Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòng vắcxin viêm gan b

Luận án tiến sĩ đánh giá khả năng tạo kháng thể và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng. Phân tích hiệu quả bảo vệ vaccine và các yếu tố ảnh hưởng.

Chuyên ngành
Nhi khoa
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

164

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Tình hình viêm gan B: Thách thức toàn cầu về miễn dịch.
Số trang:
164 trang
Trường:
Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành:
Nhi khoa
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I.

Nhiễm virus viêm gan B (VRVGB) là vấn đề y tế cộng đồng nghiêm trọng. Khoảng 2 tỷ người trên thế giới bị nhiễm VRVGB, với 350 triệu người mang mầm bệnh mạn tính. Bệnh gây ra nhiều hệ lụy sức khỏe, đặc biệt là ung thư gan và xơ gan. Tỷ lệ nhiễm cao ở trẻ em làm tăng đáng kể gánh nặng bệnh tật. Miễn dịch cộng đồng cần được củng cố để đối phó thách thức này.

1.1. Gánh nặng bệnh tật viêm gan B toàn cầu.

Hàng năm, khoảng một triệu người mang VRVGB mạn tính tử vong do ung thư gan nguyên phát và xơ gan. VRVGB là tác nhân gây ung thư đứng thứ hai, chỉ sau thuốc lá. Virus này liên quan đến 80% các trường hợp ung thư gan ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước Châu Á và Châu Phi. Đây là thách thức lớn đối với việc tạo ra đáp ứng miễn dịch hiệu quả trên toàn cầu.

1.2. Nhiễm virus viêm gan B ở trẻ em.

Lứa tuổi bị nhiễm ảnh hưởng lớn đến tình hình dịch tễ. Nhiễm VRVGB trong thời kỳ thơ ấu làm tăng tình trạng người lành mang VRVGB mạn tính. Điều này kéo theo nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thư gan cao hơn do thời gian mang virus kéo dài. Ở các vùng có tỷ lệ lưu hành VRVGB cao, phần lớn nhiễm bệnh xảy ra ngay từ khi còn nhỏ. Phát triển hệ miễn dịch khỏe mạnh ở trẻ là mục tiêu hàng đầu.

II.

Luận án tập trung đánh giá hiệu quả của chương trình tiêm chủng viêm gan B. Việc đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, nghiên cứu nhắm vào trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg. Mục tiêu là xác định khả năng tạo kháng thể và hiệu giá kháng thể bảo vệ.

2.1. Mục tiêu nghiên cứu về miễn dịch vắc xin.

Luận án mô tả hiện trạng nhiễm VRVGB ngay sau sinh ở con của các bà mẹ có HBsAg(+). Nghiên cứu đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch chống VRVGB của trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg(+) sau tiêm phòng vắc xin viêm gan B. Khảo sát mối liên quan giữa một số dấu ấn virus viêm gan B trong máu mẹ, máu cuống rốn với mức độ đáp ứng miễn dịch của trẻ sau tiêm đủ 4 mũi vắc xin viêm gan B. Miễn dịch học là nền tảng của nghiên cứu này.

2.2. Tầm quan trọng của theo dõi nồng độ kháng thể.

Việc theo dõi nồng độ kháng thể cần thiết để đánh giá hiệu quả phòng bệnh. Nồng độ kháng thể đủ cao thể hiện hệ miễn dịch đã tạo được miễn dịch bảo vệ. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu giá kháng thể ở nhóm trẻ có nguy cơ cao. Kết quả giúp tối ưu hóa phác đồ tiêm chủng, đảm bảo miễn dịch bảo vệ bền vững. Hiểu rõ đáp ứng kháng thể là chìa khóa.

III.

Lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang con là con đường lây nhiễm chính ở nhiều khu vực. Điều này gây ra thách thức lớn trong việc kiểm soát dịch tễ. Hiểu rõ cơ chế lây truyền giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Tiêm chủng cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg là ưu tiên hàng đầu để thiết lập miễn dịch bảo vệ.

3.1. Phương thức lây truyền dọc VRVGB.

Lây truyền dọc VRVGB từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung, trong quá trình sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh. Đây là đường lây truyền quan trọng ở Châu Á. Tại đây, tỷ lệ lây truyền VRVGB trong thời kỳ chu sinh chiếm tới 40% tổng số người mang VRVGB mạn tính. Hệ miễn dịch của trẻ sơ sinh cần được hỗ trợ để chống lại sự lây nhiễm này.

3.2. Nguy cơ nhiễm VRVGB mạn tính ở trẻ.

Nguy cơ nhiễm VRVGB mạn tính ở trẻ rất cao. Nguy cơ lên tới 70-90% nếu trẻ sinh ra từ các bà mẹ đồng thời có HBsAg(+) và HBeAg(+). Nguy cơ này giảm xuống khoảng 20% nếu bà mẹ chỉ có HBsAg(+) nhưng HBeAg(-). Việc xác định sớm tình trạng HBsAg của mẹ rất quan trọng cho các chiến lược tiêm chủng. Đáp ứng miễn dịch ban đầu quyết định nhiều đến diễn tiến bệnh.

IV.

Tiêm chủng vắc xin viêm gan B là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất. Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến nghị triển khai vắc xin rộng rãi. Vắc xin đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra miễn dịch bảo vệ và kiểm soát dịch bệnh toàn cầu. Mục tiêu là đạt được miễn dịch cộng đồng vững chắc.

4.1. Khuyến nghị tiêm chủng của Tổ chức Y tế Thế giới.

Để khắc phục nguy cơ lây truyền và hậu quả của nhiễm VRVGB, TCYTTG đã khuyến cáo đưa vắc xin viêm gan B vào chương trình tiêm chủng cho trẻ em ở tất cả các quốc gia. Chương trình tiêm chủng mở rộng giúp tăng cường miễn dịch cộng đồng. Đây là bước đi quan trọng để giảm gánh nặng bệnh tật. Mỗi liều vắc xin góp phần vào hệ miễn dịch toàn diện.

4.2. Vai trò vắc xin trong tạo kháng thể chủ động.

Vắc xin viêm gan B kích thích hệ miễn dịch của cơ thể sản xuất kháng thể. Kháng thể này có khả năng nhận diện và trung hòa virus. Quá trình này tạo ra miễn dịch bảo vệ chủ động, giúp cơ thể chống lại sự lây nhiễm trong tương lai. Tiêm chủng đúng lịch trình và đủ liều là yếu tố then chốt để đạt hiệu giá kháng thể tối ưu. Đáp ứng miễn dịch tốt là biểu hiện của vắc xin hiệu quả.

V.

Thực trạng tiêm chủng vắc xin viêm gan B tại Việt Nam còn nhiều thách thức. Mặc dù có khuyến nghị rõ ràng, tỷ lệ tiêm phòng vẫn chưa đạt mức tối ưu. Cần có những bằng chứng khoa học để nâng cao hiệu quả phòng bệnh. Tăng cường đáp ứng miễn dịch là mục tiêu quan trọng.

5.1. Thực trạng tiêm phòng vắc xin ở Việt Nam.

Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á, nơi có tỷ lệ lưu hành HBsAg cao nhất thế giới, dao động từ 10-25%. Tiêm phòng mũi vắc xin viêm gan B sơ sinh trong 24 giờ đầu sau sinh được hướng dẫn. Tuy nhiên, thông tin về các tai biến sau tiêm phòng vắc xin VGB vào năm 2006 đã làm tỷ lệ trẻ được tiêm giảm mạnh. Từ 67,0% năm 2006 xuống còn 24,0% năm 2007 và 22,0% năm 2008. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến miễn dịch cộng đồng.

5.2. Cải thiện hiệu quả tiêm chủng và miễn dịch.

Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ khuyến cáo tiêm phòng vắc xin cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg(+) tốt nhất trong 12 giờ đầu sau sinh. Việc tiêm phòng muộn ở nhóm trẻ nguy cơ cao này ảnh hưởng đến hiệu quả phòng bệnh. Thực tế đòi hỏi có những bằng chứng khoa học cụ thể để nâng cao hiệu quả phòng bệnh viêm gan B. Nghiên cứu này đóng góp dữ liệu quý giá cho các chiến lược cải thiện đáp ứng miễn dịch và tiêm chủng, đặc biệt trong việc tạo ra nồng độ kháng thể bảo vệ.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. VIRUS VIÊM GAN
1.1.1. Đặc điểm sinh học của VRVGB
1.1.2. Cấu trúc gen và các protein của VRVGB
1.1.3. Quá trình nhân lên của VRVGB
1.1.4. Nhóm huyết thanh của VRVGB
1.1.5. Kiểu gen của VRVGB
1.1.6. Khả năng gây bệnh của VRVGB
1.1.6.1. Nhiễm VRVGB cấp tính
1.1.6.2. Nhiễm VRVGB mạn tính
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòng vắcxin viêm gan b ở trẻ có mẹ mang hbsag

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (164 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHÍ ĐỨC LONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG TẠO KHÁNG THỂ ĐỐI VỚI VẮCXIN PHÕNG VIÊM GAN B Ở TRẺ CÓ MẸ MANG HBsAg LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2014 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHÍ ĐỨC LONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG TẠO KHÁNG THỂ ĐỐI VỚI VẮCXIN PHÕNG VIÊM GAN B Ở TRẺ CÓ MẸ MANG HBsAg Chuyên ngành: Nhi khoa Mã số: 62720135 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. Nguyễn Thị Vinh Hà 2. Nguyễn Văn Bàng HÀ NỘI – 2014 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm virus viêm gan B (VRVGB) là một vấn đề có tính chất toàn cầu. Khoảng 30% dân số trên thế giới (tức 2 tỷ ngƣời) bị nhiễm VRVGB, trong đó 350 triệu ngƣời mang VRVGB mạn tính.

Hàng năm, ƣớc tính trên thế giới có tới một triệu ngƣời mang VRVGB mạn tính chết vì ung thƣ gan nguyên phát và xơ gan [1]. VRVGB là tác nhân gây ung thƣ đứng thứ hai sau thuốc lá [2]. Virus này có liên quan tới 80% các trƣờng hợp ung thƣ gan ở nhiều nƣớc, đặc biệt là các nƣớc Châu Á và Châu Phi [3]. Một trong những vấn đề quan trọng của tình hình dịch tễ nhiễm VRVGB là lứa tuổi bị nhiễm.

Nếu số ngƣời bị nhiễm xảy ra trong thời kỳ thơ ấu càng nhiều thì càng tăng tình trạng ngƣời lành mang VRVGB và gia tăng nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thƣ gan do khoảng thời gian dài của quá trình mang virus [2]. Trong những vùng có tỷ lệ VRVGB lƣu hành cao, phần lớn nhiễm VRVGB xảy ra trong thời kỳ thơ ấu. Những ngƣời này thƣờng mang virus ngay từ khi mới ra đời do mẹ mang virus truyền sang con. Phƣơng thức lây truyền này đƣợc gọi là lây truyền dọc [2].

Lây truyền dọc VRVGB từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung, trong khi sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh. Nguy cơ nhiễm VRVGB mạn tính lên tới 70-90% nếu trẻ sinh ra từ các bà mẹ đồng thời có HBsAg(+) và HBeAg(+), nhƣng chỉ khoảng 20% nếu bà mẹ có HBsAg(+) và HBeAg(-) [2]. Lây truyền từ ngƣời mẹ mang virus sang con là đƣờng lây truyền quan trọng của VRVGB, đặc biệt ở Châu Á nơi tỷ lệ lây truyền VRVGB trong thời kỳ chu sinh chiếm 40% trong tổng số những ngƣời mang VRVGB mạn [3]. Để khắc phục nguy cơ lây truyền cũng nhƣ hậu quả của nhiễm VRVGB theo phƣơng thức này, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo đƣa vắcxin viêm gan B vào chƣơng trình tiêm chủng cho trẻ em ở tất cả các quốc gia [4].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Việt Nam nằm ở Châu Á là khu vực có sự lƣu hành của HBsAg cao nhất thế giới. Tỷ lệ lƣu hành HBsAg ở nƣớc ta nằm trong khoảng từ 10-25% [5], [6], [7]. Ở Việt Nam việc tiêm phòng mũi vắcxin viêm gan B sơ sinh trong chƣơng trình tiêm chủng mở rộng đang đƣợc hƣớng dẫn trong 24 giờ đầu sau sinh cho tất cả các đối tƣợng theo khuyến cáo của TCYTTG. Năm 2006, thông tin về các tai biến sau tiêm phòng vắcxin VGB ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Hà Tĩnh đã làm tỷ lệ trẻ đƣợc tiêm phòng mũi vắcxin viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu giảm từ 67,0% năm 2006 xuống còn 24,0% năm 2007 và 22,0% năm 2008 [8].

Theo khuyến cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ, tiêm phòng vắcxin cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg(+) tốt nhất trong 12 giờ đầu sau sinh [9],[10]. Việc tiêm phòng muộn ở nhóm trẻ có nguy cơ cao này có thể là một trong những lý do ảnh hƣởng đến hiệu quả của việc phòng bệnh viêm gan ở nƣớc ta hiện nay. Thực tế đòi hỏi có những bằng chứng khoa học để nâng cao hiệu quả phòng bệnh viêm gan B ở nƣớc ta. Từ đó, đề tài nghiên cứu này đƣợc tiến hành nhằm các mục tiêu: 1.

Mô tả hiện trạng nhiễm virus viêm gan B ngay sau sinh ở con của các bà mẹ có HBsAg(+) khi sinh. Đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus viêm gan B của trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg(+) sinh ra được tiêm phòng vắcxin viêm gan B. Khảo sát mối liên quan giữa một số dấu ấn virus viêm gan B trong máu mẹ, máu cuống rốn với mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus viêm gan B của trẻ sau tiêm phòng đủ 4 mũi vắcxin viêm gan B. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

VIRUS VIÊM GAN Viêm gan virus là một bệnh do nhiều căn nguyên gây ra và đƣợc mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên. Khi Hippocrates mô tả bệnh dịch vàng da, chắc chắn ông đã đề cập đến những ngƣời bị viêm gan B (VGB) cấp tính cũng nhƣ các tác nhân viêm gan khác. Các đợt dịch vàng da đƣợc mô tả nhiều lần trong lịch sử nhân loại nhƣng phổ biến trong các cuộc chiến tranh ở thế kỷ 19 và 20. Nhiều vụ dịch là do virus viêm gan A, nhƣng virus VGB có khả năng là một trong các tác nhân gây nên những đợt dịch vàng da do việc sử dụng phổ biến các chế phẩm máu [11].

Năm 1883, Lurman ở Bremen (Đức) nhận thấy có một bệnh viêm gan có thể lây truyền trực tiếp sau tiêm chủng vắcxin đậu mùa chiết tách từ máu ngƣời. Trong những năm đầu của thế kỷ 20, những vụ dịch viêm gan có thời gian ủ bệnh dài ở những nhóm bệnh nhân đến khám vì có bệnh hoa liễu, đái tháo đƣờng, lao, sau truyền máu, sau tiêm chủng vắcxin từ huyết thanh ngƣời. Nghiên cứu theo dõi dọc sau này (trong những năm 1980) đã cho thấy 97,0% những ngƣời nhận vắcxin huyết thanh sốt vàng có bằng chứng huyết thanh học của nhiễm VRVGB so với 13,0% ở nhóm nhận vắcxin không chứa huyết thanh, điều này đã chứng tỏ VRVGB là nguyên nhân của những vụ dịch này. Trƣớc đó, vào năm 1947, MacCallum và Bauer đƣa ra thuật ngữ viêm gan A cho viêm gan truyền nhiễm và viêm gan B cho viêm gan liên quan đến huyết thanh.

Trong những năm 1960-1970, Krugmam mô tả hai loại viêm gan virus MS-1 và MS-2. Trong đó MS-1 chính là viêm gan A của MacCallum, lây truyền qua đƣờng phân miệng và có thời gian ủ bệnh ngắn 30-38 ngày. MS-2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tƣơng ứng với viêm gan B có thời gian ủ bệnh dài hơn 41-108 ngày lây truyền do tổ chức dƣới da tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể. Cùng thời gian với những nghiên cứu của Krugamn, Blumberg và Alter đã phát hiện trong huyết thanh của của thổ dân Australia bị bệnh bạch cầu một loại kháng nguyên mới - kháng nguyên Australia (chính là HBsAg sau này) khi làm thử nghiệm khuyếch tán trên gel.

Mối liên quan của kháng nguyên Australia với viêm gan B cấp tính đã đƣợc tìm ra sau đó dẫn đến sự phát triển các xét nghiệm đặc hiệu với VRVGB. Căn nguyên virus của bệnh VGB đƣợc khẳng định chắc chắn dƣới kính hiển vi điện tử khi phát hiện ra một số hạt virus (chính là các hạt Dane) phản ứng với huyết thanh kháng kháng nguyên Australia. Thành phần vỏ ngoài của của hạt Dane đƣợc gọi là kháng nguyên bề mặt của virus VGB (HBsAg). Thành phần lõi có chứa ADN nội sinh và kháng nguyên lõi (HBcAg).

Kháng nguyên thứ ba (liên quan đến khả năng lây nhiễm) là HBeAg đƣợc Magnius và Espmark mô tả lần đầu tiên năm 1972 [11]. Kháng nguyên lõi Protein bề mặt nhỏ (S) Formatted: Font: Times New Roman, (HBcAg) 9 pt, Bold, Dutch (Netherlands) Protein bề mặt trung Kháng nguyên Formatted: Centered, No bình M (S+Pre-S2) widow/orphan control bề mặt (HBsAg) Formatted: Font: Times New Roman, Protein bề mặt lớn L 9 pt, Bold (S+PreS2+PreS1) Formatted: Centered, No widow/orphan control Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Formatted: Centered, No widow/orphan control Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Hình 1.1: Cấu trúc hạt VRVGB hoàn chỉnh [12] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm sinh học của VRVGB VRVGB là một virus có cấu trúc ADN sợi kép và có vỏ thuộc họ Hepadnaviridae, nhân lên ở trong gan và gây nên các rối loạn chức năng gan. HBsAg có ở trên bề mặt ngoài của hạt virus hoàn chỉnh (hạt Dane) và lƣu hành trong máu dƣới dạng các hạt hình ống hoặc hình cầu 22nm (hình 1.

Nhân bên trong của virus có chứa HBcAg, HBeAg, phân tử ADN một phần sợi kép và ADN polymeraza phụ thuộc ADN [11], [13]. Cấu trúc gen và các protein của VRVGB VRVGB là virus có ADN nhỏ nhất đƣợc biết đến, cấu trúc gen chỉ có 3200 cặp bazơ và tổ chức đặc biệt dạng vòng, có một phần sợi kép (hình 1. Sợi âm của ADN là một vòng hoàn chỉnh có 4 khung đọc mở (open reading frame: ORF) chứa các gen mã hoá đan xen vào nhau: ORFS - gen tiền S1, tiền S2 và S; ORFC - gen tiền lõi/lõi, ORFX - gen X và ORFP - gen polymeraza. Sợi dƣơng của virus ngắn hơn và có chiều dài thay đổi [11].

Các gen S và tiền S mã hoá vỏ VRVGB. Protein chính tạo nên các hạt HBsAg là loại nhỏ (SHBs). Protein trung bình (MHBs) chứa thành phần tiền S2 và protein bề mặt loại lớn (LHBs) chứa tiền S1 cũng liên kết vào các hạt HBsAg nhƣng đƣợc thấy nhiều hơn trong các hạt virus trơ. Các nghiên cứu cho rằng protein tiền S đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kết hợp của VRVGB vào tế bào gan, vị trí gắn đặc hiệu ở gan đối với S1 và tiền S2 đã đƣợc xác định từ thực nghiệm [11].

Gen ORF-C mã hóa cho cả HBcAg và HBeAg. Trong quá trình sao chép, HBcAg đến nối mạng lƣới nội bào bị cắt rời và HBeAg (đoạn tiền lõi) đƣợc tạo ra. HBcAg có vai trò quan trọng trong việc đóng gói ARN vào nhân virus và là một thành phần không thể thiếu của nucleocapsid. Không thể phát hiện HBcAg trong huyết thanh bằng các kỹ thuật thông thƣờng, tuy nhiên có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thể tìm thấy trong nhu mô gan ở các bệnh nhân nhiễm VRVGB cấp và mạn tính.

HBeAg là một protein hoà tan có thể phát hiện trong huyết thanh các bệnh nhân có tải lƣợng virus cao, nhƣng sự có mặt của HBeAg không phải là một yếu tố bắt buộc cho quá trình nhân lên của virus [11], [13]. Gen ORF-P mã hóa cho enzym polymeraza có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp ADN và quá trình kết hợp ARN vào nhân virus [1], [13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Phí Đức Long (2014). Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-te-cong-cong/dich-te-hoc/hbsag

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án tiến sĩ đánh giá khả năng tạo kháng thể và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng. Phân tích hiệu quả bảo vệ vaccine và các yếu tố ảnh hưởng.

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" thuộc chuyên ngành Nhi khoa. Danh mục: Dịch Tễ Học.

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" có 164 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá đáp ứng tạo kháng thể sau tiêm phòn" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter