi mới DNNN được thực hiện chủ yếu theo hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thức, (1) Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư: thực hiện cổ phần hóa các DNNN, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người lao động hoàn toàn tự chủ trong cơ chế năng động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả của việc cổ phần hóa các doanh nghiệp tại TP.HCM trong thời gian qua đã làm nguồn thu ngân sách nhà nước tăng 40% và thu nhập lao động tăng trên 24%; (2) Nhà nước quản lý trực tiếp vốn thông qua đại diện chủ sở hữu vốn: mô hình được thực hiện từ 432 doanh nghiệp năm 1997, đến nay sau khi hoàn thành việc sắp xếp, chuyển đổi mô hình, số doanh nghiệp do UBND TP.HCM làm chủ sở hữu 100% vốn nhà nước chỉ còn 107 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Công ty TNHH MTV) nắm giữ 57.756 tỷ đồng, trong đó có 17 tổng công ty và công ty lớn, nắm giữ khoảng 51.554 tỷ đồng và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, đã phát huy được thế chủ động và nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Theo Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XII (2016 – 2021) của Đảng, việc tái cơ cấu DNNN cũng đã đạt được những thành tựu nhất định. Sau khi cơ cấu lại, một bộ phận DNNN cơ bản thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; tập trung hơn vào những lĩnh vực then chốt, quốc phòng, an ninh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu, quản lý nhà nước được tăng cường. Hệ thống pháp luật về DNNN được hoàn thiện. Xác định rõ quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp và công khai, minh bạch hoạt động của DNNN.

Cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo cơ chế thị trường được đẩy mạnh. Năng lực quản trị, tiềm lực tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN được nâng lên; vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển; giá trị tài sản tăng; tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu trong giới hạn quy định. Các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt hơn. Tuy nhiên, Dự thảo Văn kiện cũng xác định là DNNN hoạt động kém hiệu quả, chưa thể hiện được vai trò lực lượng nòng cốt của kinh tế Nhà nước.

Tái cơ cấu DNNN, cổ phần hóa, thoái vốn ở một số doanh nghiệp chưa đạt tiến độ. Tỉ lệ vốn được cổ phần hóa còn thấp. Quản trị doanh nghiệp đổi mới còn chậm; kiểm tra, giám sát nội bộ còn hạn chế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều DNNN thấp, chưa tương xứng với tài sản và nguồn lực, thất thoát, lãng phí còn lớn.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng vấn đề quản lý vốn nhà nước tại các DNNN còn nhiều bất cập như đối với đầu tư khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhưng không tập trung mà bố trí dàn trải, nhiều công trình đầu tư không đồng bộ và mục đích đầu tư không phù hợp với mục đích sử dụng nên hiệu quả sử dụng vốn rất thấp[35]. Bên cạnh đó, một số tập đoàn, tổng công ty đã thành lập các công ty con và đầu tư vào những lĩnh vực ngoài nhiệm vụ chính được giao nhưng kiểm soát thiếu chặt chẽ làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp; tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN tuy đã rõ hơn nhưng vẫn còn nhiều lúng túng và quản lý kém hiệu quả. Do đó, nhà nước cần có một cơ chế quản lý vốn để tránh tình trạng này. Ngoài ra, cũng cần có các giải pháp để giúp các DNNN, đặc biệt là các Tổng công ty, các Công ty TNHH MTV đang nắm giữ 100% vốn nhà nước và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con quản lý thật hiệu quả vốn nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Bên cạnh những vấn đề về quản lý vốn nhà nước mang tính chất thực tiễn như trên, vấn đề lý luận cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong thời gian qua, khung pháp lý về hoạt động cũng như cơ chế, hệ thống giám sát tài chính doanh nghiệp luôn được nhà nước quan tâm và hoàn thiện, sao cho cơ chế giám sát tài chính cũng như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế. Phương thức quản lý vốn nhà nước cũng được đổi mới từ quản lý hành chính sang quan hệ đầu tư, kinh doanh vốn. Trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu vốn và người điều hành doanh nghiệp, pháp luật cũng xác định rõ mức độ và giới hạn giữa hai bên trong mối quan hệ này sao cho tăng cường thêm tính tự chủ của doanh nghiệp có vốn nhà nước[61].

Nhiều nhà nghiên cứu, nhà lập pháp đã đặc biệt quan tâm đến cơ sở lý luận trong việc quản lý vốn như việc xác định khái niệm vốn, khái niệm DNNN, cơ chế kiểm tra, giám sát về quản lý vốn tại các DNNN cũng như mô hình tổ chức thực hiện chức năng sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Vấn đề này được đặt ra bởi lẽ trên thực tế còn rất nhiều bất cập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì những thực tế như trên mà tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản lý hiệu quả vốn tại các Doanh nghiệp nhà nước – từ thực tiễn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận án tiến sỹ. Công trình nghiên cứu này sẽ nghiên cứu về cả quy định của pháp luật và thực trạng quản lý vốn các DNNN, nhất là các các Công ty TNHH MTV đang nắm giữ 100% vốn nhà nước trực thuộc UBND TP.HCM, để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất trong việc quản lý vốn nhà nước.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài Liên quan đến vấn đề quản lý vốn nhà nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhìn từ góc độ quản lý hành chính công, Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước đối với tổng công ty 90-91 theo hướng hình thành tập đoàn kinh tế” của Lê Hồng Tịnh năm 2010 đã nghiên cứu được bản chất, vị trí, vai trò của các tổng công ty 90-91, các tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thị trường; đã đánh giá được thực trạng hoạt động của các tổng công ty 90-91, các tập đoàn kinh tế và việc quản lý nhà nước đối với các tổng công ty 90-91 theo hướng hình thành tập đoàn kinh tế tại Việt Nam; đã đưa ra các kiến nghị về phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm thực hiện hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổng công ty 90-91 theo hướng hình thành tập đoàn kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, ở đề tài nghiên cứu này, tác giả luận án chưa đề cập đến tính đặc thù trong hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn kinh tế nhà nước, được gọi chung là DNNN; các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn kinh tế nhà nước, các DNNN. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Nam về đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” năm 2005 cũng đã tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam.

Điểm tương đồng của công trình nghiên cứu trên với đề án này là cùng nghiên cứu về vấn đề quản lý vốn trong phạm vi DNNN nhưng chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Quản lý vốn hiệu quả tại DNNN: Thực tiễn TP.HCM (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/khoa-hoc-xa-hoi/quan-ly-von-hieu-qua-tai-dnnn-thuc-tien-tphcm

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Quản lý vốn hiệu quả tại DNNN: Thực tiễn TP.HCM" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án tiến sĩ: chiến lược quản lý vốn hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, dựa trên thực tiễn công ty TNHH TP.HCM."

Luận án "Quản lý vốn hiệu quả tại DNNN: Thực tiễn TP.HCM" có bao nhiêu trang?

Luận án "Quản lý vốn hiệu quả tại DNNN: Thực tiễn TP.HCM" có 214 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Quản lý vốn hiệu quả tại DNNN: Thực tiễn TP.HCM" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter