Nghiên cứu yếu tố nguy cơ, hiệu quả thông khí nhân tạo trị ARDS ở bệnh nhân bỏng nặng

Tài liệu: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng luận án thạc sĩ

Chuyên ngành

Ngoại Bỏng

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sỹ

Năm xuất bản

Số trang

190

Thời gian đọc

29 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.ARDS Bỏng Nặng Thách Thức Điều Trị Tỷ Lệ Tử Vong Cao

ARDS là biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân bỏng nặng. Hội chứng này thường gặp trong hồi sức cấp cứu. Tỷ lệ tử vong do ARDS rất cao. Các nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ 40-70%. Tại Việt Nam, một nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong 61,1%. ARDS làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong ở bệnh nhân bỏng. Đặc biệt, tình trạng bỏng hô hấp kết hợp làm bệnh nặng thêm. Điều trị ARDS trong bỏng là một thách thức lớn. Các nhà lâm sàng gặp nhiều khó khăn. Việc xác định yếu tố nguy cơ giúp chẩn đoán sớm.

1.1. Ảnh hưởng của ARDS đến bệnh bỏng nặng

ARDS là biến chứng nặng. Biến chứng này xuất hiện ở bệnh nhân bỏng nặng. ARDS làm tăng tỷ lệ tử vong ARDS bỏng. Tình trạng này đặc biệt nguy hiểm khi có bỏng hô hấp. Bỏng hô hấp là yếu tố làm bệnh nặng thêm. Tỷ lệ ARDS ở bệnh nhân bỏng dao động 20-56%. Mức độ bỏng ảnh hưởng tỷ lệ này. Chẩn đoán sớm rất cần thiết.

1.2. Tầm quan trọng chẩn đoán sớm ARDS bỏng

Xác định yếu tố nguy cơ ARDS là cần thiết. Việc này hỗ trợ chẩn đoán sớm. Chẩn đoán sớm cải thiện kết quả điều trị. Các yếu tố này giúp can thiệp kịp thời. Bệnh nhân bỏng nặng cần được theo dõi sát. Phát hiện ARDS sớm giúp giảm tử vong ARDS bỏng. Công tác chẩn đoán cần sự phối hợp.

II.Yếu Tố Nguy Cơ Gây ARDS Bỏng Nặng Biện Pháp Phòng Ngừa

Nhiều yếu tố góp phần gây ra ARDS ở bệnh nhân bỏng nặng. Diện tích bỏng chung là một nguy cơ. Diện tích bỏng sâu cũng quan trọng. Bỏng hô hấp kết hợp làm tăng rủi ro. Các yếu tố này đã được công nhận. Tuổi tác bệnh nhân ảnh hưởng tiên lượng. Tình trạng nhiễm khuẩn là mối lo ngại lớn. Sốc nhiễm khuẩn càng làm tăng nguy cơ ARDS. Cần đánh giá kỹ lưỡng từng bệnh nhân để phòng ngừa ARDS bỏng nặng hiệu quả.

2.1. Các yếu tố nguy cơ hiển nhiên của ARDS bỏng

Diện tích bỏng chung ảnh hưởng đến nguy cơ. Diện tích bỏng sâu cũng là một yếu tố. Tổn thương phổi do bỏng liên quan đến diện tích. Bỏng hô hấp kết hợp là nguyên nhân chính gây Chấn thương hít khói. Những yếu tố này thường được đề cập. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát ARDS.

2.2. Các yếu tố nguy cơ khác liên quan ARDS bỏng

Tuổi của bệnh nhân là một yếu tố quan trọng. Tình trạng nhiễm khuẩn hệ thống là nguy cơ đáng kể. Nhiễm trùng huyết bỏng có thể dẫn đến sốc nhiễm khuẩn. Sốc nhiễm khuẩn làm tăng khả năng phát triển ARDS. Điểm APACHE III cao liên quan đến tiên lượng xấu. Khối lượng máu và chế phẩm máu truyền cũng ảnh hưởng. Cần đánh giá toàn diện các yếu tố này để kiểm soát ARDS bỏng nặng.

III.Sinh Bệnh Học ARDS Thông Khí Bảo Vệ Phổi Hiệu Quả

Cơ chế chính của ARDS liên quan Tổn thương phổi do bỏng. Tổn thương màng phế nang – mao mạch là cốt lõi. Màng này bị tăng tính thấm. Dịch phù giàu protein thoát vào khoảng kẽ phổi. Sau đó, dịch tràn vào lòng phế nang. Điều này gây suy hô hấp cấp nặng. Bệnh nhân bị giảm oxy máu trầm trọng. Tình trạng này trơ với liệu pháp oxy. Thông khí nhân tạo đóng vai trò then chốt. Hồi sức và điều trị ARDS cần thông khí nhân tạo.

3.1. Cơ chế tổn thương phổi trong ARDS bỏng

ARDS là hậu quả tổn thương màng phế nang – mao mạch. Màng này có tính thấm tăng lên. Dịch phù chứa nhiều protein thoát ra. Dịch này đi vào khoảng kẽ phổi. Nó cũng tràn vào lòng các phế nang. Điều này dẫn đến suy hô hấp cấp nặng. Giảm oxy máu là triệu chứng chính. Tình trạng giảm oxy máu không đáp ứng oxy. Quá trình này gây ra suy hô hấp cấp tiến triển.

3.2. Vai trò thông khí bảo vệ phổi trong ARDS

Thông khí nhân tạo có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp hồi sức và điều trị ARDS. Lựa chọn phương thức thông khí hợp lý rất cần thiết. Phương thức này góp phần giảm tỷ lệ tử vong ARDS bỏng. Nó cũng cải thiện kết quả điều trị. Hiện nay, chiến lược thông khí bảo vệ phổi được ưu tiên. Chiến lược này cải thiện tình trạng oxy máu. Nó cũng giúp giảm tỷ lệ tử vong. Thông khí nhân tạo ARDS bỏng cần được thực hiện cẩn trọng.

IV.Tổng Quan Bệnh Bỏng Giai Đoạn và Rối Loạn Hệ Thống

Chấn thương bỏng gây ra nhiều rối loạn chức phận. Cơ thể phản ứng toàn thân để tự bảo vệ. Bỏng rộng, sâu gây rối loạn toàn bộ cơ quan. Bệnh bỏng là phản ứng bệnh lý chung. Những phản ứng này có tính chất quy luật. Bệnh bỏng diễn biến qua bốn thời kỳ. Mỗi thời kỳ có đặc điểm riêng. Việc hiểu rõ các giai đoạn giúp điều trị hiệu quả. Từ sốc đến suy mòn, bệnh nhân phải đối mặt nhiều thách thức.

4.1. Thời kỳ sốc bỏng và các rối loạn cấp tính

Thời kỳ này kéo dài 2-3 ngày sau bỏng. Đây là thời kỳ phản ứng bệnh lý cấp. Đặc trưng là trạng thái sốc bỏng. Sốc bỏng là suy sụp đột ngột chức năng cơ thể. Nó do chấn thương bỏng gây nên. Giai đoạn này còn gặp rối loạn tuần hoàn. Rối loạn hô hấp cũng phổ biến. Bỏng điện, nhiễm độc CO, chấn thương hít khói đều ảnh hưởng. Hoại tử khô có thể gây rối loạn hô hấp.

4.2. Thời kỳ nhiễm khuẩn suy mòn và biến chứng

Thời kỳ nhiễm khuẩn nhiễm độc kéo dài. Nó bắt đầu từ ngày 3-4 đến 30-60 ngày sau bỏng. Bỏng nông sẽ liền sẹo, khỏi bệnh. Bỏng sâu có viêm mủ, rụng hoại tử. Cơ thể hấp thụ độc tố vi khuẩn. Hấp thụ sản phẩm thoái biến của hoại tử. Chất béo – protein phức hợp (LPC) cũng là nguồn gốc bệnh lý. LPC là sản phẩm phân rã từ da bỏng nhiệt. Sau đó là thời kỳ suy mòn. Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng là nổi bật. Nhiễm trùng huyết bỏng có thể xảy ra. Biến chứng tại chỗ và toàn thân có thể xuất hiện.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng luận án thạc sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (190 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÕNG HỌC VIỆN QUÂN Y HỒ THỊ VÂN ANH NGHI£N CøU MéT Sè YÕU Tè NGUY C¥ Vµ HIÖU QU¶ CñA TH¤NG KHÝ NH¢N T¹O §IÒU TRÞ HéI CHøNG SUY H¤ HÊP CÊP TIÕN TRIÓN ë BÖNH NH¢N BáNG NÆNG Chuyên ngành: Ngoại Bỏng Mã số: 62 72 01 28 LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC Giáo viên hƣớng dẫn: 1.TS Nguyễn Gia Bình 2.TS Nguyễn Nhƣ Lâm HÀ NỘI - 2014 2 ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thƣơng bỏng rộng, độ sâu nhiều làm rối loạn toàn bộ chức năng cơ quan trong cơ thể, tạo nên bệnh bỏng. Trạng thái suy giảm miễn dịch, nhiễm khuẩn nhiễm độc, suy mòn, hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, rối loạn chức năng nhiều tạng (Multiple Organ Dysfuction Syndrome – MODS), suy đa tạng (Multiple Organ Failure – MOF)(trong đó có suy hô hấp) tạo vòng luẩn quẩn làm diễn biến bệnh bỏng càng nặng thêm. Bệnh bỏng luôn tồn tại các nguy cơ xuất hiện các biến chứng, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong [7], [8]. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) là hội chứng lâm sàng thƣờng gặp trong các khoa Hồi sức cấp cứu và có tỷ lệ tử vong cao.

Nhiều công trình đã công bố cho thấy tỷ lệ tử vong do ARDS khoảng 40 – 70% [48], [56]. Ở Việt Nam, Trần Thị Oanh (2006), thông báo tỷ lệ tử vong của ARDS tại khoa Điều trị tích cực và Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai là 61,1% [5]. ARDS là một trong các biến chứng nặng ở bệnh nhân bỏng nặng [42], làm tăng tỷ lệ tử vong trong bỏng, đặc biệt trên bệnh nhân có bỏng hô hấp kết hợp. Điều trị ARDS trong bỏng vẫn là thách thức lớn đối với các nhà lâm sàng.

Theo các nghiên cứu, tỷ lệ ARDS ở bệnh nhân bỏng 20% - 56% tùy theo mức độ nặng của bệnh bỏng [32], [35]. Việc xác định các yếu tố nguy cơ gây ARDS trong bỏng là cần thiết giúp cho công tác chẩn đoán sớm và điều trị. Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố nguy cơ hiển nhiên của ARDS trong bỏng nhƣ diện tích bỏng chung, diện tích bỏng sâu, bỏng hô hấp kết hợp [80]. Thêm vào đó, các yếu tố nhƣ tuổi, tình trạng nhiễm khuẩn, sốc nhiễm khuẩn, điểm APACHE III, khối lƣợng máu và chế phẩm máu truyền cũng là một trong các yếu tố nguy cơ quan trọng của ARDS trong bỏng [35].

3 Cơ chế sinh bệnh học chính của ARDS là hậu quả của tổn thƣơng màng phế nang – mao mạch kết hợp với hiện tƣợng tăng tính thấm màng phế nang - mao mạch, thoát dịch phù chứa nhiều protein vào khoảng kẽ phổi và trong lòng các phế nang gây suy hô hấp cấp nặng[115],[116], giảm oxy máu trơ với liệu pháp oxy. Chính vì vậy, thông khí nhân tạo có ý nghĩa quan trọng trong hồi sức và điều trị bệnh nhân ARDS[49]. Việc chọn đƣợc phƣơng thức thông khí nhân tạo hợp lý góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện kết quả điều trị [70]. Hiện nay, phƣơng thức thông khí nhân tạo bảo vệ phổi đƣợc chứng minh làm cải thiện tình trạng oxy máu và giảm tỷ lệ tử vong [56].

Ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực chuyên ngành bỏng hiện nay chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến các yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí bảo vệ phổi điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng. Xuất phát từ những nhận xét trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau: 1. Xác định một số yếu tố nguy cơ của hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng. Đánh giá hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH BỎNG Chấn thƣơng bỏng gây ra các rối loạn chức phận trong cơ thể và các phản ứng toàn thân để tự bảo vệ, phục hồi. Nếu bị bỏng rộng, diện tích độ sâu lớn sẽ gây rối loạn toàn bộ các cơ quan trong cơ thể tạo nên bệnh bỏng. Bệnh bỏng là những phản ứng bệnh lý chung xuất hiện có tính chất quy luật với chấn thƣơng bỏng [7], [8].

Bệnh bỏng diễn biến qua 4 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: (2-3 ngày sau bỏng), thời kỳ các phản ứng bệnh lý cấp, đặc trƣng là trạng thái sốc bỏng. Sốc bỏng là trạng thái suy sụp đột ngột toàn bộ chức năng của cơ thể do chấn thƣơng bỏng gây nên. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn gặp những rối loạn khác nhƣ: rối loạn tuần hoàn, hô hấp trong bỏng điện, nhiễm độc khí carbon monoxide (CO), suy hô hấp cấp trong bỏng hô hấp, rối loạn tuần hoàn chi thể, hoặc rối loạn hô hấp do hoại tử khô [7],[9]. Thời kỳ thứ hai: (từ ngày thứ 3-4 tới ngày 30 – 45 – 60 sau bỏng) còn gọi là thời kỳ nhiễm khuẩn nhiễm độc.

Đối với bỏng nông đây là thời kỳ liền sẹo, khỏi bệnh. Đối với bỏng sâu đây là thời kỳ viêm mủ, rụng hoại tử, tan rã mô hoại tử bỏng. Cơ thể hấp phụ các thành phẩm của sự thoái biến và tan rã của tổ chức hoại tử bỏng, mủ dịch viêm các độc tố vi khuẩn, hỗn hợp chất béo – protein (Lipid protein complex - LPC): là sản phẩm của sự thoái biến các mô tế bào và sự polyme hoá các sản phẩm phân rã từ da bị bỏng nhiệt, là nguồn gốc quá trình bệnh lý của bệnh bỏng với bệnh cảnh lâm sàng chính của thời kỳ này[7]. Thời kỳ thứ ba: Thời kỳ suy mòn, biến đổi bệnh lý nổi bật trong thời kỳ này là các rối loạn chuyển hoá và dinh dƣỡng của các cơ quan toàn cơ thể.

Nếu không đƣợc điều trị đúng và sớm, các triệu chứng suy mòn bỏng sẽ nặng 5 lên, xuất hiện các biến chứng tại chỗ và các vùng lân cận vết thƣơng bỏng, sự hình thành các vết loét điểm tỳ, rối loạn bệnh lý các nội tạng do nhiễm độc nhiễm khuẩn. đều làm nặng lên tình trạng suy mòn bỏng[7]. Thời kỳ thứ tƣ: Thời kỳ hồi phục, khi vết bỏng đã đƣợc liền sẹo, các rối loạn chức phận nội tạng sẽ dần đƣợc hồi phục. Trong 4 thời kỳ thì thời kỳ thứ hai là thời kỳ có tỷ lệ tử vong cao nhất do tình trạng nhiễm khuẩn tại chỗ, biến chứng nhiễm khuẩn vùng lân cận và trạng thái nhiễm khuẩn toàn thân với các biến chứng nhiễm khuẩn nội tạng.

Trong đó ARDS là biến chứng nguy hiểm xuất hiện trong thời kỳ này, ARDS làm tăng tỷ lệ tử vong ở BN bỏng và tỷ lệ xuất hiện cao ở BN có bỏng hô hấp kết hợp[67]. HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN TRONG BỎNG 1. Khái niệm hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển Khởi đầu từ việc quan sát thấy nhiều bệnh binh có biểu hiện suy hô hấp cấp, không đáp ứng với liệu pháp oxy và cuối cùng dẫn tới tử vong.Trong chiến tranh thế giới thứ II gọi là “hội chứng phổi sốc", ngoài ra nó còn có nhiều tên gọi khác nhƣ: hội chứng phổi ƣớt, hội chứng phổi trắng [22]. Cho tới năm 1967, Ashbaugh D.

theo dõi 12 bệnh nhân (BN) đã mô tả tình trạng suy hô hấp cấp nặng tiến triển, trơ với liệu pháp thở oxy, giảm độ đàn hồi của phổi và trên phim XQuang là hình ảnh tổn thƣơng thâm nhiễm lan toả hai bên phổi.Tác giả gọi hội chứng này là "Hội chứng suy hô hấp tiến triển ở ngƣời lớn" (Adult Respiratory Distress Syndrome - ARDS) [16]. Trong thập kỷ 80, nhiều tác giả trên thế giới vẫn cho rằng phổi của bệnh nhân ARDS bị „cứng‟ (phổi cứng – stiff lung). Nhờ có sự phát triển của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính lồng ngực ngƣời ta phát hiện thấy thể tích phổi giảm, một số vùng phổi đông đặc do nhu mô phổi ở vùng này không có không khí, hoặc thông khí kém do xẹp phổi. Do đó quan niệm về phổi trẻ nhỏ „baby lung‟ dần thay thế cho quan niệm phổi cứng trƣớc đây [108].

6 Đến năm 1994, tiêu chuẩn chẩn đoán ALI/ARDS đƣợc đƣa ra tại hội nghị thống nhất Châu Mỹ và Châu Âu về ARDS và thống nhất đổi tên hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở ngƣời lớn (Adult Respiratory Distress Syndrome - ARDS) thành hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (Acute Respiratory Distress Syndrome - ARDS) [21] Theo định nghĩa mới nhất về ARDS đƣợc ra ở Hội nghị Berlin năm 2012 thì tổn thƣơng phổi cấp (ALI) chính là ARDS mức độ nhẹ [15]. Chẩn đoán ARDS * Hội nghị thống nhất của Châu Mỹ và Châu Âu về ARDS năm 1994 (AECC) đã đƣa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ARDS nhƣ sau [21],[56],[60], [99]. - ARDS khởi phát cấp tính. - Tỷ số PaO2/FiO2 < 200 (với bất kỳ mức PEEP) – ARDS.

- Hình ảnh thâm nhiễm lan toả hai bên phổi trên phim XQuang - Áp lực mao mạch phổi bít ≤ 18mmHg hoặc không có các dấu hiệu lâm sàng của tăng áp lực nhĩ trái. * Chẩn đoán ARDS dựa theo định nghĩa mới của thế giới (The Berlin Definition of Acute Respiratory Distress Syndrome), năm 2012 [15]. - Khởi phát: trong vòng 1 tuần sau bệnh lý nền. - XQuang phổi: Hình ảnh thâm nhiễm lan tỏa hai bên phổi (hình ảnh mờ hai bên phổi) – không phải do tràn dịch, tràn máu, xẹp phổi, xẹp thùy phổi, hay do u phổi.

- Nguồn gốc phù: Suy hô hấp không đƣợc giải thích do suy tim hoặc truyền quá nhiều dịch. - Giảm oxy máu: + Mức độ nhẹ: 200mmHg <PaO2/FiO2 ≤ 300mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥ 5cmH2O. + Mức độ trung bình: 100mmHg <PaO2/FiO2 ≤ 200mmHg với PEEP ≥ 5cmH2O. + Mức độ nặng: PaO2/FiO2 ≤ 100mmHg với PEEP ≥ 5cmH2O.

Tỷ lệ mắc, kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển 1. Trên thế giới 7 Tỷ lệ mắc ARDS đƣợc công bố rất khác nhau trong nhiều công trình nghiên cứu. Theo tài liệu của Viện sức khoẻ Quốc Gia Hoa kỳ năm 1970, tỷ lệ ARDS hàng năm ở quốc gia này khoảng 75 trƣờng hợp/100. Một vài công trình nghiên cứu có kết quả thấp hơn: 22 – 64/100.

(1999) khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của hội nghị thống nhất Châu Âu – Châu Mỹ về ARDS đã công bố, tỷ lệ ARDS là 13,5 trƣờng hợp/100.000 dân, với tỷ lệ tử vong là 41,2%[69]. Trong bỏng, tỷ lệ ARDS dao động trong khoảng 20 – 56% tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh bỏng. ARDS vẫn là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng vì tính chất bệnh nặng cũng nhƣ tỷ lệ tử vong cao, có thể lên tới 70% [48], [56]. Trong bỏng, tỷ lệ tử vong do ARDS cao hơn 40 – 90%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tài liệu: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của thông khí nhân tạo điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ở bệnh nhân bỏng nặng luận án thạc sĩ

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại học viện quân y. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" thuộc chuyên ngành Ngoại Bỏng. Danh mục: Y Học Lâm Sàng.

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" có 190 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Yếu tố nguy cơ & hiệu quả thông khí nhân tạo cho ARDS bỏng nặng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter