Luận án: Quan niệm Văn học là Vũ khí Cách mạng và Ảnh hưởng đến Thơ 1945-1985
Văn học vũ khí cách mạng, thơ Việt Nam 1945-1985: Phân tích sâu sắc vai trò, sức mạnh thi ca trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước.
Năm xuất bản
Số trang
209
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Quan niệm Văn học Cách mạng: Vũ khí Tư tưởng 1945-1985
- Số trang:
- 209 trang
- Trường:
- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Trần Thị Minh Giới
- Năm:
- 2011
Tóm tắt nội dung luận án
I. Quan niệm Văn học Cách mạng Vũ khí Tư tưởng 1945 1985
Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1985 giữ vai trò thiết yếu. Nó gắn chặt với đời sống chính trị quốc gia. Văn học phản ánh cuộc đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Văn học mang đậm tư tưởng chính trị, tư tưởng cách mạng. Thuộc tính chính trị của văn học được đề cao. Tính giai cấp, tính đảng, tính tư tưởng được xem là đặc trưng. Chúng là linh hồn của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Quan niệm này định hình chức năng xã hội của văn học. Văn học không chỉ là nghệ thuật. Nó là một công cụ mạnh mẽ. Nghiên cứu này khám phá quan niệm văn học là vũ khí cách mạng. Luận án phân tích ảnh hưởng của quan niệm này. Ảnh hưởng thể hiện rõ nét trong thơ Việt Nam từ 1945 đến 1985. Văn học thời kỳ này có nhiệm vụ lớn. Nó góp phần vào cuộc kháng chiến dân tộc. Nó xây dựng xã hội mới. Thơ ca, với sự nhạy bén, đã thể hiện rõ tinh thần đó. "Tiếng hát át tiếng bom" trở thành khẩu hiệu. Thơ không chỉ là tiếng hát. Thơ còn là lời hiệu triệu. Thơ là sự đả kích mạnh mẽ. Quan niệm văn học là vũ khí không tự nhiên xuất hiện. Nó có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc đòi hỏi. Văn học phải phục vụ mục tiêu chính trị. Lý luận Mác-xít về văn hóa nghệ thuật cũng đóng góp. Các tài liệu của Đảng Cộng sản Việt sản khẳng định. Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén. Vai trò của văn học được định rõ.
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm
Quan niệm văn học là vũ khí có nền tảng thực tiễn. Đất nước trải qua chiến tranh liên miên. Mục tiêu hàng đầu là giải phóng dân tộc. Văn học không thể đứng ngoài cuộc. Nó phải trực tiếp tham gia chiến đấu. Các nhà văn, nhà thơ là chiến sĩ. Tác phẩm của họ là "tiếng súng trên mặt trận văn hóa". Văn học đóng vai trò tuyên truyền cách mạng. Nó cổ vũ tinh thần chiến đấu. Nó củng cố niềm tin vào thắng lợi. Cơ sở lý luận cũng quan trọng. Chủ nghĩa Mác-Lênin cung cấp nền tảng. Nó nhấn mạnh tính giai cấp, tính đảng của văn học. Văn học phải phục vụ lợi ích giai cấp công nhân. Nó phục vụ sự nghiệp cách mạng.
1.2. Quan điểm Đảng và lãnh đạo
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán. Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Tác phẩm văn nghệ là vũ khí. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng đều khẳng định. Hồ Chí Minh coi văn học nghệ thuật là mặt trận. Trường Chinh nhấn mạnh văn học phục vụ chính trị. Phạm Văn Đồng gọi văn học là "vũ khí tư tưởng sắc bén". Những quan điểm này định hình đường lối văn nghệ. Chúng hướng dẫn sự phát triển của văn học cách mạng. Văn học phải là công cụ phục vụ cách mạng. Nó không đơn thuần là giải trí. Nó góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
II. Ảnh hưởng Văn học Cách mạng đến Thơ Việt 1945 1985
Quan niệm văn học là vũ khí ảnh hưởng sâu sắc. Nó định hình toàn bộ nền thơ Việt Nam. Thơ ca giai đoạn 1945-1985 vận động theo định hướng chiến đấu. Lực lượng sáng tác được tổ chức chặt chẽ. Họ là đội ngũ những người lính trên mặt trận văn hóa. Tính chiến đấu trở thành yêu cầu khách quan. Nó áp dụng cho văn học nói chung, thơ ca nói riêng. Văn học yêu nước được đề cao. Mục tiêu là cổ vũ kháng chiến. Mục tiêu là xây dựng đất nước. Phương pháp sáng tác cũng được xác định. Hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp tối ưu. Nó là kim chỉ nam cho văn học cách mạng. Thơ ca phản ánh hiện thực cách mạng. Nó tập trung vào cuộc sống chiến đấu. Nó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng. Nó khắc họa hình tượng người chiến sĩ. Hình tượng Tổ quốc thiêng liêng. Văn học không tách rời đời sống. Nó là tấm gương phản chiếu hiện thực. Thơ ca chiến đấu mang sứ mệnh lịch sử. Nó góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Sự ảnh hưởng này không chỉ dừng ở nội dung. Nó còn tác động đến hình thức. Cách thức thể hiện cảm xúc, tư duy cũng thay đổi. Thơ trở thành tiếng nói chung của cộng đồng. Cái "ta" lớn lao hơn cái "tôi" cá nhân. Đây là đặc trưng của thơ ca thời kỳ này. Văn học là công cụ giáo dục, động viên. Nó thúc đẩy ý chí quật cường của nhân dân.
2.1. Định hướng phát triển thơ
Thơ ca phát triển theo hướng phục vụ chiến đấu. Các nhà thơ là chiến sĩ. Họ cầm bút và cầm súng. Tác phẩm của họ cổ vũ tinh thần kháng chiến. Yêu cầu tính chiến đấu cao. Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được áp dụng. Nó yêu cầu phản ánh đúng hiện thực. Nó thể hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Thơ ca phải dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Nó phải truyền tải thông điệp cách mạng rõ ràng.
2.2. Hình tượng chung trong thơ
Thơ ca giai đoạn này xuất hiện nhiều hình tượng quen thuộc. Hình tượng Tổ quốc gắn với truyền thống chống ngoại xâm. Người chiến sĩ được khắc họa dũng cảm, quên mình. Kẻ thù bị vạch mặt, chỉ tên. Khát vọng đánh địch được thể hiện trực tiếp. Nhân dân anh hùng là chủ thể của lịch sử. Bác Hồ vĩ đại là biểu tượng. Người là hình ảnh của chiến đấu và hy sinh. Những hình tượng này mang tính biểu tượng cao. Chúng truyền cảm hứng mạnh mẽ.
III. Đặc điểm Thi pháp Thơ ca Cách mạng 1945 1985
Quan niệm văn học là vũ khí tác động đến tư duy nghệ thuật. Nó định hình thi pháp thơ ca cách mạng. Thơ ca giai đoạn 1945-1985 thể hiện rõ điều này. Yếu tố trào phúng và đả kích phát triển mạnh mẽ. Nó trở thành đặc trưng trong thơ trữ tình cách mạng. Từ trào lộng truyền thống, thơ chuyển sang đả kích chính trị. Nội dung văn chương không còn thuần túy nhân văn. Nó phục vụ các mục tiêu xã hội, chính trị cụ thể. Tư duy thơ cũng có sự thay đổi. Nó thiên về lý trí, yếu tố duy lý nổi bật. Cảm xúc cá nhân bị lấn át. Tình cảm cộng đồng, cái "ta" được đề cao. Hiện thực lịch sử chiếm vị trí trung tâm. Hiện thực tâm trạng, trữ tình bị đẩy lùi. Tự sự trở nên phổ biến hơn trữ tình. Điều này phản ánh yêu cầu của thời đại. Văn học phải trực tiếp, rõ ràng. Nó phải mang tính giáo dục, định hướng. Thơ ca không chỉ là tiếng lòng. Nó là tiếng nói của cả dân tộc. Nó là công cụ hiệu quả cho tuyên truyền. Đây là đặc điểm nổi bật của thơ ca chiến đấu. Nó khác biệt so với các giai đoạn khác. Thơ không chỉ đẹp về ngôn từ. Nó còn mạnh mẽ về tư tưởng.
3.1. Yếu tố trào phúng đả kích
Thơ cách mạng kế thừa yếu tố trào phúng truyền thống. Tuy nhiên, mục đích thay đổi rõ rệt. Từ trào lộng mang tính đạo đức, thơ chuyển sang đả kích chính trị. Nó nhắm vào kẻ thù, vào các thế lực phản động. Yếu tố đả kích trở nên sắc bén, trực diện. Thơ không chỉ gây cười hay phê phán nhẹ nhàng. Nó còn thức tỉnh ý thức giai cấp, ý thức dân tộc. Nó cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu. Sự chuyển hướng này phù hợp với chức năng văn học là vũ khí cách mạng.
3.2. Tư duy duy lý trong thơ
Tư duy thơ thời kỳ này thiên về lý trí. Yếu tố duy lý nổi bật. Cảm xúc và lý trí hòa quyện. Tuy nhiên, lý trí thường chi phối. Tình cảm cộng đồng lấn át tình cảm cá nhân. Cái "ta" đại diện cho dân tộc. Nó vượt lên trên cái "tôi" riêng tư. Hiện thực lịch sử được ưu tiên phản ánh. Hiện thực tâm trạng cá nhân bị giảm bớt. Thơ mang tính tự sự cao. Nó kể về sự kiện, con người cụ thể.
IV. Ngôn ngữ Thơ ca Chiến đấu và Tuyên truyền Cách mạng
Ngôn ngữ thơ ca giai đoạn 1945-1985 mang tính đặc trưng. Nó phản ánh rõ chức năng vũ khí cách mạng. Ngôn ngữ thơ giàu tính chính luận. Nó trực tiếp truyền tải thông điệp chính trị. Nó không ngại các thuật ngữ, khái niệm. Nó phục vụ mục tiêu tuyên truyền cách mạng. Lời thơ thường là lời kêu gọi. Nó là lời đối thoại với nhân dân. Nó khơi dậy lòng yêu nước. Nó thúc đẩy tinh thần chiến đấu. Thơ ca thời kỳ này ưu tiên sự rõ ràng, dễ hiểu. Nó tránh sự phức tạp, trừu tượng. Mục đích là để mọi tầng lớp nhân dân đều tiếp nhận được. Văn học không dành riêng cho giới trí thức. Nó hướng đến đại chúng. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Nó vẫn giữ được sức mạnh biểu cảm. Nó tạo ra sự đồng cảm sâu sắc. Cái "ta" lớn lao của cộng đồng thể hiện qua ngôn ngữ. Tình cảm cá nhân được hòa vào tình cảm chung. Hiện thực lịch sử được tái hiện sống động. Nó vượt qua sự miêu tả tâm trạng cá nhân. Văn học yêu nước được lan tỏa. Nó giáo dục tinh thần dân tộc. Ngôn ngữ thơ trở thành cầu nối. Nó nối liền Đảng với quần chúng. Nó nối liền quá khứ với hiện tại.
4.1. Tính chính luận kêu gọi
Ngôn ngữ thơ ca giàu tính chính luận. Nó trực tiếp truyền đạt tư tưởng cách mạng. Thơ mang tính kêu gọi, hiệu triệu cao. Nó sử dụng từ ngữ mạnh mẽ, dứt khoát. Nó thúc giục hành động. Lời thơ giống như khẩu hiệu. Nó có sức lan tỏa rộng rãi. Nó tác động mạnh mẽ đến ý chí. Nó tạo sự đồng lòng trong toàn dân.
4.2. Cảm xúc cộng đồng hiện thực lịch sử
Ngôn ngữ thơ biểu đạt cảm xúc cộng đồng. Nó lấn át cảm xúc cá nhân. Cái "ta" chung của dân tộc được ưu tiên. Ngôn ngữ miêu tả hiện thực lịch sử. Nó phản ánh các sự kiện lớn. Nó khắc họa con người cách mạng. Nó ít đi sâu vào nội tâm phức tạp. Thơ chú trọng sự khách quan, hùng tráng. Nó hướng đến mục đích lớn lao. Nó phục vụ yêu cầu của lịch sử.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (209 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------------------ TRẦN THỊ MINH GIỚI QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ CÁCH MẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI THƠ 1945-1985 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội – 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------------------ TRẦN THỊ MINH GIỚI QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ CÁCH MẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI THƠ 1945-1985 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 62 22 34 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN BÁ THÀNH Hà Nội – 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iii MỤC LỤC MỞ ĐẦU. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.
QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1985. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LÀ VŨ KHÍ. Cơ sở thực tiễn. QUAN ĐIỂM VĂN HÓA NGHỆ THUẬT LÀ MỘT MẶT TRẬN, TÁC PHẨM VĂN NGHỆ LÀ VŨ KHÍ TRONG CÁC TÀI LIỆU, VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG.
Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948). Thƣ của Ban Chấp hành T. Đảng gửi các kì Đại hội Văn nghệ. Ý KIẾN CỦA CÁC VỊ LÃNH ĐẠO VÀ CÁC NHÀ LÝ LUẬN VĂN NGHỆ KHẲNG ĐỊNH TÍNH CHẤT VŨ KHÍ CỦA VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT.
Quan niệm VH-NT là một mặt trận của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan niệm VH-NT phục vụ chính trị của Trƣờng Chinh. Phạm Văn Đồng với quan niệm “VH-NT là một thứ vũ khí tƣ tƣởng rất sắc bén”. Ý kiến của một số nhà lí luận mĩ học Mác-xít.
Từ quan niệm văn hóa văn nghệ là mặt trận, là vũ khí đến quan niệm vũ khí thơ. 84 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iv Chƣơng 2. ẢNH HƢỞNG CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CẢ NỀN THƠ VÀ HÌNH TƢỢNG THƠ. NỀN THƠ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN ĐẤU.
Lực lƣợng sáng tác đƣợc tổ chức thành một đội ngũ. Tính chiến đấu là một yêu cầu khách quan đối với văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Phƣơng pháp sáng tác Hiện thực xã hội chủ nghĩa là phƣơng pháp sáng tác tối ƣu của văn học cách mạng. Hiện thực cách mạng là nội dung phản ánh của thơ.
NHỮNG HÌNH TƢỢNG CHUNG CỦA CẢ NỀN THƠ. Hình tƣợng Tổ quốc thiên về truyền thống chống ngoại xâm. Ngƣời chiến sĩ quân đội dũng cảm và quên mình. Bộ mặt kẻ thù.
Khát vọng đánh địch trực tiếp thể hiện qua các bài thơ. Hình tƣợng nhân dân anh hùng. Hình tƣợng Bác Hồ vĩ đại từ góc độ chiến đấu và đức hi sinh. ẢNH HƢỞNG CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ ĐẾN TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ NGÔN NGỮ THƠ.
SỰ PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ CỦA YẾU TỐ TRÀO PHÚNG VÀ ĐẢ KÍCH TRONG THƠ TRỮ TÌNH CÁCH MẠNG. Yếu tố trào phúng và đả kích trong thơ truyền thống. Từ trào lộng sang đả kích, từ đạo đức nhân văn, văn chƣơng chuyển hƣớng sang chính trị, xã hội. TƢ DUY THƠ THIÊN VỀ LÍ TRÍ HAY LÀ YẾU TỐ DUY LÍ TRONG THƠ CÁCH MẠNG.
Cảm xúc và lí trí trong tƣ duy thơ. Yếu tố duy lí trong thơ cách mạng. Tình cảm cộng đồng lấn át tình cảm cá nhân, cái ta lấn át cái tôi. Hiện thực lịch sử lấn át hiện thực tâm trạng, tự sự lấn át trữ tình.
NGÔN NGỮ THƠ. 207 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngôn ngữ thơ giàu tính chính luận. Kêu gọi và đối thoại trong thơ.
222 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ. 225 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 226 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. ĐCS : Đảng Cộng sản 2.
BCH TW : Ban chấp hành Trung ƣơng 3. HTXHCN : Hiện thực Xã hội chủ nghĩa 4. HNV : Hội Nhà văn 5. HNVVN : Hội Nhà văn Việt Nam 6.
KHXH : Khoa học Xã hội 7. KHXH và NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn 8. LATS : Luận án Tiến sĩ 9. Nxb : Nhà xuất bản 10.TCVH : Tạp chí Văn học 11.TCNCVH : Tạp chí Nghiên cứu văn học 12.
TDNT : Tƣ duy nghệ thuật 13. VHNT : Văn học nghệ thuật 14. VNQĐ : Văn nghệ Quân đội 15. XHCN : Xã hội chủ nghĩa 16.
[9] : Tài liệu số 9 ở mục Tài liệu tham khảo 17.17] : Tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo, trang 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1985 là một nền văn học gắn liền với đời sống chính trị của dân tộc, phản ánh cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một nền văn học mang đậm tư tưởng chính trị, tư tưởng cách mạng. Những thuộc tính của văn học về phương diện chính trị, từ góc độ đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, đã được đẩy lên hàng đầu.
Trong đó, tính giai cấp, tính đảng, tính tư tưởng được coi là đặc trưng, là linh hồn của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Với quan niệm như vậy, các tác giả của nền văn học cách mạng giai đoạn 1945 – 1985 (nói rộng hơn là từ 1930 đến 1985) đã sáng tác những tác phẩm văn học mang nặng tính chiến đấu. Trong đó, thơ ca – một lĩnh vực nghệ thuật được xem là nhạy bén và tinh tế nhất – cũng đã thể hiện rõ tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”. Thậm chí, để át được tiếng bom, thơ ca nhiều khi cũng đã phải hét vang lên một cách khác thường để đem lại tinh thần và ý chí cho mọi người trong cuộc chiến đấu ác liệt chống kẻ thù.
Bởi vậy, nghiên cứu thơ ca giai đoạn này, chúng ta không thể không đề cập đến tính vũ khí như một yêu cầu khách quan của cách mạng đối với thơ. Từ khi bước vào thời kì Đổi mới (1986), đặc biệt là từ những năm 1990 trở đi, xã hội Việt Nam vận động biến đổi theo cơ chế thị trường, văn học nghệ thuật cũng vận động và biến đổi theo. Nền văn học trong thời kì mới được “cởi trói”, thoát khỏi những quan niệm cứng nhắc của giai đoạn trước. Vì vậy, một số khái niệm, thuật ngữ của văn học giai đoạn trước đã đi vào quá khứ một cách lặng lẽ.
Tính giai cấp, tính đảng, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học phản ánh hiện thực, văn học bắt nguồn từ lao động. là những vấn đề mà ngày nay dường như đã trở nên lỗi thời, không còn tính thời sự. Tuy nhiên, những vấn đề có tính lịch sử, tính căn bản, có thể coi là xương sống của lí luận văn học giai đoạn trước (1945 – 1985) vẫn còn sức mạnh chi phối đến văn học trong thời đại ngày nay. Quan niệm văn học là vũ khí cũng là một trong 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những vấn đề như thế.
Bằng chứng là trong những năm gần đây, các Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản về văn hóa văn nghệ vẫn tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của văn học nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng mới. Ngày 16-6- 2008, Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng đã ban hành Nghị quyết về việc “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kì mới”, trong đó, Nghị quyết vẫn coi “nhà văn-chiến sĩ” là một danh hiệu cao quý [8]. Nghiên cứu thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 – 1985 không thể không nghiên cứu những vấn đề về thi pháp học như quan niệm con người, thời gian, không gian nghệ thuật, giọng điệu. Nhưng tất cả những vấn đề có tính thi pháp ấy dường như bị chi phối bởi quan niệm thơ.
Quan niệm thơ ca là vũ khí là một quan niệm có sức mạnh chi phối lớn lao đối với nhà thơ và nền thơ trong những năm chiến tranh. Quan niệm ấy đã đẩy thơ đến địa hạt của hoạt động chính trị, coi việc làm thơ cũng là làm chính trị. “Làm thơ là làm cách mạng bằng thơ”. Vào năm 1995, nghĩa là sau khi công cuộc Đổi mới đã tiến hành được gần chục năm, một nhà thơ đầu đàn của văn học cách mạng vẫn phát biểu và nhấn mạnh yếu tố cách mạng, yếu tố chính trị trong thơ ca như thế.
Khi làm thơ đã là một hành động có tính chính trị thì những lợi ích chính trị của cộng đồng, của tập đoàn phải được đặt lên hàng đầu. Có điều, tập đoàn ở đây, cộng đồng ở đây không còn là “phe nhóm” mà là dân tộc, nhân dân thậm chí là nhân loại trong cái nghĩa đầy đủ, nghĩa rộng nhất của các từ này. Khi cả cộng đồng đã chấp nhận thì có nghĩa là quan niệm thơ là vũ khí thời bấy giờ là một chân lí. Đã là chân lí thì khó ai có thể phủ nhận được.
Lí luận văn nghệ mác-xít cho rằng, văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc, nó phản ánh ý thức xã hội của các giai cấp khác nhau. Mà tiến trình vận động của xã hội loài người được nhìn từ góc độ đấu tranh giai cấp. “Lịch sử của xã hội loài người từ khi có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp” – C. Mác đã phát hiện ra chân lí ấy.
Văn học là một thứ công cụ đấu tranh giai cấp. Và vì vậy, khi văn học nhằm vào một chính thể, một lực lượng chính trị để lật đổ, để tiêu diệt thì rõ ràng, văn học mang tính vũ khí. Bởi vậy, những bài thơ dân gian, những bài ca dao hò vè của “giai cấp bị trị” từ xa 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xưa đã mang tính vũ khí, đã được sử dụng để tấn công kẻ thù giai cấp. Vậy thì, tính chất vũ khí của văn học không phải đến thời hiện đại mới có mà nó có từ xa xưa.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị Minh Giới (2011). Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-van-hoc-la-vu-khi-cach-mang-tho-1945-1985
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" nghiên cứu về vấn đề gì?
Văn học vũ khí cách mạng, thơ Việt Nam 1945-1985: Phân tích sâu sắc vai trò, sức mạnh thi ca trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước.
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2011.
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" có bao nhiêu trang?
Luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" có 209 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Văn học là vũ khí cách mạng và thơ Việt Nam 1945-1985" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.