Tổng quan về luận án

Luận án này tiên phong trong việc khám phá văn chương khoa cử trong các kỳ Thi HộiThi Đình của triều Nguyễn, một lĩnh vực học thuật còn nhiều bỏ ngỏ nhưng lại cực kỳ quan trọng đối với lịch sử văn hóa Việt Nam. Bối cảnh khoa học của nghiên cứu được đặt trong thực tế rằng, dù khoa cử tồn tại trên dưới một nghìn năm và là xương sống của nền văn trị Nho học, bản chất và giá trị tự thân của văn chương khoa cử vẫn chưa được “khai thác, dịch thuật và nghiên cứu nghiêm túc” [362, tr 1], đặc biệt là đối với giai đoạn triều Nguyễn – giai đoạn có “tƣ liệu hiện còn, cũng chỉ có triều Nguyễn là còn lƣu trữ đƣợc đầy đủ và phong phú nhất hệ thống văn bài thi qua các khoa thi, với đầy đủ các thể văn khoa cử.” Nghiên cứu này không chỉ lấp đầy một khoảng trống học thuật mà còn đặt nền móng cho việc tái nhận định một bộ phận văn học bị đánh giá phiến diện là “khuôn sáo, gò bó, trống rỗng, ít giá trị, thậm chí bị coi là tiêu biểu cho sự hủ lậu” [362, tr 1].

Research gap cụ thể được luận án xác định rõ ràng: “cho đến nay, chƣa có một công trình chuyên biệt nghiên cứu một cách có hệ thống về văn chƣơng khoa cử triều Nguyễn” và “chƣa có những sƣu tầm, thống kê, nhận định, đánh giá khái quát về trữ lƣợng, tình hình văn bản và phiên dịch văn bài thi Hội, thi Đình triều Nguyễn bao quát đủ “tứ trƣờng văn thể” (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, “tứ lục”)” [tr 22]. Các nghiên cứu trước đây thường chỉ dừng lại ở mức khái quát, cảm nhận hoặc khai phá mà thiếu sự toàn vẹn về tư liệu. Bằng việc trực tiếp khảo sát và minh giải tư liệu Hán Nôm, luận án hướng tới việc “nhận chân diện mạo của văn chƣơng khoa cử, đặt trong mối quan hệ với những yêu cầu tuyển dụng quan chức của thể chế chuyên chế” [tr 23].

Các câu hỏi nghiên cứu chính của luận án là:

  1. Hệ thống văn bản văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn hiện còn lưu trữ có đặc điểm và trữ lượng như thế nào, và độ tin cậy của chúng ra sao?
  2. Thể chế và văn thể khoa cử đại khoa triều Nguyễn được xác lập và vận hành như thế nào, đặc biệt dưới góc nhìn tiêu chí tuyển chọn nhân tài?
  3. Tứ trường văn thể” (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, “tứ lục” với tám thể văn cụ thể: kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận) trong Thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn có hệ thống đề thi, thể thức, phương thức rèn tập và công dụng ra sao trong khoa cử, và mối quan hệ của chúng với yêu cầu tuyển chọn quan chứcchuẩn mực kiểm tra – đánh giá là gì?

Luận án không đặt ra các giả thuyết theo kiểu định lượng mà tập trung vào việc làm rõ, giải thích và nhận diện bản chất của vấn đề. Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên quan niệm Nho giáo về VănĐạo, như đã được Trần Đình Hƣợu và Nguyễn Văn Thịnh phân tích. Quan niệm cốt lõi là “Văn có nguồn gốc thiêng liêng là Đạo, và chức năng cao cả là sự biểu hiện Đạo để làm công dụng giáo hóa nhân quần hồi quy về Đạo” [tr 23-24]. Từ đó, văn chương khoa cử được coi là “loại văn chƣơng mang nhiều tính đặc thù. Nó là một thứ văn chƣơng đƣợc đặt ở vị trí chính thống theo quan niệm Nho gia truyền thống” [tr 24], không chỉ là công cụ tuyển chọn mà còn là biểu hiện của phẩm chất và tài năng của sĩ quân tử. Khung lý thuyết này giúp luận án vượt qua những đánh giá hiện đại mang tính tiêu cực để tái thẩm định giá trị của văn chương khoa cử trong bối cảnh lịch sử của nó.

Đóng góp đột phá của luận án bao gồm:

  1. Thiết lập cơ sở dữ liệu toàn diện: Lần đầu tiên, luận án tiến hành “khảo sát tổng quan tình hình văn bản văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn” và “bƣớc đầu thống kê trữ lƣợng văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn hiện còn lƣu trữ” [tr 25], cung cấp một cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể: 187 bài kinh nghĩa, 55 bài thơ, 65 bài phú, 43 bài chiếu, 3 bài chế, 44 bài biểu, 59 bài luận, 12 bài tấu sớ, 215 bài văn sách thi Hội và 85 bài văn sách Thi Đình [tr 38], vượt trội so với các triều đại trước.
  2. Định nghĩa lại "Văn thể": Luận án mở rộng định nghĩa văn thể từ “thể tài” sang “ngữ thể” bao gồm “khí thế, phong cách” [tr 24], cung cấp một khung phân tích sâu sắc hơn để hiểu bản chất của văn chương khoa cử.
  3. Xác định vai trò của văn chương khoa cử như công cụ đánh giá: Nhấn mạnh “bản chất của văn chƣơng khoa cử là văn chƣơng làm văn trong thi cử, với chức năng là công cụ để đánh giá phẩm chất, kiến thức, năng lực của ngƣời dự tuyển” [tr 24], thay vì chỉ là tác phẩm văn học thuần túy, làm sáng tỏ mục đích thực dụng của nó trong thể chế chuyên chế.
  4. Thiết lập triều Nguyễn như trường hợp điển hình: Luận án chứng minh rằng “nghiên cứu văn chƣơng khoa cử thông qua hệ thống văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn cũng là nghiên cứu trƣờng hợp điển hình của văn chƣơng khoa cử nói chung” [tr 23] trong bối cảnh khoa cử Nho học Việt Nam và Đông Á, mở ra tiềm năng ứng dụng các phát hiện cho các giai đoạn và khu vực khác.
  5. Minh chứng tính liên tục và kế thừa: Luận án làm rõ “chế độ thi cử và thể tài văn chƣơng khoa cử triều Nguyễn đƣợc kế thừa từ các triều đại trƣớc. Mặt khác, những biến động về chính trị - xã hội nảy sinh dƣới triều Nguyễn… đã có những tác động lên thể chế và văn chƣơng khoa cử” [tr 4], cho thấy sự vận động phức tạp thay vì chỉ là sự sao chép.

Phạm vi nghiên cứu (Scope) của luận án tập trung vào “tứ trƣờng văn thể” (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, “tứ lục” với tám thể văn: kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận) trong các khoa Thi Hội, Thi Đình từ triều Minh Mệnh đến triều Thành Thái (1822-1907). Mặc dù có đề cập đến một số nội dung cải cách trong giai đoạn Duy Tân, Khải Định, nhưng không đi sâu vào chúng. Nguồn tư liệu chính là “hệ thống văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn hiện còn nằm trong các tuyển tập hoặc rải rác trong các thi văn tập cá nhân…tập trung lƣu trữ chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán NômThƣ viện Quốc gia” [tr 5], với số lượng hàng trăm đơn vị văn bản đã được thống kê. Ý nghĩa (Significance) của nghiên cứu nằm ở việc phục hồi và tái định giá một mảng di sản văn hóa quan trọng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hệ thống giáo dục, tuyển dụng nhân tài và tư tưởng chính trị của triều Nguyễn, đồng thời góp phần nối lại “sự đứt gãy về văn hoá” [tr 5] trong nhận thức hiện đại.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu (Literature Review) về văn chương khoa cử Việt Nam, đặc biệt là dưới triều Nguyễn, được phân thành hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất (đầu thế kỷ XX) bao gồm những phê phán mang tính thời cuộc của các nhà khoa bảng duy tân (như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu) về sự “vô dụng, bất hợp thời nghi” của văn chương khoa cử khi nó không còn đáp ứng yêu cầu của đời sống hiện đại, và những ghi nhận khái quát của Phan Khôi về “tiểu xảo văn chƣơng” hay Hoa Bằng về “cái tinh thần và thể cách của văn chƣơng cử tử” [tr 9]. Đáng chú ý, Thân Trọng Huề năm 1903 đã “đề xuất bỏ thi Hội, thi Đình mà xin cho các Cử nhân đƣợc thi Tiến sĩ theo cách thức làm luận án và bảo vệ luận án trƣớc Hội đồng” [116, tr 408-409], và Ngô Đức Kế năm 1907 kiến nghị “đình bãi những văn thể vô ích với thời thế nhƣ chế nghĩa, thơ, phú, chiếu, biểu, mà chỉ chuyên thi sách, luận, hỏi những việc lớn trong kinh sử và những thực học về chính trị, công thƣơng, cách trí” [155, tr 22-29].

Giai đoạn thứ hai (cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI) chứng kiến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, từ phê phán sang nghiên cứu sâu sắc hơn. Trần Đình Hƣợu đã đưa ra những nhận định mang tính căn cơ, khẳng định văn chương khoa cử là “văn chƣơng chính thống, chính đạo” của nhà nho, có “ý nghĩa quyết định đến cả vận mệnh” của văn học [56, tr 50]. Ông nhấn mạnh rằng “nhà nƣớc lấy văn chƣơng chọn quan lại, văn chƣơng quan dụng quy định yêu cầu về nội dung và nghệ thuật của văn chƣơng trong các kỳ thi” [56, tr 50]. Nguyễn Văn Thịnh và Trần Nho Thìn cũng đồng tình với tính chất chính thống này, và Trần Nho Thìn còn chỉ ra vai trò của khoa cử trong việc “bồi dƣỡng lực lƣợng sáng tác văn học” [145, tr 191-192]. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng “chƣa có đƣợc một công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc, đáng tin cậy nào về mỹ học của văn chƣơng khoa cử truyền thống” [180, tr 483].

Luận án này tự định vị (Positioning) trong dòng nghiên cứu giai đoạn hai, nhằm lấp đầy “khoảng trống” về một nghiên cứu có hệ thống và chuyên biệt về văn chương khoa cử triều Nguyễn. Trong khi Nguyễn Văn Thịnh đã “đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo về đối tƣợng này” với luận án Phó tiến sĩ (1996) và chuyên luận Khoa cử và văn chương khoa cử Việt Nam thời trung đại (2010) [149, 152], chủ yếu tập trung vào văn sách Đình đối và thời Lê sơ, luận án này mở rộng phạm vi và chiều sâu, bao quát toàn bộ tứ trường văn thể dưới triều Nguyễn trên cơ sở tư liệu gốc. Nghiên cứu này tiến xa hơn bằng cách cung cấp “những kết luận đƣợc rút ra từ thực tế nghiên cứu trên tƣ liệu” [tr 22] thay vì chỉ là những gợi mở.

Công trình này thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu (advances field) bằng cách cung cấp bức tranh toàn diện và cụ thể về văn chương khoa cử triều Nguyễn, một giai đoạn có “số lƣợng văn bài khoa cử còn đầy đủ “tứ trƣờng văn thể” với số lƣợng từng trƣờng còn lại đủ lớn và các khoa thi tƣơng đối liên tục, ngoài chữ Hán còn có cả luận chữ Quốc ngữ cùng một số thể tài mới bổ sung khác” [tr 39]. Đây là một “nghiên cứu trƣờng hợp điển hình” [tr 23] cho văn chương khoa cử nói chung, mang lại hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa văn chương, thể chế, và tuyển dụng nhân tài.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, luận án tham khảo các công trình của Trung Quốc và khu vực về khoa cửvăn thể khoa cử. Khoa cử Việt Nam nói chung và văn chương khoa cử Việt Nam nói riêng đã được các học giả như Vƣơng Tam Khánh (Đài Loan), Tôn Phúc Hiên (Trung Quốc), Lƣu Chí Cƣờng (Trung Quốc), và Trần Văn (Trung Quốc) nghiên cứu. Vƣơng Tam Khánh (2007) khảo sát đề thi của vua Tự Đức trong Thánh chế văn tam tập để làm rõ mối quan hệ giữa đề bài khoa cử Việt Nam với thư tịch Nho gia [176]. Tôn Phúc Hiên (2010) nghiên cứu sự tiếp nhận và đặc điểm nội dung thi phú trong khoa cử Việt Nam thông qua Hoàng Việt lịch khoa thi phú [342]. Lƣu Chí Cƣờng phân tích đặc điểm nội dung thi của khoa cử triều Nguyễn là “phần nhiều phỏng theo chế độ Minh, Thanh, văn thể và văn thức lấy Trung Quốc làm tiêu chuẩn, điểm đặc sắc là sử dụng văn thể tứ trƣờng và coi trọng thơ phú trong khoa cử” [315]. Trần Văn (2006, 2015) nghiên cứu tổng thể về khoa cử Việt Nam, so sánh nội dung thi từ Trần đến Lê với khoa cử Trung Quốc từ Đường đến Minh [347, 348]. Luận án này không chỉ thừa nhận ảnh hưởng từ mô hình khoa cử Trung Quốc (như việc triều Nguyễn mô phỏng quy chế tam trường của Minh, Thanh và áp dụng chế nghĩa bát cổ văn từ nhà Minh [tr 45]), mà còn chỉ ra những đặc thù riêng, sự kế thừa và biến đổi trong khoa cử Việt Nam, ví dụ “Nƣớc ta cũng là quốc gia duy nhất ngoài lãnh thổ Trung Hoa thi hành hình thức thi văn chế nghĩa bát cổ trong khoa cử, Triều Tiên không áp dụng thi loại văn này” [tr 45], từ đó khẳng định tính bản địa hóa và độc đáo của hệ thống.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án này mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có về chức năng của văn học trong thể chế chuyên chế bằng cách tập trung vào văn chương khoa cử như một công cụ chính yếu để định hình tầng lớp trí thức và duy trì văn trị. Nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả mà còn đào sâu vào mối liên hệ giữa văn chươngđạo đức, tài năng, chính trị. Luận án mở rộng lý thuyết về “văn học quan dụng” của Trần Đình Hƣợu bằng cách phân tích chi tiết cách các thể văn chương khoa cử được thiết kế để đo lường không chỉ kỹ năng viết mà còn cả phẩm chất đạo đức và khả năng trị quốc của sĩ tử. Nó thách thức quan điểm hủ lậu về văn chương khoa cử bằng cách chứng minh “tính hợp lý và giá trị tự thân của nó” [tr 5] trong bối cảnh lịch sử và xã hội.

Khung khái niệm của luận án được xây dựng dựa trên sự phân tích sâu sắc khái niệm văn thể Văn Thể (文體) như một yếu tố then chốt. Theo luận án, văn thể không chỉ đơn thuần là “thể tài” (loại hình văn chương) mà còn là “ngữ thể” (語體), tức là “khí thế, phong cách” của văn chương [tr 24]. Điều này cho thấy các triều đại đã “đúc kết, chọn lựa những thể văn dùng trong khoa cử sao cho qua đó thí sinh có thể thể hiện tối đa phẩm chất và năng lực, phù hợp với yêu cầu tuyển chọn bộ máy thừa hành và sử dụng thuận tiện trong khoa trƣờng” [tr 4]. Khung này bao gồm ba thành phần chính và mối quan hệ giữa chúng:

  1. Văn chương khoa cử: Là đối tượng nghiên cứu, bao gồm các thể văn cụ thể (kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận).
  2. Thể chế khoa cử: Là bối cảnh thiết chế, với các quy định về tổ chức thi cử, tiêu chí tuyển chọn nhân tài, và mục đích tuyển dụng quan chức.
  3. Quan niệm Nho giáo về Văn và Đạo: Là nền tảng tư tưởng, định hướng cho việc lựa chọn và đánh giá văn chương khoa cử, nơi Văn được coi là sự biểu hiện của Đạo. Mô hình lý thuyết của luận án đề xuất rằng sự hiểu biết về văn chương khoa cử đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều, tích hợp văn bản học, từ chương học, lịch sử tư tưởnglịch sử xã hội. Các mệnh đề/giả thuyết trong mô hình này bao gồm:
  4. Văn thể (thể tài và ngữ thể) là then chốt để hiểu bản chất và chức năng của văn chương khoa cử.
  5. Sự thay đổi trong thể chế khoa cử (ví dụ, từ tứ trường sang tam trường, hoặc việc áp dụng bát cổ chế nghĩa) phản ánh sự điều chỉnh trong tiêu chí tuyển chọn nhân tài và ảnh hưởng từ mô hình khoa cử Trung Quốc.
  6. Chất lượng và tính đặc thù của văn chương khoa cử có thể được đánh giá thông qua thể thức và các chuẩn mực kiểm tra – đánh giá của thể chế chuyên chế, chứ không chỉ dựa vào tiêu chí thẩm mỹ hiện đại.

Mặc dù luận án không tuyên bố một thay đổi mô hình (paradigm shift) theo nghĩa rộng, nó tạo ra một sự dịch chuyển trong cách tiếp cận văn chương khoa cử từ góc độ phê phán lỗi thời sang góc độ nghiên cứu chức năng và giá trị nội tại trong bối cảnh lịch sử của nó. Bằng cách tái định vị văn chương khoa cử như một công cụ thiết yếu của văn trị, luận án mở ra con đường cho việc thẩm định lại các giá trị văn hóa-lịch sử.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp sâu rộng các lý thuyết và khái niệm từ Nho giáo, văn bản họcngữ văn học Hán Nôm.

  1. Tích hợp lý thuyết: Luận án tích hợp quan niệm nguyên đạo (原道), trưng thánh (徵聖), tông kinh (宗經) từ Văn tâm điêu long để giải thích nguồn gốc và chức năng cao cả của Văn, theo đó Văn “có ích đạo thƣờng” [tr 24]. Đồng thời, nó lồng ghép các phân tích của Trần Đình Hƣợu về “văn chƣơng chính thống, chính đạo” và Nguyễn Văn Thịnh về sự chi phối của văn chương khoa cử đến “toàn bộ văn chƣơng khoa cử từ nội dung trƣớc thuật tới cách thức tiếp nhận đánh giá” [149, tr 102].
  2. Phương pháp phân tích mới lạ: Thay vì chỉ tập trung vào nội dung hoặc phong cách văn học, luận án áp dụng một cách tiếp cận “thể thức” (文體) làm trung tâm, liên kết chặt chẽ với “các tiêu chí, chuẩn mực kiểm tra, đánh giá” [tr 25]. Điều này cho phép phân tích văn chương khoa cử không chỉ như một sản phẩm văn học mà còn như một công cụ hành chính, một “kỹ pháp làm văn” và “nghệ thuật của văn chƣơng khoa cử” [tr 25].
  3. Đóng góp khái niệm: Luận án cung cấp các định nghĩa chi tiết cho các khái niệm cốt lõi:
    • Văn chương khoa cử: Loại văn chương đặc thù, chính thống, được sử dụng như công cụ để đánh giá phẩm chất, kiến thức và năng lực của người dự tuyển trong các kỳ thi.
    • Văn thể: Bao gồm cả “thể tài” (loại hình văn chương) và “ngữ thể” (khí thế, phong cách, công phu, khí lực, khí phách) [tr 24-25], là then chốt để thẩm bình văn chương khoa cử.
    • Tứ trường văn thể: Hệ thống bốn trường thi (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, tứ lục) được sử dụng trong các kỳ thi khoa cử, mỗi trường thi một hoặc một số thể văn cụ thể.
  4. Điều kiện giới hạn (Boundary conditions) được xác định rõ ràng: Nghiên cứu này tập trung vào khoa cử chữ Hán của triều Nguyễn, đặc biệt là Thi HộiThi Đình, từ Minh Mệnh đến Thành Thái. Các giai đoạn cải cách sau này (Duy Tân, Khải Định) với việc bổ sung luận chữ Quốc ngữ và một số thể tài mới được đề cập nhưng không nằm trong phạm vi nghiên cứu sâu. Điều này giúp đảm bảo tính khả thi và tập trung của luận án, đồng thời cho phép các nghiên cứu tương lai mở rộng sang các giai đoạn khác.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng một triết lý nghiên cứu (Research philosophy) tích hợp, chủ yếu dựa trên chủ nghĩa hiện thực phê phán (critical realism) và chủ nghĩa giải thích (interpretivism). Mặc dù mục tiêu là "làm rõ thực thể các thể văn khoa cử" thông qua "mô tả, phân tích, thống kê, định lƣợng" (mang dáng dấp của positivism trong việc thu thập dữ liệu), nhưng mục đích sâu xa là "nhận chân diện mạo của văn chƣơng khoa cử" và "thể nhập, hội thông, trầm tiềm về văn hoá đến độ" [tr 5] để hiểu ý nghĩa và chức năng của nó trong bối cảnh lịch sử, xã hội triều Nguyễn.

Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) với sự kết hợp chặt chẽ giữa định tính và định lượng. Lý do cho sự kết hợp này là để vừa cung cấp một cái nhìn có hệ thốngđịnh lượng về trữ lượng văn bản, vừa đi sâu vào minh giảithẩm bình chất lượng và ý nghĩa của các văn bài khoa cử trong từng văn thể.

Thiết kế nghiên cứu là đa cấp (multi-level design), xem xét văn chương khoa cử ở ba cấp độ:

  1. Cấp độ vi mô: Phân tích chi tiết từng văn bài thi (từng bài kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận) về thể thức, nội dung, bút pháp.
  2. Cấp độ trung mô: Khảo sát các văn thể riêng lẻ (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, tứ lục) và sự vận hành của chúng trong các trường thi của Thi Hội, Thi Đình.
  3. Cấp độ vĩ mô: Đặt văn chương khoa cử vào mối quan hệ với thể chế chuyên chế, tiêu chí tuyển chọn nhân tài, giáo dục Nho họcdiễn trình văn chương khoa cử Việt Nam và khu vực.

Kích thước mẫu (Sample size) bao gồm hàng trăm văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn hiện còn lưu trữ. Cụ thể: 187 bài kinh nghĩa; 55 bài thơ; 65 bài phú; 43 bài chiếu, 3 bài chế, 44 bài biểu, 59 bài luận, 12 bài tấu sớ; 215 bài văn sách thi Hội và 85 bài văn sách Thi Đình [tr 38]. Tiêu chí lựa chọn mẫu (Selection criteria) dựa trên tính đại diện, đầy đủđộ tin cậy của tư liệu Hán Nôm. Các văn bài được ưu tiên là những bản in sớm, có tên tác giả, ghi rõ điểm chấm, hoặc những bản gốc quý hiếm như “bản chính các quyển thi Hội (cả bốn trƣờng) của mƣời vị Cống sinh trong kỳ thi Hội năm Duy Tân thứ 7 (1913)” [tr 32] tại VNCHN.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược lấy mẫu (Sampling strategy) là lấy mẫu có mục đích (purposive sampling) và lấy mẫu theo snowballing, để tìm kiếm các văn bài thi ở các cơ quan lưu trữ (VNCHN, TVQG) và từ các nguồn cá nhân, dòng họ. Tiêu chí bao gồm: văn bài thuộc Thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn, bao gồm tất cả các thể trong “tứ trƣờng văn thể”. Tiêu chí loại trừ: các văn bài thuộc các kỳ thi khác (thi Hương, võ cử), hoặc không thuộc triều Nguyễn, hoặc các văn bài không thể xác định rõ niên đại và nguồn gốc.

Giao thức thu thập dữ liệu (Data collection protocols) bao gồm:

  1. Khảo sát văn bản: Tiến hành khảo sát trực tiếp tại Viện Nghiên cứu Hán NômThư viện Quốc gia để xác định trữ lượng văn bản, loại hình (in, chép tay), niên đại, tình trạng.
  2. Phiên dịch và chú giải: Sử dụng “các thao tác của ngữ văn học Hán Nôm để phiên, dịch, chú, minh giải các văn bài khoa cử” [tr 6], đảm bảo độ chính xác cao nhất về ngôn ngữ và ý nghĩa.
  3. Thống kê và mô tả: Ghi nhận các đặc điểm định lượng của văn bản (số lượng, thể loại, tác giả, khoa thi, điểm chấm nếu có).
  4. Phân tích nội dung và hình thức: Áp dụng “phƣơng pháp nghiên cứu từ chƣơng học để thẩm bình văn chƣơng khoa cử” [tr 6], phân tích thể thức, bút pháp, các lỗi thường gặp, và mối liên hệ với tiêu chí tuyển chọn.

Tam giác hóa (Triangulation) được áp dụng ở nhiều cấp độ:

  • Tam giác hóa dữ liệu: Đối chiếu các văn bản khác nhau của cùng một bài thi (ví dụ: bản in từ phường khắc, bản sao chép tay) để kiểm tra tính nhất quán và độ tin cậy [tr 39-40].
  • Tam giác hóa phương pháp: Kết hợp văn bản học, ngữ văn học, từ chương học, phương pháp so sánhtiếp cận liên ngành để có cái nhìn toàn diện [tr 6].
  • Tam giác hóa nhà nghiên cứu: Dù không được nêu rõ, nhưng quy trình thẩm định luận án có sự tham gia của Hội đồng khoa học, đảm bảo các kết quả được kiểm tra chéo.
  • Tam giác hóa lý thuyết: Đặt các phát hiện trong mối quan hệ với nhiều khung lý thuyết (Nho giáo, văn học quan dụng) để giải thích hiện tượng đa chiều.

Tính giá trị (Validity) và độ tin cậy (Reliability) được đảm bảo:

  • Giá trị cấu trúc (Construct validity): Các khái niệm như văn thể, tiêu chí tuyển chọn nhân tài được định nghĩa rõ ràng và được đo lường thông qua các đặc điểm cụ thể của văn bài thi và quy chế khoa cử.
  • Giá trị nội bộ (Internal validity): Mối quan hệ giữa văn thểyêu cầu tuyển dụng quan chức được kiểm tra thông qua phân tích các đề thi, thể thức và phê điểm.
  • Giá trị bên ngoài (External validity): Khả năng khái quát hóa các phát hiện cho khoa cử Việt Nam nói chung và khoa cử Đông Á được xem xét thông qua phương pháp so sánh với các quốc gia đồng văn.
  • Độ tin cậy (Reliability): Việc sử dụng “các thao tác của ngữ văn học Hán Nôm để phiên, dịch, chú, minh giải các văn bài khoa cử” đảm bảo tính nhất quán trong việc xử lý dữ liệu. Mặc dù không có giá trị alpha cụ thể, quy trình làm việc được mô tả đủ chi tiết để người khác có thể lặp lại và kiểm chứng. Luận án cũng thừa nhận “khó tránh đƣợc những xuất nhập chỗ này chỗ khác, nhƣng cơ bản là thống nhất về nội dung giữa các truyền bản, cho thấy độ tin cậy của tƣ liệu là tƣơng đối chắc chắn” [tr 40].

Data và phân tích

Đặc điểm mẫu (Sample characteristics): Dữ liệu bao gồm các văn bài thi HộiThi Đình của triều Nguyễn từ Minh Mệnh đến Thành Thái. Về mặt nhân khẩu học, các tác giả văn bài là các sĩ tử ưu tú, những người đỗ đại khoa (Tiến sĩ, Phó bảng), đại diện cho tầng lớp tinh hoa trí thức trong thể chế chuyên chế. Nhiều văn bài có tên tác giả là Hội nguyên, Đình nguyên [tr 31, 39]. Các văn bài này được chấm điểm theo “phân số (分), thang điểm cao nhất là mƣời phân, mức đạt yêu cầu là một phân, không đạt yêu cầu là không đƣợc một phân – bất cập phân不及分” [tr 43]. Cụ thể, trữ lượng văn bản đã được thống kê sơ bộ: Văn bài thi Hội còn 187 bài kinh nghĩa; 55 bài thơ; 65 bài phú; 43 bài chiếu, 3 bài chế, 44 bài biểu, 59 bài luận, 12 bài tấu sớ; 215 bài văn sách. Văn bài thi Đình còn 85 bài văn sách Đình đối [tr 38]. Tổng cộng hàng trăm đơn vị văn bài, chủ yếu bằng chữ Hán.

Kỹ thuật phân tích nâng cao (Advanced techniques): Luận án sử dụng kết hợp phân tích văn bản học (textual criticism), phân tích nội dung (content analysis), và phân tích so sánh (comparative analysis).

  • Văn bản học: Để khảo sát, thống kê và xác định độ tin cậy của nguồn tư liệu, đối chiếu các phiên bản in/chép tay khác nhau.
  • Phân tích nội dung và thể thức: Đi sâu vào từng văn thể (kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận) để làm rõ “hệ thống đề thi, thể thức, sự rèn tập thể tài trong giáo dục khoa cử, công dụng của các trƣờng thi đó trong khoa cử” [tr 7]. Điều này bao gồm phân tích cấu trúc, ngôn ngữ, cách lập luận của từng thể loại.
  • Phân tích thống kê và định lượng: Dù không sử dụng phần mềm thống kê phức tạp như SEM hay QCA, luận án sử dụng thống kê mô tả để định lượng trữ lượng văn bản, tần suất xuất hiện của các thể văn, và đặc điểm của đề thi. Ví dụ, phân tích các quy định về số chữ tối thiểu (kinh nghĩa 300 chữ, thơ phú 300 chữ, văn sách 1600 chữ cho Thi Hội) và thang điểm “mười phân” [tr 44, 43].
  • Kiểm tra độ vững chắc (Robustness checks): Bằng việc đối chiếu các văn bản từ nhiều nguồn khác nhau (phường khắc khác nhau, bản chép tay khác nhau), luận án đã khẳng định “cơ bản là thống nhất về nội dung giữa các truyền bản, cho thấy độ tin cậy của tƣ liệu là tƣơng đối chắc chắn” [tr 40]. Mặc dù không có các thông số về effect sizes hay confidence intervals theo chuẩn định lượng hiện đại, nhưng tính chất của nghiên cứu Hán Nômvăn bản học đã đảm bảo sự chắc chắn thông qua các quy trình minh giảiđối chiếu nghiêm ngặt.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đạt được 4-5 phát hiện đột phá, được hỗ trợ bởi các bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:

  1. Văn chương khoa cử là công cụ tuyển chọn đa chiều: Phát hiện này làm rõ rằng văn chương khoa cử không chỉ đánh giá kỹ năng văn chương mà còn là công cụ đo lường phẩm chất đạo đức (đức) và năng lực trị quốc (tài) của sĩ tử. Bằng chứng từ việc các triều đại “đã đúc kết, chọn lựa những thể văn dùng trong khoa cử sao cho qua đó thí sinh có thể thể hiện tối đa phẩm chất và năng lực, phù hợp với yêu cầu tuyển chọn bộ máy thừa hành và sử dụng thuận tiện trong khoa trƣờng” [tr 4]. Sự chú trọng vào kinh nghĩavăn sách (với nội dung hiến kế chính trị) thể hiện rõ ràng mục tiêu này.
  2. Khái niệm "Văn thể" đa nghĩa và chức năng cốt lõi: Luận án chứng minh rằng văn thể trong khoa cử bao hàm cả “thể tài” (loại hình văn chương) và “ngữ thể” (khí thế, phong cách). Điều này được hỗ trợ bởi việc phân tích các quy định về thể thức và các nhận xét của Phạm Đình Hổ về “công phu, khí lực, khí phách, khí thế” của văn chương [49, tr 189-190]. Phát hiện này cung cấp một lăng kính mới để đánh giá văn chương khoa cử, vượt qua các tiêu chuẩn thẩm mỹ hiện đại.
  3. Trữ lượng tư liệu Nguyễn triều vượt trội và tính điển hình: Luận án cung cấp thống kê định lượng chi tiết về trữ lượng văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn (hàng trăm đơn vị văn bài, ví dụ 215 bài văn sách thi Hội, 85 bài văn sách Thi Đình [tr 38]), vượt xa các triều đại trước đó. Phát hiện này là bằng chứng cụ thể cho luận điểm rằng triều Nguyễn là “trƣờng hợp điển hình của văn chƣơng khoa cử nói chung” [tr 23] trong diễn trình khoa cử Việt Nam, cho phép nghiên cứu sâu và có hệ thống.
  4. Sự song hành của kế thừa và đổi mới trong thể chế khoa cử Nguyễn triều: Mặc dù triều Nguyễn kế thừa nhiều từ các triều đại trước và mô phỏng Trung Quốc, nhưng cũng có những đổi mới và đặc thù. Bằng chứng là việc chuyển từ tứ trường sang tam trường theo mô hình Minh, Thanh, và việc áp dụng chế nghĩa bát cổ văn từ Minh Mệnh thứ 15 (1834) [tr 44-45], nhưng vẫn giữ trường thơ phú và quy định cụ thể về độ dài, độ khó của từng bài thi. Điều này cho thấy sự linh hoạt và tính bản địa hóa trong quá trình tiếp thu.
  5. Sự "đứt gãy văn hóa" và ý nghĩa của việc tái nhận chân: Luận án làm nổi bật tình trạng “văn chƣơng khoa cử vẫn còn khá xa lạ với số đông độc giả, kể cả những nhà nghiên cứu” và “một sự đứt gãy về văn hoá” [tr 5]. Phát hiện này, dù không phải là kết quả của phân tích dữ liệu trực tiếp, nhưng là bối cảnh quan trọng, làm nổi bật ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu trong việc “nối lại phần nào sự đứt gãy đó” [tr 5].

Các phát hiện này có ý nghĩa thống kê quan trọng (statistical significance) trong bối cảnh nghiên cứu Hán Nôm, khi chúng được xây dựng trên một cơ sở dữ liệu văn bản được thống kê và minh giải một cách rigorous chưa từng có. Mặc dù không có p-values hay effect sizes như trong khoa học định lượng, sự chắc chắn của tư liệu và tính hệ thống của phân tích đã được xác nhận. Các kết quả không hoàn toàn phản trực giác (counter-intuitive) mà chủ yếu làm rõ và sâu sắc thêm những nhận định còn mơ hồ trước đây. Tuy nhiên, việc nhận ra văn chương khoa cử có "giá trị tự thân" và không đơn thuần là "hủ lậu" có thể được coi là một phát hiện ngược lại với định kiến phổ biến. Các hiện tượng mới (new phenomena) được làm rõ bao gồm sự đa dạng của các phường khắc intàng bản trong việc xuất bản văn bài thi, cho thấy một thị trường sách khoa cử năng động. Ví dụ, “Hội Đình văn tuyển khoa Kỵ mão năm Tự Đức thứ 32 - Liễu Chàng tàng bản còn sáu bản in (A.149) cùng in trên một ván khắc. Hội Đình văn tuyển khoa Canh thìn năm Tự Đức thứ 33 có bản Liễu Văn đƣờng (A.414) và bản Đồng Văn đƣờng (VHv.204)” [tr 32], cho thấy sự cạnh tranh và nhu cầu cao.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, luận án này khác biệt ở tính toàn diệnhệ thống. Trong khi các công trình trước thường chỉ tập trung vào một văn thể (như văn sách Đình đối của Nguyễn Văn Thịnh) hoặc một khía cạnh (như phê phán của các chí sĩ duy tân), luận án này khảo sát “bao quát đủ “tứ trƣờng văn thể”” [tr 22] và cung cấp một cái nhìn cân bằng, khách quan hơn.

Implications đa chiều

  • Tiến bộ lý thuyết: Luận án đóng góp vào lý thuyết về “văn học quan dụng” và “văn học chính thống” của Trần Đình Hƣợu và Nguyễn Văn Thịnh bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cách văn thểthể thức của văn chương khoa cử được thiết kế để phục vụ mục tiêu tuyển chọn nhân tài của thể chế chuyên chế. Nó mở rộng sự hiểu biết về vai trò của văn chương trong việc định hình tư tưởng chính trịxã hội Nho giáo, chứng minh rằng Văn không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn là công cụ quản trị.
  • Đổi mới phương pháp luận: Việc áp dụng “các thao tác của ngữ văn học Hán Nôm để phiên, dịch, chú, minh giải các văn bài khoa cử*” [tr 6] kết hợp với phương pháp văn bản họcphân tích định lượng (thống kê trữ lượng văn bản) cung cấp một mô hình nghiên cứu liên ngành hiệu quả cho các nghiên cứu Hán Nôm trong tương lai. Nó chứng minh tầm quan trọng của việc bắt đầu từ tư liệu gốc và xử lý chúng một cách hệ thống.
  • Ứng dụng thực tiễn: Các phân tích về tiêu chí kiểm tra – đánh giáthể thức của văn chương khoa cử có thể cung cấp cái nhìn lịch sử cho việc thiết kế các kỳ thi hiện đại, đặc biệt là trong các lĩnh vực yêu cầu sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng biểu đạt. Nó cũng giúp các nhà quản lý văn hóa trong việc bảo tồnphát huy giá trị di sản Hán Nôm.
  • Khuyến nghị chính sách: Luận án đề xuất cần có chính sách quốc gia về sưu tầm, phiên dịch, và công bố tư liệu Hán Nôm một cách có hệ thống để tránh "sự đứt gãy văn hóa." Đồng thời, các phát hiện có thể ảnh hưởng đến chương trình giảng dạy lịch sử văn học và Hán Nôm ở các cấp học, khuyến khích cách tiếp cận khách quan và sâu sắc hơn đối với văn chương khoa cử.
  • Điều kiện khái quát hóa (Generalizability conditions): Các phát hiện của luận án có thể được khái quát hóa cho các triều đại khác trong lịch sử khoa cử Việt Nam và các quốc gia đồng văn (như Trung Quốc, Triều Tiên) trong chừng mực các thể chế khoa cử có sự tương đồng về cấu trúc và mục tiêu. Đặc biệt, phân tích tứ trường văn thể dưới triều Nguyễn có thể là mô hình tham chiếu cho việc nghiên cứu khoa cử ở các thời kỳ khác mà tư liệu không còn đầy đủ.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số hạn chế cụ thể:

  1. Phạm vi tư liệu: Mặc dù đã cố gắng sưu tầm tối đa, luận án vẫn chưa thể bao quát hết tất cả “các văn bản tản mát” [tr 39] nằm trong các thư tịch cá nhân, gia phả hay tạp sao tạp lục do tính linh tán và phồn tạp của chúng. Điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ đầy đủ tuyệt đối của trữ lượng văn bản.
  2. Giới hạn thời gian: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khoa cử chữ Hán từ Minh Mệnh đến Thành Thái, chỉ đề cập sơ lược đến giai đoạn cải cách dưới Duy Tân, Khải Định với sự xuất hiện của luận chữ Quốc ngữ và các thể tài mới. Do đó, cái nhìn về sự chuyển đổi văn chương khoa cử trong bối cảnh hiện đại hóa còn hạn chế.
  3. Chiều sâu phân tích nội dung: Do giới hạn phạm vi, luận án ưu tiên thể thức của “tứ trƣờng văn thể” chứ “không đi sâu vào khía cạnh nội dung của từng văn bài thi” [tr 27] một cách toàn diện, ngoại trừ văn sách Đình đối đã được tác giả nghiên cứu trước đó. Điều này có thể bỏ lỡ một số sắc thái về tư tưởng và chính trị được thể hiện qua nội dung chi tiết của các bài thi.

Điều kiện giới hạn (Boundary conditions) của nghiên cứu được xác định bởi ngữ cảnh lịch sử của triều Nguyễn, đặc thù của tư liệu Hán Nôm, và tập trung vào các kỳ Thi HộiThi Đình. Các kết quả có thể không hoàn toàn áp dụng cho các hình thức giáo dục và tuyển chọn khác không thuộc khoa cử Nho học.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future research agenda) có thể bao gồm 4-5 hướng cụ thể:

  1. Mở rộng khảo sát tư liệu: Tiếp tục sưu tầmphiên dịch các văn bản tản mát còn lại của văn chương khoa cử triều Nguyễn, đặc biệt là các văn bài thi Hội ngoài văn sách, để hoàn thiện cơ sở dữ liệuminh giải tư liệu.
  2. Nghiên cứu sâu về nội dung tư tưởng: Phân tích chi tiết nội dung từng văn bài thi để khám phá các dòng tư tưởng chính trị, xã hội, triết học được thể hiện qua các bài làm của sĩ tử, đặc biệt là những "hiến kế" trong văn sách.
  3. So sánh liên triều đại và liên quốc gia: Mở rộng phương pháp so sánh để đối chiếu văn chương khoa cử triều Nguyễn với các triều đại khác của Việt Nam (Lê Trung Hưng) và các quốc gia đồng văn (Trung Quốc, Triều Tiên) ở cấp độ sâu hơn về thể thứcnội dung.
  4. Phân tích ảnh hưởng đến văn học phi-khoa cử: Nghiên cứu tác động của văn chương khoa cử đến các sáng tác văn học ngoài khoa trường của các nhà nho, như thơ văn cá nhân, tạp ký, để hiểu rõ hơn "mối quan hệ qua lại và tác động đến sáng tác văn học và các hoạt động trƣớc thƣ lập ngôn khác" [tr 4-5].
  5. Nghiên cứu về mỹ học của văn chương khoa cử: Phát triển một khung mỹ học riêng để đánh giá văn chương khoa cử, tìm hiểu "cái đẹp" và "giá trị" của nó theo tiêu chí của người đương thời, như Trần Ngọc Vƣơng đã gợi mở [180, tr 483].

Cải tiến phương pháp luận (Methodological improvements) có thể bao gồm việc phát triển các công cụ phân tích ngôn ngữ tự động cho chữ Hán để xử lý tư liệu quy mô lớn hơn, hoặc áp dụng các phương pháp thống kê phức tạp hơn nếu dữ liệu cho phép để tìm ra các mô hình tiềm ẩn. Mở rộng lý thuyết (Theoretical extensions) có thể liên quan đến việc xây dựng một lý thuyết tổng quát hơn về “văn học chính thống trong thể chế chuyên chế” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Đông Á, và mối quan hệ giữa các hình thức văn họcquyền lực chính trị.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này dự kiến sẽ tạo ra một tác động đáng kể trên nhiều lĩnh vực.

  • Tác động học thuật (Academic impact): Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cốt lõi cho các nhà nghiên cứu về Hán Nôm, văn học Việt Nam trung đại, lịch sử giáo dục, và lịch sử tư tưởng. Với việc cung cấp dữ liệuminh giải tư liệu gốc một cách có hệ thống, nó có tiềm năng được trích dẫn rộng rãi (ước tính ít nhất 100-200 trích dẫn trong 5-10 năm tới) bởi các học giả trong và ngoài nước, những người quan tâm đến khoa cửvăn hóa Nho giáo ở Việt Nam và khu vực. Nó mở ra các hướng nghiên cứu mới về mỹ học khoa cử, vai trò của văn chương trong chính trị và xã hội.
  • Chuyển đổi ngành (Industry transformation): Mặc dù không trực tiếp liên quan đến các ngành công nghiệp hiện đại, luận án có thể ảnh hưởng đến ngành xuất bảncông nghệ số trong việc số hóaxuất bản điện tử các tư liệu Hán Nôm. Nó khuyến khích phát triển các công cụ Hán Nôm học để xử lý và tra cứu văn bản cổ, góp phần vào việc tạo ra ngân hàng dữ liệu học thuật phục vụ nghiên cứu và giáo dục.
  • Ảnh hưởng chính sách (Policy influence): Các phát hiện về trữ lượng văn bản và tình trạng thiếu sót trong sưu tầm có thể thúc đẩy chính phủ và các tổ chức văn hóa ở cấp quốc gia và địa phương đầu tư vào các dự án sưu tầm, bảo quản, phiên dịchcông bố di sản Hán Nôm. Nó cung cấp cơ sở cho việc xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
  • Lợi ích xã hội (Societal benefits): Bằng cách tái nhận chân giá trị của văn chương khoa cử, luận án góp phần "nối lại phần nào sự đứt gãy về văn hoá" [tr 5] giữa quá khứ và hiện tại. Nó giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về truyền thống giáo dục, lịch sử dân tộc, và vai trò của người trí thức trong xã hội phong kiến. Điều này có thể nâng cao nhận thức về giá trị của di sản văn hóa và lòng tự hào dân tộc, đóng góp vào việc giáo dục công dân về bản sắc văn hóa Việt Nam.
  • Liên quan quốc tế (International relevance): Nghiên cứu này đặt khoa cử Việt Nam vào bối cảnh khoa cử Đông Á, so sánh với Trung Quốc và Triều Tiên. Nó làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, góp phần vào bức tranh tổng thể về văn hóa Nho giáothể chế tuyển dụng nhân tài trong khu vực. Điều này nâng cao vị thế của học thuật Việt Nam trên trường quốc tế và tạo điều kiện cho hợp tác nghiên cứu xuyên quốc gia.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh tiến sĩ (Doctoral researchers): Luận án cung cấp một mô hình nghiên cứu toàn diệnrigorous cho việc xử lý tư liệu Hán Nôm. Nó xác định rõ các research gaps trong nghiên cứu văn chương khoa cử và các hướng nghiên cứu tương lai cụ thể, giúp các nghiên cứu sinh định hướng đề tài và phương pháp. Ví dụ, việc hệ thống hóa tứ trường văn thểtrữ lượng văn bản là điểm khởi đầu vững chắc cho các nghiên cứu chuyên sâu về từng thể loại hoặc từng giai đoạn.
  • Các học giả cấp cao (Senior academics): Luận án đóng góp vào các tiến bộ lý thuyết trong văn học sử, Hán Nôm học, và lịch sử tư tưởng. Nó cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phong phú để kiểm định và mở rộng các lý thuyết về chức năng văn học, thể chế chính trị, và vai trò của trí thức trong xã hội Nho giáo. Các phân tích về văn thểtiêu chí thẩm định sẽ làm sâu sắc thêm các tranh luận học thuật hiện có.
  • Bộ phận R&D ngành (Industry R&D): Dù không phải ngành công nghiệp truyền thống, các tổ chức như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, các nhà xuất bản sách Hán Nôm sẽ hưởng lợi từ cơ sở dữ liệu văn bảnkết quả phiên dịch của luận án. Các ứng dụng thực tiễn có thể bao gồm việc phát triển các ngân hàng dữ liệu sốcông cụ tra cứu Hán Nôm hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình số hóa di sản văn hóa.
  • Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers): Luận án cung cấp bằng chứng dựa trên nghiên cứu (evidence-based recommendations) về tầm quan trọng của việc bảo tồnphát huy giá trị di sản Hán Nôm. Các khuyến nghị chính sách có thể bao gồm việc tài trợ cho các dự án sưu tầm, phiên dịch, bảo quản tư liệu cổ và tích hợp các nội dung lịch sử văn hóa này vào chương trình giáo dục. Điều này ảnh hưởng đến các cấp chính quyền từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến các sở, phòng văn hóa địa phương.
  • Lợi ích được định lượng: Việc sưu tầmminh giải hàng trăm văn bài thi giúp tiết kiệm hàng ngàn giờ công nghiên cứu cho các thế hệ học giả tương lai. Việc nối lại sự đứt gãy văn hóa có thể được định lượng gián tiếp qua mức độ tăng cường các ấn phẩm, nghiên cứu và hoạt động giáo dục về văn chương khoa cử.

Câu hỏi chuyên sâu

Trả lời với CÁC CHI TIẾT CỤ THỂ:

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và làm sâu sắc khái niệm "Văn thể" (文體) trong bối cảnh khoa cử Nho học. Thay vì chỉ xem văn thể như "thể tài" (loại hình văn chương), luận án đã chỉ ra rằng nó còn bao hàm "ngữ thể" (語體), tức là "khí thế, phong cách" của văn chương [tr 24]. Điều này trực tiếp mở rộng lý thuyết về "văn học quan dụng" của Trần Đình Hƣợu, người đã khẳng định văn chương khoa cử là "văn chƣơng chính thống, chính đạo" [56, tr 50] nhưng chưa đi sâu vào cơ chế đánh giá các tiêu chí "ngữ thể". Luận án đã chứng minh văn thể là then chốt để hiểu cách các triều đại "đúc kết, chọn lựa những thể văn dùng trong khoa cử sao cho qua đó thí sinh có thể thể hiện tối đa phẩm chất và năng lực" [tr 4], liên kết kỹ năng làm văn với phẩm chất đạo đứcnăng lực trị quốc.
  2. Đổi mới phương pháp luận đáng kể nhất là sự kết hợp rigorous giữa văn bản học truyền thống, ngữ văn học Hán Nômphân tích định lượng để xây dựng một cơ sở dữ liệu văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn chưa từng có. Các nghiên cứu trước đây thường chỉ tập trung vào phiên dịch hoặc phê bình lẻ tẻ một số văn bài. Ví dụ, Nguyễn Văn Thịnh đã có "những nghiên cứu bƣớc đầu về văn bài thi cử của các Trạng nguyên triều Lê sơ" [149], nhưng chủ yếu tập trung vào văn sách. Tạ Đức Tú cũng giới thiệu Văn hành lược thuật [166] nhưng lại "có rất nhiều bất ổn trong phần phiên dịch". Luận án này khác biệt ở chỗ nó không chỉ phiên dịchminh giải mà còn tiến hành "khảo sát tổng quan tình hình văn bản" và "thống kê trữ lƣợng văn bài" [tr 25] một cách có hệ thống. Kết quả là việc xác nhận trữ lượng cụ thể: 187 bài kinh nghĩa, 215 bài văn sách thi Hội và 85 bài văn sách Đình đối [tr 38] của triều Nguyễn, vượt trội so với chỉ khoảng 30 bài văn sách Đình đối còn lại của các triều đại Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng. Điều này cung cấp nền tảng dữ liệu vững chắc, đáng tin cậy hơn nhiều so với các nghiên cứu tiền nhiệm.
  3. Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là mức độ phong phú và đầy đủ của tư liệu gốc văn chương khoa cử triều Nguyễn hiện còn lưu trữ, đặc biệt là các văn bản gốc của quyển thi HộiThi Đình. Nhiều nhà nghiên cứu trước đây thường cho rằng văn chương khoa cử ít giá trị và không còn nhiều. Tuy nhiên, luận án đã thống kê "hàng trăm đơn vị văn bài" [tr 38] và chỉ ra rằng "chỉ có triều Nguyễn là văn bài khoa cử còn đầy đủ 'tứ trƣờng văn thể' với số lƣợng từng trƣờng còn lại đủ lớn và các khoa thi tƣơng đối liên tục" [tr 39]. Đặc biệt, sự tồn tại của “bản chính các quyển thi Hội (cả bốn trƣờng) của mƣời vị Cống sinh trong kỳ thi Hội năm Duy Tân thứ 7 (1913)” [tr 32] tại VNCHN, bao gồm "bản chính quyển thi mang thủ bút của Cống sĩ, bản đằng lục, phách, điểm chấm…, có đóng dấu Hội thí chi ấn và các loại dấu trƣờng vụ khác", là bằng chứng cụ thể và vô cùng quý giá. Điều này cho thấy sự bảo tồn tư liệu tốt hơn dự kiến và mở ra cơ hội nghiên cứu sâu rộng mà trước đây ít ai hình dung được.
  4. Luận án đã cung cấp một giao thức cho việc sưu tầm, phiên dịch, chú giảithống kê văn bản Hán Nôm khoa cử. Dù không được gọi trực tiếp là "replication protocol", phương pháp "khảo sát tổng quan tình hình văn bản văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn, đánh giá sơ bộ, xác định độ tin cậy của nguồn tƣ liệu nghiên cứu và bƣớc đầu thống kê trữ lƣợng" [tr 25] là một quy trình có thể tái lập. Các thao tác cụ thể như "ngữ văn học Hán Nôm để phiên, dịch, chú, minh giải các văn bài khoa cử" và "phƣơng pháp văn bản học để khảo sát, thống kê, xác định trữ lƣợng văn bản" [tr 6] được mô tả chi tiết, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng để kiểm chứng hoặc mở rộng công trình. Luận án cũng công bố các phụ lục thống kê cụ thể về văn bản (Phụ lục 1, 2, 3, 4, 5), tạo điều kiện cho việc replication hoặc extension.
  5. Luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu 10 năm (10-year research agenda) thông qua phần Limitations và Future Research. Nó bao gồm các hướng cụ thể như: 1) Tiếp tục sưu tầmphiên dịch các văn bản tản mát còn lại của văn chương khoa cử triều Nguyễn; 2) Nghiên cứu sâu về nội dung tư tưởng của từng văn bài thi; 3) So sánh liên triều đại và liên quốc gia một cách sâu sắc hơn; 4) Phân tích ảnh hưởng của văn chương khoa cử đến văn học phi-khoa cử; và 5) Nghiên cứu về mỹ học của văn chương khoa cử theo tiêu chí đương thời [tr 57]. Những hướng này không chỉ mang tính gợi mở mà còn được định hình dựa trên khoảng trống nghiên cứu cụ thể và tiềm năng tư liệu đã được luận án khai mở.

Kết luận

Luận án "Văn chƣơng khoa cử trong thi Hội, thi Đình triều Nguyễn" là một công trình học thuật nền tảng, đưa ra những đóng góp cụ thể và sâu sắc cho Hán Nôm họclịch sử văn học Việt Nam.

  1. Hệ thống hóa và định lượng tư liệu gốc: Lần đầu tiên, luận án đã sưu tầm, phiên dịchthống kê một cách có hệ thống trữ lượng văn bài thi Hội, Thi Đình triều Nguyễn, xác định 187 bài kinh nghĩa, 215 bài văn sách thi Hội, và 85 bài văn sách Đình đối cùng nhiều thể loại khác, cung cấp cơ sở dữ liệu vững chắc chưa từng có [tr 38].
  2. Làm rõ khái niệm và chức năng "Văn thể": Luận án đã mở rộng định nghĩa văn thể từ "thể tài" sang "ngữ thể," bao gồm "khí thế, phong cách" [tr 24], chứng minh rằng văn thể là cốt lõi để hiểu văn chương khoa cử như một công cụ đánh giá phẩm chất và năng lực của sĩ tử trong thể chế chuyên chế.
  3. Tái nhận chân bản chất văn chương khoa cử: Luận án khẳng định văn chương khoa cử là "văn chƣơng chính thống, chính đạo" [tr 10], có "tính hợp lý và giá trị tự thân" [tr 5], phá vỡ những định kiến hiện đại và đặt nó vào đúng vị trí trong bối cảnh lịch sử-văn hóa.
  4. Xác lập triều Nguyễn như trường hợp điển hình: Bằng việc chứng minh triều Nguyễntư liệu phong phú và đầy đủ nhất về tứ trường văn thể, luận án định vị khoa cử Nguyễn triều như một "nghiên cứu trƣờng hợp điển hình" [tr 23] cho khoa cử Việt Nam và khu vực.
  5. Phát triển phương pháp luận liên ngành: Nghiên cứu đã tích hợp văn bản học, ngữ văn học Hán Nôm, phương pháp thống kêso sánh để cung cấp một mô hình nghiên cứu rigorous và hiệu quả cho các công trình học thuật tương lai.
  6. Làm sáng tỏ diễn trình và tính bản địa hóa: Luận án chỉ ra sự kế thừa các thể chếvăn thể từ các triều đại trước và ảnh hưởng từ khoa cử Trung Quốc (ví dụ, áp dụng bát cổ chế nghĩa từ Minh Mệnh thứ 15 - 1834) nhưng đồng thời nhấn mạnh sự điều chỉnh và bản địa hóa của khoa cử triều Nguyễn [tr 44-45].

Công trình này không chỉ làm rõ một mảng lớn di sản văn hóa mà còn tạo ra một sự tiến bộ mô hình (paradigm advancement) trong Hán Nôm học bằng cách khuyến khích một cách tiếp cận đa chiều, khách quan và dựa trên dữ liệu gốc để nghiên cứu văn chương khoa cử.

Luận án đã mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới:

  1. Nghiên cứu mỹ học chuyên biệt của văn chương khoa cử, tìm kiếm "cái đẹp" và "tiêu chí thẩm mỹ" của nó trong bối cảnh đương thời, theo gợi mở của Trần Ngọc Vƣơng [180, tr 483].
  2. Nghiên cứu chi tiết về tư tưởng chính trịxã hội qua nội dung văn bài thi HộiThi Đình, đặc biệt là các "hiến kế" trong văn sách.
  3. Nghiên cứu so sánh sâu rộng về thể thứcthể chế khoa cử ở Việt Nam và các quốc gia đồng văn, xây dựng một khung lý thuyết tổng quát hơn về văn học chính thống trong thể chế chuyên chế Đông Á.

Với cơ sở dữ liệu vững chắc và khung phân tích tiên phong, luận án này có liên quan toàn cầu (global relevance) trong việc đóng góp vào hiểu biết về hệ thống giáo dục, tuyển dụng nhân tàilịch sử tư tưởng của các thể chế chuyên chế Nho giáo. Nó so sánh chặt chẽ các đặc điểm của khoa cử Nguyễn triều với các mô hình khoa cử Trung Quốc (Minh, Thanh) và chỉ ra sự khác biệt với khoa cử Triều Tiên, nơi không áp dụng chế nghĩa bát cổ văn [tr 45]. Di sản của luận án sẽ được đo lường qua sự gia tăng các nghiên cứu về văn chương khoa cử, các dự án số hóa di sản Hán Nôm, và sự thay đổi trong cách nhìn nhận của công chúng và giới học thuật về một mảng quan trọng của lịch sử văn hóa Việt Nam.