Luận án nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh máu ác tính

Luận án phân tích hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không Hodgkin. Kết quả lâm sàng.

Trường ĐH

bệnh viện K Hà Nội

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Nghiên cứu

Số trang

164

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Tổng quan ung thư và liệu pháp tế bào gốc tự thân
Số trang:
164 trang
Trường:
bệnh viện K Hà Nội
Chuyên ngành:
Y học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Tổng quan ung thư và liệu pháp tế bào gốc tự thân

Ung thư là gánh nặng y tế toàn cầu. Tổ chức Y tế thế giới ước tính khoảng 9 triệu người mắc mới và 5 triệu người tử vong hàng năm. Tại Việt Nam, Bệnh viện K ghi nhận 100.000 bệnh nhân mới, 50.000 ca tử vong mỗi năm. Năm 2000, Mỹ ghi nhận 54.900 trường hợp U lymphô ác tính không Hodgkin mới, 26.100 tử vong. Bệnh Đa u tủy xương chiếm 10% các bệnh máu ác tính, với tỷ lệ mắc hàng năm là 4,3/100.000 người. Hóa trị liệu liều cao cải thiện tỷ lệ lui bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này tăng nguy cơ tử vong do biến chứng nhiễm trùng và chảy máu. Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân ra đời, trở thành chỗ dựa vững chắc cho hóa trị liều cao. Phương pháp này giúp phục hồi tủy xương nhanh, rút ngắn thời gian suy tủy, giảm tỷ lệ tử vong do biến chứng. Đây là một liệu pháp hiệu quả điều trị ung thư.

1.1. Thực trạng ung thư toàn cầu và tại Việt Nam

Ung thư đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng. Hàng triệu người trên thế giới mắc bệnh và tử vong mỗi năm. Việt Nam cũng đối mặt với tỷ lệ mắc và tử vong cao. Các bệnh ung thư máu như U lymphô ác tính không Hodgkin và Đa u tủy xương có tỷ lệ mắc đáng kể. Việc tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả là cấp thiết. Liệu pháp tế bào gốc tự thân mở ra hướng đi mới.

1.2. Vai trò ghép tế bào gốc tạo máu tự thân

Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân đóng vai trò quan trọng. Phương pháp này cho phép áp dụng hóa trị liều cao hơn. Hóa trị liều cao tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả. Ghép tự thân giúp tủy xương bệnh nhân phục hồi nhanh sau điều trị. Điều này giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Ghép tự thân cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót và chất lượng sống cho bệnh nhân.

1.3. Ưu điểm ghép tự thân so với ghép đồng loại

Ghép tế bào gốc tự thân có nhiều ưu điểm. Phương pháp này không yêu cầu người cho phù hợp HLA. Người bệnh cũng không bị giới hạn về tuổi tác. Ghép tự thân không gây ra bệnh ghép chống chủ. Đây là một biến chứng nặng, có nguy cơ tử vong cao trong ghép đồng loại. Chi phí ghép tự thân thấp hơn, phù hợp điều kiện kinh tế nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Mặc dù hiệu quả thấp hơn ghép đồng loại, tính ứng dụng rộng rãi làm cho phương pháp này trở nên phổ biến.

II.Lịch sử và ứng dụng liệu pháp ghép tế bào gốc tự thân

Lịch sử ghép tế bào gốc tạo máu bắt đầu từ năm 1957. E. Donnall Thomas công bố ca lơ xê mi cấp đầu tiên được điều trị thành công. Bệnh nhân nhận tủy từ người em song sinh. Thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhóm nghiên cứu của Thomas báo cáo điều trị lơ xê mi cấp giai đoạn cuối thành công bằng ghép tủy đồng loại. Năm 1978, Appelbaum FR thông báo các trường hợp ghép tủy tự thân thành công cho bệnh nhân u lymphô ác tính. Những tiến bộ vượt bậc về nguồn tế bào gốc và phác đồ đã thúc đẩy sự phát triển. Năm 1998, hơn 30.000 trường hợp ghép tủy tự thân được thực hiện toàn thế giới. Hiện nay, hơn 500 trung tâm tại trên 50 quốc gia thực hiện liệu pháp này. Tại Việt Nam, ghép tế bào gốc tạo máu đã được thực hiện thành công tại nhiều bệnh viện lớn, bao gồm Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương từ năm 2006.

2.1. Quá trình phát triển ghép tế bào gốc tạo máu

Liệu pháp tế bào gốc trải qua hành trình dài phát triển. Từ những thí nghiệm ban đầu năm 1957, đến các báo cáo chính thức về ghép đồng loại và tự thân. Các nhà khoa học liên tục cải tiến kỹ thuật. Việc sử dụng nguồn tế bào gốc máu ngoại vi và máu cuống rốn là bước đột phá. Các phác đồ điều kiện hóa mới và phương pháp phòng chống biến chứng cũng phát triển. Tất cả góp phần mở rộng khả năng áp dụng liệu pháp tế bào gốc ung thư.

2.2. Nguồn tế bào gốc chính cho ghép tự thân

Trước đây, tủy xương là nguồn tế bào gốc tạo máu chủ yếu. Những năm gần đây, kỹ thuật ly tách tế bào phát triển mạnh mẽ. Tế bào gốc máu ngoại vi nhanh chóng thay thế tủy xương. Máu ngoại vi trở thành nguồn tế bào gốc tạo máu chính cho ghép tự thân. Nguồn này dễ thu thập hơn, giúp giảm khó chịu cho bệnh nhân. Máu cuống rốn cũng là một nguồn tiềm năng.

2.3. Các bệnh ung thư điều trị bằng ghép tự thân

Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân ứng dụng rộng rãi trong điều trị ung thư. Phương pháp này điều trị hiệu quả các bệnh máu ác tính. Các bệnh như đa u tủy xương và u lymphô ác tính là đối tượng chính. Một số ung thư dạng đặc như ung thư vú, ung thư thận cũng có thể áp dụng. Ngoài ra, ghép tự thân còn được dùng trong các bệnh tự miễn. Liệu pháp tế bào gốc ung thư đã chứng minh vai trò đa dạng.

III.Nguyên lý ghép tế bào gốc tự thân và mục tiêu nghiên cứu

Nguyên lý của ghép tế bào gốc tạo máu dựa trên khả năng đặc biệt của tế bào gốc. Các tế bào gốc tạo máu có khả năng tự nhân lên và biệt hóa. Chúng có thể tạo ra tất cả các dòng tế bào máu trưởng thành. Tế bào gốc tạo máu chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tủy xương, khoảng 1/10.000 đến 1/1.000.000 tế bào. Trong điều kiện ổn định, đa số tế bào này ở trạng thái nghỉ ngơi. Chỉ một phần nhỏ tham gia vào chu kỳ phát triển. Việc thu thập và tái truyền các tế bào này giúp phục hồi hệ tạo máu sau hóa trị liều cao. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị ung thư máu. Mục tiêu cụ thể là cải thiện tỷ lệ sống sót và giảm tái phát ung thư. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

3.1. Cơ chế hoạt động của tế bào gốc tạo máu

Tế bào gốc tạo máu là những tế bào đặc biệt. Chúng duy trì khả năng tự đổi mới và biệt hóa. Từ một tế bào gốc, có thể tạo ra hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Cơ chế này là nền tảng cho việc tái tạo hệ tạo máu. Sau khi hệ tạo máu bị phá hủy bởi hóa trị liều cao, tế bào gốc được truyền lại. Chúng sẽ 'về' tủy xương, phát triển và khôi phục chức năng tạo máu bình thường. Đây là chìa khóa thành công của liệu pháp.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu về hiệu quả điều trị

Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính. Thứ nhất, đánh giá kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân. Đối tượng là bệnh nhân Đa u tủy xương và U lymphô ác tính không Hodgkin. Mục tiêu là xác định tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn và thời gian sống thêm. Thứ hai, nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả. Điều này giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị, tăng hiệu quả điều trị ung thư.

3.3. Các yếu tố ảnh hưởng kết quả ghép tự thân

Kết quả ghép tế bào gốc tự thân có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này bao gồm giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. Liều lượng và loại hóa chất điều kiện hóa cũng quan trọng. Số lượng và chất lượng tế bào gốc được thu thập và ghép lại là yếu tố then chốt. Việc xác định các yếu tố này giúp cải thiện lựa chọn bệnh nhân và chiến lược điều trị. Mục đích là nâng cao tỷ lệ sống sót và giảm tái phát ung thư.

IV.Đánh giá hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư

Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư là trọng tâm. Phương pháp này mang lại kết quả khả quan trong điều trị các bệnh máu ác tính. Đặc biệt là đối với Đa u tủy xương và U lymphô. Ghép tự thân giúp tăng tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn và kéo dài đáng kể thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Thành công của liệu pháp này được ghi nhận tại nhiều trung tâm lớn trên thế giới và tại Việt Nam. Việc ứng dụng rộng rãi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân đã mở ra hy vọng mới. Liệu pháp này mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhiều bệnh nhân ung thư, đặc biệt là những người cần hóa trị liều cao.

4.1. Kết quả điều trị ung thư máu bằng ghép tự thân

Ghép tế bào gốc tự thân đã chứng minh hiệu quả vượt trội. Phương pháp này giúp đạt tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn cao. Đặc biệt là trong điều trị ung thư máu như Đa u tủy xương và U lymphô ác tính. Thời gian sống thêm cho bệnh nhân được kéo dài đáng kể. Các nghiên cứu liên tục cải thiện kết quả này. Ghép tự thân trở thành một liệu pháp chuẩn trong nhiều phác đồ điều trị.

4.2. Giảm biến chứng và cải thiện chất lượng sống

Một trong những lợi ích chính của ghép tế bào gốc tự thân là giảm biến chứng. Phương pháp này giảm tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng và chảy máu. Đây là những biến chứng thường gặp sau hóa trị liều cao. Ghép tự thân cũng rút ngắn đáng kể thời gian suy tủy. Điều này giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi. Chất lượng sống của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt sau ghép.

4.3. Hóa trị liều cao và phục hồi tủy xương

Ghép tế bào gốc tự thân cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho hóa trị liều cao. Hóa chất liều cao tiêu diệt tế bào ung thư mạnh mẽ. Tuy nhiên, nó cũng gây hại cho tủy xương. Tế bào gốc được truyền trở lại giúp tủy xương phục hồi nhanh chóng. Sự kết hợp này cho phép đạt được hiệu quả điều trị tối ưu. Nó là chiến lược quan trọng để kiểm soát bệnh và phòng ngừa tái phát ung thư.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU TỰ THÂN
1.1.1. Nguyên lý của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu
1.1.2. Nguồn tế bào gốc tạo máu sử dụng cho ghép
1.1.3. Các phác đồ điều kiện hóa trước ghép
1.1.4. Các biến chứng của ghép tế bào gốc tạo máu tự thân
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không hodgkin

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (164 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hàng năm, toàn thế giới có khoảng 9 triệu người mắc bệnh ung thư và có khoảng 5 triệu người chết vì căn bệnh này. Ở Việt nam, theo tài liệu của Bệnh viện K Hà Nội, mỗi năm có khoảng 100.000 bệnh nhân ung thư mới và khoảng 50.000 người tử vong vì căn bệnh này. Năm 2000, tại Mỹ có khoảng 54900 trường hợp U lymphô ác tính không Hodgkin mới và có tới 26.100 bệnh nhân tử vong vì căn bệnh này. Cũng theo các số liệu thống kê của Mỹ, bệnh Đa u tủy xương chiếm khoảng 10% các bệnh máu ác tính với tỷ lệ mắc bệnh hàng năm là 4,3/100.

Trước khi phương pháp ghép tủy xương ra đời, khi đề cập đến điều trị bệnh máu ác tính tức là nói tới hoá trị liệu. Việc tăng liều lượng cũng như phối hợp nhiều loại hoá chất đã mang lại những kết quả khả quan về tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn cũng như kéo dài thời gian sống thêm nhưng cũng tăng tỷ lệ tử vong do biến chứng nhiễm trùng và chảy máu. Sự ra đời của phương pháp ghép tủy xương hay ghép tế bào gốc tạo máu đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho các phác đồ đa hoá trị liệu liều cao. Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân giúp cho tủy xương của bệnh nhân phục hồi nhanh hơn, rút ngắn một cách đáng kể thời gian “suy tủy” sau đa hoá trị liệu liều cao, giảm tỷ lệ tử vong do các biến chứng.

Ghép tự thân hiệu quả thấp hơn so với ghép đồng loại nhưng ghép tự thân lại được ứng dụng rộng rãi hơn do phương pháp này không yêu cầu các tiêu chuẩn chặt chẽ như người cho tủy phù hợp HLA, giới hạn về tuổi… Đồng thời, ghép tự thân không gây ra các biến chứng nặng nguy cơ tử vong như bệnh ghép chống chủ, kinh phí lại thấp phù hợp với điều kiện kinh tế của người Việt Nam.Trước đây, nguồn tế bào gốc tạo máu được sử dụng cho ghép tự thân thường là tuỷ xương của bệnh nhân. Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của các kỹ thuật ly tách tế bào, tế bào gốc máu ngoại vi đã 2 nhanh chóng thay thế tuỷ xương và trở thành nguồn tế bào gốc tạo máu chủ yếu cho phương pháp ghép tự thân. Hiện nay, ghép tế bào gốc tạo máu tự thân đã được ứng dụng rộng rãi trong điều trị rất nhiều các bệnh khác nhau thuộc rất nhiều chuyên khoa: - Các bệnh máu ác tính như đa u tủy xương, u lymphô ác tính. - Các ung thư dạng đặc như ung thư vú, ung thư thận.

- Các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, xuất huyết giảm tiểu cầu, lupus ban đỏ. Tại Việt Nam, ghép tế bào gốc tạo máu điều trị các bệnh máu ác tính đã được thực hiện thành công tại thành phố Hồ Chí Minh, Huế, bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh viện Trung ương Quân đội 108, bệnh viện Bộ Công an và bệnh viện Bạch Mai. Tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương, phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân đã được thực hiện thành công với chất lượng cao từ năm 2006. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng hiệu quả nhất phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị một số bệnh máu ác tính, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu: - Đánh giá kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân điều trị bệnh Đa u tủy xương và U lymphô ác tính không Hodgkin.

- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân. 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU TỰ THÂN Ngày 12 tháng 09 năm 2007, giới Y học kỷ niệm 50 năm ngày E.Donnall Thomas thông báo về trường hợp bệnh nhân lơ xê mi cấp đầu tiên được điều trị phối hợp xạ trị, đa hóa trị liệu và truyền tủy của người em sinh đôi cùng trứng. Từ năm 1957, hàng loạt các nghiên cứu lâm sàng cũng như cận lâm sàng về ghép tủy đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới.

Tuy nhiên, cũng phải tới thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhóm nghiên cứu của Thomas mới có các báo cáo chính thức về điều trị thành công cho bệnh nhân lơ xê mi cấp giai đoạn cuối bằng ghép tủy đồng loại từ người cho phù hợp sau khi điều kiện hóa bằng tia xạ toàn bộ và cyclophosphamide[1]. Năm 1978, Appelbaum FR và công sự đã thông báo về thành công của các trường hợp ghép tủy tự thân đầu tiên cho các bệnh nhân u lymphô ác tính[2]. Các tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu về ghép tủy như việc sử dụng nguồn tế bào gốc tạo máu ở máu ngoại vi, máu cuống rốn thay cho tủy xương, xây dựng các phác đồ điều kiện hóa mới, cải tiến các phương pháp phòng chống bệnh ghép chống chủ… đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tại nhiều nơi trên thế giới, góp phần gia tăng nhanh chóng số lượng bệnh nhân được ghép. Vào thời điểm 20 năm sau, năm 1998, đã có tới 17000 trường hợp ghép tủy đồng loại và hơn 30 000 trường hợp ghép tủy tự thân được thực hiện trên toàn thế giới[3].

Hiện nay, ghép tế bào gốc tạo máu đang được thực hiện tại hơn 500 trung tâm của trên 50 quốc gia. Nguyên lý của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu Các tế bào gốc tạo máu có khả năng tự nhân lên và khả năng biệt hóa thành tất cả các dòng tế bào máu trưởng thành. Các tế bào gốc tạo máu thường rất ít và chiếm tỷ lệ 1/104đến 1/106tế bào tủy xương. Trong giai đoạn ổn định, đa số các tế bào gốc tạo máu thường ở trạng thái nghỉ ngơi và chỉ có 4 một bộ phận nhỏ tham gia vào chu kỳ tế bào để sinh ra và biệt hoá thành các tế bào tiền thân của các dòng tế bào máu.

Tế bào gốc tạo máu người có khả năng di chuyển từ máu ngoại vi đến cư trú ở tủy xương. Sau khi định cư ở tủy xương, các tế bào gốc này tăng sinh và biệt hóa nhờ tiếp nhận các tín hiệu phát ra từ môi trường tủy xương bao gồm tổ chức đệm ngoài tế bào, các tế bào nội mô và trung mô, và tạo cốt bào. Các tế bào gốc sẽ sinh ra các tế bào gốc đa năng. Tế bào gốc đa năng sau đó sẽ sinh ra tế bào gốc dòng lymphôCLP và tế bào gốc dòng tủy CMP[4].

Tất cả những kết quả nghiên cứu về khả năng di chuyển vào tủy xương, khả năng tái tạo lại hệ thống sinh máu của tế bào gốc tạo máu đã hình thành một nền tảng vững chắc cho kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu. Tuy nhiên, ý tưởng ghép tế bào gốc tạo máu lại xuất hiện đầu tiên là nhờ các nghiên cứu về khả năng sống sót của chuột sau khi bị tia xạ toàn thân (trừ lách) liều chết và được truyền tủy. Năm 1959 đã có nhữngthông báo đầu tiên về kết quả thử nghiệm ghép tủy trên các bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng lymphô theo quy trình tia xạ toàn thân liều cận chết và truyền tủy lấy từ anh chị em sinh đôi. Sự phục hồi thành công về mặt huyết học hai tuần sau ghép đã minh chứng cho các kết luận rút ra từ các thực nghiệm trên động vật: ghép tủy phù hợp về mặt miễn dịch có thể giúp tủy bệnh nhân phục hồi được sau khi tia xạ liều cao.

Tuy nhiên, sau đó việc bệnh tái phát trở lại rất nhanh trong vài tháng đã cho thấy tia xạ đơn thuần không đủ để loại trừ bệnh ung thư. Bên cạnh đó, một số các nghiên cứu tiếp theo cũng cho thấy nếu chỉ tia xạ đơn thuần thì có một số bệnh nhân đã có phản ứng thải ghép. Cùng với các kết quả nghiên cứu trên động vật, thất bại của những trường hợp ghép tủy đầu tiên trên người đã mang lại một kết luận vô cùng quan trọng: trong ghép tế bào gốc, để cùng một lúc đạt được hiệu quả ức chế miễn dịch và diệt tối đa các tế bào ung thư, cần có phác đồ điều kiện hóa phối hợp tia xạ với hóa chất và sau này là, trong trường hợp không tia xạ, cần phối hợp các thuốc hóa chất với liều cao [5]. Cho đến nay, định nghĩa “hóa trị liệu liều cao” vẫn còn được hiểu theo 5 nhiều cách khác nhau.

Hryniuk và Bush đã đưa ra khái niệm “cường độ liều”(liều hóa chất tính bằng mg/m2da/tuần) để có thể đo lường được hiệu ứng “liều - đáp ứng”[6]. Hiệu ứng liều - đáp ứng được định nghĩa là một mối tương quan giữa hiệu quả của một thuốc hóa chất với sự tăng dần liều điều trị. Nghiên cứu này cho rằng cường độ của liều hóa chất sẽ tương quan với mức độ đáp ứng, và mức độ đáp ứng thì lại tương quan với thời gian sống thêm của người bệnh. Để giải quyết hiện tượng kháng các phác đồ hóa trị liệu chuẩn, hay nói cách khác để có được kết quả điều trị tốt cho những bệnh nhân không đáp ứng với các phác đồ điều trị chuẩn hàng 1, cần phải tăng liều hóa chất hoặc tia xạ vượt ra khỏi giới hạn gây độc tủy cho phép nhưng nằm trong giới hạn độc cho phép đối với các cơ quan quan trọng khác của cơ thể (tổn thương các cơ quan này do hóa trị hoặc xạ trị có thể gây tử vong).

Dựa vào các lý luận trên, hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng các phác đồ hóa trị liệu phải được xây dựng để có cường độ liều tối đa, và nên chú trọng vào tổng liều được sử dụng trong toàn bộ thời gian điều trị hơn là cố gắng để đạt được một đỉnh liều cao nhất. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Skipper đã cho thấy tỷ lệ xuất hiện các đột biến ngẫu nhiên gây tình trạng kháng thuốc là khoảng 1/106 đến 1/107 tế bào ung thư[7]. Từ kết quả nghiên cứu này, chúng ta có thể suy luận ra là số lượng các đột biến sẽ cao nhất vào thời điểm chẩn đoán hoặc lúc tái phát là những thời điểm mà số lượng tế bào ung thư cao nhất. Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân được xem như một phương pháp hỗ trợ cho đa hóa trị liệu liều cao nhằm mục đích điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh máu ác tính không đáp ứng/kháng với các phác đồ đa hóa trị liệu chuẩn hoặc tái phát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư (n.d.) [Luận án tiến sĩ, bệnh viện K Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/y-hoc-lam-sang/nghien-cuu-ghep-te-bao-goc-tu-than-dieu-tri-ung-thu-mau

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án phân tích hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không Hodgkin. Kết quả lâm sàng.

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại bệnh viện K Hà Nội.

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học Lâm Sàng.

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" có 164 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị ung thư" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter