Luận án tiến sĩ: Đánh giá đáp ứng tạo kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh có mẹ nhiễm HBsAg - Trường Đại học Y Hà Nội

"Nghiên cứu đánh giá hiệu quả miễn dịch vắc xin viêm gan B ở trẻ sơ sinh. Phân tích đáp ứng kháng thể sau tiêm chủng theo khuyến cáo."

Chuyên ngành
Nhi khoa
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

Năm xuất bản

Số trang

163

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Gánh nặng toàn cầu: Viêm gan B và lây truyền mẹ-con
Số trang:
163 trang
Trường:
Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành:
Nhi khoa
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Gánh nặng toàn cầu Viêm gan B và lây truyền mẹ con

Viêm gan B (VGB) là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng. Khoảng 2 tỷ người trên thế giới đã nhiễm virus VGB. Trong số đó, 350 triệu người mang mầm bệnh mạn tính. Ước tính hàng năm có tới 1 triệu người tử vong do ung thư gan nguyên phát và xơ gan liên quan VGB. Virus VGB được xác định là tác nhân gây ung thư đứng thứ hai, chỉ sau thuốc lá. Nó liên quan đến khoảng 80% các trường hợp ung thư gan, đặc biệt phổ biến ở các nước Châu Á và Châu Phi. Nhiễm virus VGB trong thời thơ ấu làm tăng đáng kể tỷ lệ người mang virus mạn tính. Điều này cũng gia tăng nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thư gan do quá trình mang virus kéo dài. Miễn dịch viêm gan B cần được xây dựng sớm.

1.1. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B mạn tính

Trong các khu vực có tỷ lệ VGB lưu hành cao, phần lớn các trường hợp nhiễm virus xảy ra trong thời thơ ấu. Nhiều người mang virus ngay từ khi mới sinh ra, do mẹ truyền sang con. Phương thức này được gọi là lây truyền dọc. Lây truyền dọc virus VGB có thể diễn ra trong tử cung, trong quá trình sinh hoặc ngay sau khi sinh. Nguy cơ nhiễm VGB mạn tính rất cao. Nó có thể lên tới 70-90% nếu trẻ sinh ra từ các bà mẹ đồng thời có HBsAg(+) và HBeAg(+). Nguy cơ này giảm xuống khoảng 20% nếu bà mẹ chỉ có HBsAg(+) nhưng HBeAg(-). Việc kiểm soát lây truyền là trọng tâm.

1.2. Lây truyền dọc virus viêm gan B từ mẹ sang con

Lây truyền từ người mẹ mang virus sang con là con đường lây truyền quan trọng nhất của virus VGB. Điều này đặc biệt đúng ở Châu Á, nơi tỷ lệ lây truyền VGB trong thời kỳ chu sinh chiếm khoảng 40% tổng số người mang virus VGB mạn tính. Để khắc phục nguy cơ lây truyền và hậu quả của nhiễm virus VGB theo phương thức này, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo. Vắc xin viêm gan B nên được đưa vào chương trình tiêm chủng cho trẻ em ở tất cả các quốc gia. Tiêm chủng viêm gan B là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất.

II. Tiêm chủng viêm gan B Chiến lược phòng ngừa hiệu quả

Phòng ngừa viêm gan B qua lây truyền mẹ-con là một ưu tiên sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Tiêm chủng vắc xin viêm gan B là chiến lược hiệu quả nhất. Nó giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và các biến chứng liên quan. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị tiêm vắc xin cho trẻ em. Việt Nam là một quốc gia thuộc Châu Á, khu vực có tỷ lệ lưu hành HBsAg cao nhất thế giới. Tỷ lệ lưu hành HBsAg tại Việt Nam nằm trong khoảng từ 10-25%. Tiêm phòng mũi vắc xin viêm gan B sơ sinh đang được hướng dẫn. Việc này thực hiện trong vòng 24 giờ đầu sau sinh cho tất cả các đối tượng. Đây là khuyến cáo của TCYTTG nhằm tăng cường miễn dịch viêm gan B.

2.1. Khuyến nghị tiêm chủng viêm gan B toàn cầu

TCYTTG đã đưa ra khuyến nghị rõ ràng về tiêm phòng vắc xin viêm gan B. Vắc xin này cần được tích hợp vào chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em ở mọi quốc gia. Mục tiêu chính là giảm nguy cơ lây truyền virus VGB, đặc biệt là lây truyền dọc từ mẹ sang con. Tiêm chủng sớm giúp trẻ sơ sinh phát triển kháng thể anti-HBs. Nó tạo ra một lá chắn bảo vệ chống lại nhiễm virus mạn tính. Việc tuân thủ phác đồ tiêm chủng là then chốt. Phác đồ tiêm chủng chuẩn thường bao gồm nhiều mũi để đạt hiệu quả vắc xin tối ưu.

2.2. Thách thức tiêm chủng sớm tại Việt Nam

Việt Nam đã đối mặt với những thách thức đáng kể trong việc triển khai tiêm chủng sớm. Từ năm 2006, thông tin về các tai biến sau tiêm phòng vắc xin VGB đã làm giảm tỷ lệ trẻ được tiêm mũi sơ sinh. Tỷ lệ này giảm từ 67,0% năm 2006 xuống còn 24,0% năm 2007 và 22,0% năm 2008. Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo. Tiêm phòng vắc xin cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg(+) tốt nhất trong 12 giờ đầu sau sinh. Việc tiêm phòng muộn ở nhóm trẻ có nguy cơ cao này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả vắc xin. Nó làm giảm khả năng phòng bệnh VGB ở Việt Nam. Cần có bằng chứng khoa học để cải thiện tỷ lệ huyết thanh dương tính.

III. Đánh giá đáp ứng kháng thể Miễn dịch vắc xin viêm gan B

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá đáp ứng miễn dịch chống virus viêm gan B. Đặc biệt là khả năng tạo kháng thể anti-HBs ở trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg(+). Việc này nhằm hiểu rõ hiệu quả vắc xin trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Nồng độ kháng thể anti-HBs là chỉ số chính. Nó phản ánh mức độ bảo vệ của vắc xin. Mục tiêu là xác định liệu phác đồ tiêm chủng hiện tại có đủ để đạt ngưỡng bảo vệ hay không. Từ đó, các biện pháp can thiệp có thể được đề xuất để tối ưu hóa miễn dịch viêm gan B. Phân tích các yếu tố liên quan đến đáp ứng kháng thể là rất quan trọng.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch

Nghiên cứu đề ra các mục tiêu cụ thể. Đầu tiên, mô tả hiện trạng nhiễm virus viêm gan B ngay sau sinh ở con của các bà mẹ có HBsAg(+). Thứ hai, đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus VGB. Đánh giá này thực hiện ở trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg(+) sau khi đã tiêm phòng đủ 4 mũi vắc xin VGB. Mức độ đáp ứng được đo lường qua nồng độ kháng thể anti-HBs. Thứ ba, khảo sát mối liên quan giữa một số dấu ấn virus VGB trong máu mẹ và máu cuống rốn. Các dấu ấn này liên quan đến mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus VGB của trẻ sau tiêm phòng. Tỷ lệ huyết thanh dương tính là một trong những chỉ số được quan tâm.

3.2. Yếu tố ảnh hưởng nồng độ kháng thể anti HBs

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nồng độ kháng thể anti-HBs đạt được ở trẻ sơ sinh. Thời điểm tiêm mũi vắc xin viêm gan B sơ sinh là một yếu tố quan trọng. Tiêm càng sớm, đặc biệt trong 12 giờ đầu cho trẻ có mẹ HBsAg(+), càng có lợi. Phác đồ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cũng quyết định. Số lượng mũi tiêm vắc xin cần thiết để đạt ngưỡng bảo vệ. Ngoài ra, tình trạng virus của người mẹ, đặc biệt là sự hiện diện của HBeAg, có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch của trẻ. Việc xác định các yếu tố này giúp cải thiện hiệu quả vắc xin và giảm tỷ lệ không đáp ứng vắc xin.

IV. Hiệu quả vắc xin viêm gan B Ngưỡng bảo vệ và thách thức

Hiệu quả vắc xin viêm gan B được đánh giá chủ yếu dựa trên khả năng đạt ngưỡng bảo vệ. Ngưỡng bảo vệ kháng thể anti-HBs được Tổ chức Y tế Thế giới xác định là 10 mIU/mL. Việc đạt được nồng độ kháng thể này đảm bảo trẻ có khả năng miễn dịch viêm gan B. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em đều đạt được ngưỡng này sau tiêm chủng. Hiện tượng không đáp ứng vắc xin là một thách thức. Nó đòi hỏi phải tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp. Mục tiêu cuối cùng là tăng tỷ lệ huyết thanh dương tính trong cộng đồng. Điều này giúp giảm thiểu gánh nặng bệnh tật của viêm gan B mạn tính.

4.1. Tầm quan trọng của ngưỡng kháng thể bảo vệ

Ngưỡng kháng thể anti-HBs 10 mIU/mL là thước đo chính của miễn dịch bảo vệ. Nồng độ kháng thể trên mức này chứng tỏ cơ thể đã có đủ khả năng chống lại virus VGB. Đánh giá nồng độ kháng thể anti-HBs sau tiêm chủng giúp xác định hiệu quả vắc xin. Nó giúp nhận diện những trẻ cần tiêm bổ sung hoặc có thể cần phác đồ tiêm chủng khác. Đảm bảo trẻ đạt ngưỡng bảo vệ là mục tiêu hàng đầu. Điều này giúp ngăn ngừa nhiễm virus VGB mạn tính. Nó cũng giảm nguy cơ các biến chứng nghiêm trọng về sau.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tiêm chủng

Để nâng cao hiệu quả vắc xin viêm gan B, cần áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ. Việc tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiêm chủng đầy đủ là rất quan trọng. Đặc biệt chú trọng mũi sơ sinh, cần được tiêm trong 12 giờ đầu cho trẻ có mẹ HBsAg(+). Nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố liên quan đến đáp ứng miễn dịch. Ví dụ, tình trạng HBeAg của người mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng kháng thể của trẻ. Xác định sớm các trường hợp không đáp ứng vắc xin cho phép can thiệp kịp thời. Can thiệp có thể bao gồm tiêm mũi nhắc lại hoặc các xét nghiệm chuyên sâu. Mục tiêu là đảm bảo mọi trẻ đều đạt được ngưỡng bảo vệ miễn dịch viêm gan B cần thiết.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. VIRUS VIÊM GAN
1.1.1. Đặc điểm sinh học của VRVGB
1.1.2. Quá trình nhân lên của VRVGB
1.1.3. Nhóm huyết thanh của VRVGB
1.1.4. Kiểu gen của VRVGB
1.1.5. Khả năng gây bệnh của VRVGB
1.1.5.1. Nhiễm VRVG B cấp tính
1.1.5.2. Nhiễm VRVGB mạn tính
1.1.5.2.1. Giai đoạn dung nạp miễn dịch (immune tolerance)
1.1.5.2.2. Giai đoạn hoạt tính miễn dịch (immune active) hay còn được gọi là giai đoạn thanh thải miễn dịch (immune clearance)
1.1.5.2.3. Giai đoạn không hoạt động (inactive HBsAg carrier) hay giai đoạn virus không nhân lên hoặc nhân lên chậm (low replication)
1.1.5.2.4. Giai đoạn tái hoạt động (HBV reactivation) hay giai đoạn hoạt động miễn dịch HBeAg(-)
1.2. DỊCH TỄ HỌC CỦA NHIỄM VRVGB
1.2.1. Các phương thức lây truyền của VRVGB
1.2.1.1. Lây truyền virus từ mẹ sang con
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án đánh giá đáp ứng tạo kháng thể đối với vắcxin phõng viêm gan b ở trẻ có mẹ mang hbsag

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (163 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHÍ ĐỨC LONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG TẠO KHÁNG THỂ ĐỐI VỚI VẮCXIN PHÕNG VIÊM GAN B Ở TRẺ CÓ MẸ MANG HBsAg Chuyên ngành: Nhi khoa Mã số: 62720135 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. Nguyễn Thị Vinh Hà 2. Nguyễn Văn Bàng HÀ NỘI – 2014 2 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm virus viêm gan B (VRVGB) là một vấn đề có tính chất toàn cầu. Khoảng 30% dân số trên thế giới (tức 2 tỷ ngƣời) bị nhiễm VRVGB, trong đó 350 triệu ngƣời mang VRVGB mạn tính.

Hàng năm, ƣớc tính trên thế giới có tới một triệu ngƣời mang VRVGB mạn tính chết vì ung thƣ gan nguyên phát và xơ gan [1]. VRVGB là tác nhân gây ung thƣ đứng thứ hai sau thuốc lá [2]. Virus này có liên quan tới 80% các trƣờng hợp ung thƣ gan ở nhiều nƣớc, đặc biệt là các nƣớc Châu Á và Châu Phi [3]. Một trong những vấn đề quan trọng của tình hình dịch tễ nhiễm VRVGB là lứa tuổi bị nhiễm.

Nếu số ngƣời bị nhiễm xảy ra trong thời kỳ thơ ấu càng nhiều thì càng tăng tình trạng ngƣời lành mang VRVGB và gia tăng nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thƣ gan do khoảng thời gian dài của quá trình mang virus [2]. Trong những vùng có tỷ lệ VRVGB lƣu hành cao, phần lớn nhiễm VRVGB xảy ra trong thời kỳ thơ ấu. Những ngƣời này thƣờng mang virus ngay từ khi mới ra đời do mẹ mang virus truyền sang con. Phƣơng thức lây truyền này đƣợc gọi là lây truyền dọc [2].

Lây truyền dọc VRVGB từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung, trong khi sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh. Nguy cơ nhiễm VRVGB mạn tính lên tới 70-90% nếu trẻ sinh ra từ các bà mẹ đồng thời có HBsAg(+) và HBeAg(+), nhƣng chỉ khoảng 20% nếu bà mẹ có HBsAg(+) và HBeAg(-) [2]. Lây truyền từ ngƣời mẹ mang virus sang con là đƣờng lây truyền quan trọng của VRVGB, đặc biệt ở Châu Á nơi tỷ lệ lây truyền VRVGB trong thời kỳ chu sinh chiếm 40% trong tổng số những ngƣời mang VRVGB mạn [3]. Để khắc phục nguy cơ lây truyền cũng nhƣ hậu quả của nhiễm VRVGB theo phƣơng thức này, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo đƣa vắcxin viêm gan B vào chƣơng trình tiêm chủng cho trẻ em ở tất cả các quốc gia [4].

3 Việt Nam nằm ở Châu Á là khu vực có sự lƣu hành của HBsAg cao nhất thế giới. Tỷ lệ lƣu hành HBsAg ở nƣớc ta nằm trong khoảng từ 10-25% [5], [6], [7]. Ở Việt Nam việc tiêm phòng mũi vắcxin viêm gan B sơ sinh trong chƣơng trình tiêm chủng mở rộng đang đƣợc hƣớng dẫn trong 24 giờ đầu sau sinh cho tất cả các đối tƣợng theo khuyến cáo của TCYTTG. Năm 2006, thông tin về các tai biến sau tiêm phòng vắcxin VGB ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Hà Tĩnh đã làm tỷ lệ trẻ đƣợc tiêm phòng mũi vắcxin viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu giảm từ 67,0% năm 2006 xuống còn 24,0% năm 2007 và 22,0% năm 2008 [8].

Theo khuyến cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ, tiêm phòng vắcxin cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg(+) tốt nhất trong 12 giờ đầu sau sinh [9],[10]. Việc tiêm phòng muộn ở nhóm trẻ có nguy cơ cao này có thể là một trong những lý do ảnh hƣởng đến hiệu quả của việc phòng bệnh viêm gan ở nƣớc ta hiện nay. Thực tế đòi hỏi có những bằng chứng khoa học để nâng cao hiệu quả phòng bệnh viêm gan B ở nƣớc ta. Từ đó, đề tài nghiên cứu này đƣợc tiến hành nhằm các mục tiêu: 1.

Mô tả hiện trạng nhiễm virus viêm gan B ngay sau sinh ở con của các bà mẹ có HBsAg(+) khi sinh. Đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus viêm gan B của trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg(+) sinh ra được tiêm phòng vắcxin viêm gan B. Khảo sát mối liên quan giữa một số dấu ấn virus viêm gan B trong máu mẹ, máu cuống rốn với mức độ đáp ứng miễn dịch chống virus viêm gan B của trẻ sau tiêm phòng đủ 4 mũi vắcxin viêm gan B. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

VIRUS VIÊM GAN Viêm gan virus là một bệnh do nhiều căn nguyên gây ra và đƣợc mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên. Khi Hippocrates mô tả bệnh dịch vàng da, chắc chắn ông đã đề cập đến những ngƣời bị viêm gan B (VGB) cấp tính cũng nhƣ các tác nhân viêm gan khác. Các đợt dịch vàng da đƣợc mô tả nhiều lần trong lịch sử nhân loại nhƣng phổ biến trong các cuộc chiến tranh ở thế kỷ 19 và 20. Nhiều vụ dịch là do virus viêm gan A, nhƣng virus VGB có khả năng là một trong các tác nhân gây nên những đợt dịch vàng da do việc sử dụng phổ biến các chế phẩm máu [11].

Năm 1883, Lurman ở Bremen (Đức) nhận thấy có một bệnh viêm gan có thể lây truyền trực tiếp sau tiêm chủng vắcxin đậu mùa chiết tách từ máu ngƣời. Trong những năm đầu của thế kỷ 20, những vụ dịch viêm gan có thời gian ủ bệnh dài ở những nhóm bệnh nhân đến khám vì có bệnh hoa liễu, đái tháo đƣờng, lao, sau truyền máu, sau tiêm chủng vắcxin từ huyết thanh ngƣời. Nghiên cứu theo dõi dọc sau này (trong những năm 1980) đã cho thấy 97,0% những ngƣời nhận vắcxin huyết thanh sốt vàng có bằng chứng huyết thanh học của nhiễm VRVGB so với 13,0% ở nhóm nhận vắcxin không chứa huyết thanh, điều này đã chứng tỏ VRVGB là nguyên nhân của những vụ dịch này. Trƣớc đó, vào năm 1947, MacCallum và Bauer đƣa ra thuật ngữ viêm gan A cho viêm gan truyền nhiễm và viêm gan B cho viêm gan liên quan đến huyết thanh.

Trong những năm 1960-1970, Krugmam mô tả hai loại viêm gan virus MS-1 và MS-2. Trong đó MS-1 chính là viêm gan A của MacCallum, lây truyền qua đƣờng phân miệng và có thời gian ủ bệnh ngắn 30-38 ngày. MS-2 5 tƣơng ứng với viêm gan B có thời gian ủ bệnh dài hơn 41-108 ngày lây truyền do tổ chức dƣới da tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể. Cùng thời gian với những nghiên cứu của Krugamn, Blumberg và Alter đã phát hiện trong huyết thanh của của thổ dân Australia bị bệnh bạch cầu một loại kháng nguyên mới - kháng nguyên Australia (chính là HBsAg sau này) khi làm thử nghiệm khuyếch tán trên gel.

Mối liên quan của kháng nguyên Australia với viêm gan B cấp tính đã đƣợc tìm ra sau đó dẫn đến sự phát triển các xét nghiệm đặc hiệu với VRVGB. Căn nguyên virus của bệnh VGB đƣợc khẳng định chắc chắn dƣới kính hiển vi điện tử khi phát hiện ra một số hạt virus (chính là các hạt Dane) phản ứng với huyết thanh kháng kháng nguyên Australia. Thành phần vỏ ngoài của của hạt Dane đƣợc gọi là kháng nguyên bề mặt của virus VGB (HBsAg). Thành phần lõi có chứa ADN nội sinh và kháng nguyên lõi (HBcAg).

Kháng nguyên thứ ba (liên quan đến khả năng lây nhiễm) là HBeAg đƣợc Magnius và Espmark mô tả lần đầu tiên năm 1972 [11]. Kháng nguyên lõi Protein bề mặt nhỏ (S) Formatted: Font: Times New Roman, (HBcAg) 9 pt, Bold, Dutch (Netherlands) Protein bề mặt trung Kháng nguyên Formatted: Centered, No bình M (S+Pre-S2) widow/orphan control bề mặt (HBsAg) Formatted: Font: Times New Roman, Protein bề mặt lớn L 9 pt, Bold (S+PreS2+PreS1) Formatted: Centered, No widow/orphan control Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Formatted: Centered, No widow/orphan control Formatted: Font: Times New Roman, 9 pt, Bold Hình 1.1: Cấu trúc hạt VRVGB hoàn chỉnh [12] 6 1. Đặc điểm sinh học của VRVGB VRVGB là một virus có cấu trúc ADN sợi kép và có vỏ thuộc họ Hepadnaviridae, nhân lên ở trong gan và gây nên các rối loạn chức năng gan. HBsAg có ở trên bề mặt ngoài của hạt virus hoàn chỉnh (hạt Dane) và lƣu hành trong máu dƣới dạng các hạt hình ống hoặc hình cầu 22nm (hình 1.

Nhân bên trong của virus có chứa HBcAg, HBeAg, phân tử ADN một phần sợi kép và ADN polymeraza phụ thuộc ADN [11], [13]. Cấu trúc gen và các protein của VRVGB VRVGB là virus có ADN nhỏ nhất đƣợc biết đến, cấu trúc gen chỉ có 3200 cặp bazơ và tổ chức đặc biệt dạng vòng, có một phần sợi kép (hình 1. Sợi âm của ADN là một vòng hoàn chỉnh có 4 khung đọc mở (open reading frame: ORF) chứa các gen mã hoá đan xen vào nhau: ORFS - gen tiền S1, tiền S2 và S; ORFC - gen tiền lõi/lõi, ORFX - gen X và ORFP - gen polymeraza. Sợi dƣơng của virus ngắn hơn và có chiều dài thay đổi [11].

Các gen S và tiền S mã hoá vỏ VRVGB. Protein chính tạo nên các hạt HBsAg là loại nhỏ (SHBs). Protein trung bình (MHBs) chứa thành phần tiền S2 và protein bề mặt loại lớn (LHBs) chứa tiền S1 cũng liên kết vào các hạt HBsAg nhƣng đƣợc thấy nhiều hơn trong các hạt virus trơ. Các nghiên cứu cho rằng protein tiền S đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kết hợp của VRVGB vào tế bào gan, vị trí gắn đặc hiệu ở gan đối với S1 và tiền S2 đã đƣợc xác định từ thực nghiệm [11].

Gen ORF-C mã hóa cho cả HBcAg và HBeAg. Trong quá trình sao chép, HBcAg đến nối mạng lƣới nội bào bị cắt rời và HBeAg (đoạn tiền lõi) đƣợc tạo ra. HBcAg có vai trò quan trọng trong việc đóng gói ARN vào nhân virus và là một thành phần không thể thiếu của nucleocapsid. Không thể phát hiện HBcAg trong huyết thanh bằng các kỹ thuật thông thƣờng, tuy nhiên có 7 thể tìm thấy trong nhu mô gan ở các bệnh nhân nhiễm VRVGB cấp và mạn tính.

HBeAg là một protein hoà tan có thể phát hiện trong huyết thanh các bệnh nhân có tải lƣợng virus cao, nhƣng sự có mặt của HBeAg không phải là một yếu tố bắt buộc cho quá trình nhân lên của virus [11], [13]. Gen ORF-P mã hóa cho enzym polymeraza có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp ADN và quá trình kết hợp ARN vào nhân virus [1], [13]. Gen ORF-X mã hóa cho protein X của virus (17kD), protein có ảnh hƣởng đến việc truyền tín hiệu tính trạng tế bào vật chủ, quá trình biểu thị gen, nhân lên và lan truyền của HBV trong cơ thể [13]. Protein X còn giúp cho sự nhân lên của HBV bằng tác động vào các yếu tố tham gia phiên mã, kích thích tăng sinh và làm chết tế bào [1].2: Cấu trúc và tổ chức gen của VRVGB [11] 8 1.

Quá trình nhân lên của VRVGB Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Phí Đức Long (2014). Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/nhi-khoa/luan-an-danh-gia-dap-ung-tao-khang-the-doi-voi-vacxin-phong-viem-gan-b-o-tre-co

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Nghiên cứu đánh giá hiệu quả miễn dịch vắc xin viêm gan B ở trẻ sơ sinh. Phân tích đáp ứng kháng thể sau tiêm chủng theo khuyến cáo."

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" thuộc chuyên ngành Nhi khoa. Danh mục: Nhi Khoa.

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" có bao nhiêu trang?

Luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Đánh giá đáp ứng kháng thể vắcxin viêm gan B ở trẻ sơ sinh" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter