Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 - Nguyễn Hữu Công (ĐH Khoa học Huế)

Phân tích tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985, đặc điểm và xu hướng phát triển trong giai đoạn chuyển đổi lịch sử.

Trường ĐH

Đại học Khoa học Huế

Chuyên ngành
Ngữ văn
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

157

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Khái quát tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985
Số trang:
157 trang
Trường:
Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành:
Ngữ văn
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Khái quát tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975 1985

Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của nền văn học dân tộc. Đất nước thống nhất tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ thay đổi hệ hình sáng tác. Tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này vận động từ tư duy sử thi sang tư duy thế sự. Thơ Việt Nam 1975 - 1985 phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người sau chiến tranh. Các nhà thơ không chỉ nhìn cuộc đời bằng đôi cánh lãng mạn mà bắt đầu quan sát những góc khuất đời thường. Nhu cầu cách tân trở thành đòi hỏi bức thiết của cả đời sống thi ca. Giai đoạn này chính là thời kỳ quá độ chuẩn bị cho công cuộc Đổi mới toàn diện năm 1986. Luận án tiến sĩ đã phân tích sâu sắc các quy luật vận động nội tại của thi ca trong bối cảnh lịch sử xã hội nhiều biến động. Thơ ca tìm lại sự cân bằng giữa nghĩa vụ công dân và nhu cầu biểu đạt cá nhân.

1.1. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca tiền Đổi mới

Năm 1975 kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Đất nước bước vào thời kỳ xây dựng hòa bình với nhiều thử thách to lớn. Hiện thực kinh tế xã hội thời kỳ hậu chiến nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Những áp lực đời sống đặt ra yêu cầu mới cho văn học nghệ thuật. Thơ ca không thể duy trì mãi mô hình ngợi ca một chiều. Thơ tiền Đổi mới xuất hiện như một quy luật tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tự nhận thức của xã hội. Các văn nghệ sĩ nhận thấy giới hạn của khuynh hướng sử thi thuần túy. Nhu cầu đổi mới ngôn ngữ, thi pháp và hệ thống biểu tượng trở nên cấp thiết. Thơ bắt đầu đi sâu vào những trăn trở của cuộc sống thường nhật. Bước chuyển này tạo nền móng vững chắc cho sự bùng nổ của thơ ca giai đoạn sau 1986.

1.2. Lực lượng sáng tạo và diện mạo của thơ thời kỳ hậu chiến

Lực lượng sáng tạo trong thơ thời kỳ hậu chiến có sự đan xen phong phú giữa các thế hệ. Các nhà thơ chống Pháp và chống Mỹ tiếp tục khẳng định vị thế nhưng đã có sự chuyển biến về tư tưởng nghệ thuật. Họ viết về chiến tranh bằng cái nhìn chiêm nghiệm, trầm tĩnh hơn. Đồng thời, một thế hệ tác giả trẻ xuất hiện với tư duy thẩm mỹ mới mẻ và nhạy bén. Đội ngũ sáng tác mang đến cái nhìn đa chiều về số phận con người trong hòa bình. Sự đồng hành của các thế hệ tạo nên diện mạo thi ca phong phú, đa thanh. Thơ ca thoát khỏi tính đơn điệu để dung nạp nhiều phong cách cá nhân độc đáo. Cuộc vận động này phản ánh sức sống nội sinh mạnh mẽ của nền thơ ca dân tộc trong thời kỳ chuyển giao lịch sử.

II. Tư duy nghệ thuật thơ Đổi mới quan niệm về con người

Sự thay đổi cốt lõi của thi ca giai đoạn 1975-1985 nằm ở quan niệm nghệ thuật về con người. Văn học thời chiến chủ yếu tôn vinh con người sử thi với lý tưởng cộng đồng và phẩm chất anh hùng tuyệt đối. Bước sang thời bình, thơ chuyển hướng khám phá con người cá thể với chiều sâu tâm lý phức tạp. Con người trong thơ không còn là những tượng đài bất biến. Họ trở về với đời thường cùng những lo toan, vất vả và khát khao hạnh phúc riêng tư. Tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này chú trọng đào sâu vào thế giới nội tâm bí ẩn. Thơ ca nhìn nhận con người trong tính toàn vẹn của cả ưu điểm lẫn khiếm khuyết. Sự thay đổi quan niệm này thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc và sự trưởng thành của nền văn học hiện đại.

2.1. Chuyển biến từ con người sử thi sang cá nhân đời thường

Thơ ca giai đoạn trước 1975 đặt con người trong tương quan với cộng đồng và vận mệnh dân tộc. Sau năm 1975, con người được đưa trở lại không gian sinh hoạt đời thường. Quan niệm nghệ thuật về con người có sự chuyển trục căn bản. Nhân vật trữ tình không còn mang vóc dáng thần thánh mà hiện lên bình dị, chân thật. Thơ ghi lại những khoảnh khắc mệt mỏi, những nỗi buồn thầm kín và sự cô đơn của con người thời bình. Hình ảnh người lính trở về đời thường đối diện với bài toán mưu sinh xuất hiện nhiều hơn. Sự hạ bệ tính chất huyền thoại giúp thi ca chạm gần hơn đến sự thật đời sống. Đây là một bước tiến quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa văn học.

2.2. Sự trỗi dậy của chủ thể trữ tình trong thơ đa diện

Chủ thể trữ tình trong thơ giai đoạn 1975-1985 chuyển từ vị thế người phát ngôn cộng đồng sang cái tôi cá nhân tự ý thức. Cái tôi này không còn đồng nhất tuyệt đối với cái ta chung. Thơ xuất hiện những giọng điệu tự bạch, phân thân và tự vấn sâu sắc. Cái tôi trữ tình dám bộc lộ những bất an, giằng xé nội tâm trước sự biến thiên của cuộc sống. Người viết không ngần ngại thừa nhận sự yếu đuối và những giới hạn của bản thân. Tính chất đa diện của cái tôi trữ tình làm cho tác phẩm thơ trở nên giàu tính đối thoại. Thơ mở rộng biên độ cảm xúc và khai thác những tầng sâu chưa từng được biết đến trong tâm linh con người.

2.3. Băn khoăn thân phận và triết lý nhân sinh thời bình

Những biến động sau chiến tranh thúc đẩy thơ ca đi tìm ý nghĩa tồn tại của kiếp người. Các tác giả không thỏa mãn với những câu trả lời giản đơn mang tính tuyên truyền. Thơ thời kỳ này ngập tràn những suy tư triết học về thời gian, hư vô và lẽ sống. Nỗi trăn trở về thân phận con người trước số phận và quy luật nghiệt ngã của đời sống trở thành nguồn cảm hứng lớn. Thơ mang đậm chất suy tưởng và trầm tĩnh. Con người tự đặt câu hỏi về trách nhiệm, sự trả giá và giá trị của hòa bình. Chiều sâu triết lý này mang lại cho thơ ca một phẩm chất nghệ thuật mới mẻ, vượt qua giới hạn của cảm xúc bề nổi.

III. Hệ đề tài và cảm hứng thế sự đời tư trong thơ 1975 1985

Hệ đề tài trong thơ Việt Nam 1975 - 1985 có sự mở rộng và dịch chuyển rõ rệt. Đề tài chiến tranh vẫn giữ vị trí then chốt nhưng được soi chiếu từ điểm nhìn mới. Bên cạnh đó, cảm hứng thế sự đời tư dần vươn lên chiếm lĩnh vị trí trung tâm của thi ca. Thơ không né tránh những mặt trái của xã hội và những bi kịch cá nhân. Sự hòa quyện giữa cảm xúc công dân và tâm sự riêng tư tạo nên những thi phẩm có sức lay động lớn. Luận án chỉ ra rằng cảm hứng thẩm mỹ của giai đoạn này đã thay thế cảm hứng hào sảng bằng cảm hứng ân nghĩa, xót thương và hòa hợp. Thơ trở thành cầu nối hàn gắn những vết thương chiến tranh và khơi dậy khát vọng sống chân chính.

3.1. Nhận thức lại chiến tranh qua cảm hứng ngợi ca và ân nghĩa

Chiến tranh không còn được nhìn nhận thuần túy qua lăng kính chiến thắng huy hoàng. Các nhà thơ tập trung khắc họa nỗi đau mất mát và sự hy sinh thầm lặng của nhân dân. Thay vì cảm hứng sử thi và lãng mạn thuần túy, thơ thấm đẫm cảm hứng tri ân và nghĩa tình đồng đội. Ký ức chiến tranh trở thành thước đo đạo đức trong cuộc sống hòa bình. Thơ nhìn lại quá khứ để nhắc nhở con người không được lãng quên những người đã ngã xuống. Cảm hứng ân nghĩa giúp gắn kết quá khứ với hiện tại, tạo nên chiều sâu nhân bản sâu sắc. Sự nhận thức lại này làm cho đề tài chiến tranh mang giá trị cảnh tỉnh và nhân văn bền vững.

3.2. Cảm hứng thế sự đời tư và khát vọng hòa hợp dân tộc

Cảm hứng thế sự đời tư phản ánh những mối quan tâm bức thiết về cơm áo gạo tiền và đạo đức xã hội. Thơ ghi lại tiếng thở dài của người lao động trước những khó khăn thời bao cấp. Đồng thời, tinh thần hòa hợp dân tộc trở thành một khát vọng lớn lao trong thơ hậu chiến. Thơ ca kêu gọi sự cảm thông, xóa bỏ định kiến và hàn gắn chia rẽ sau nhiều năm xung đột. Tinh thần nhân văn bao dung mở đường cho những cảm xúc chân thành, không vụ lợi. Những vần thơ thế sự giúp người đọc thấu hiểu hơn về tính phức tạp của đời sống thực tại.

3.3. Đề tài tình yêu với cảm thức giao hòa và dâng hiến

Đề tài tình yêu trong giai đoạn 1975-1985 có bước chuyển biến vô cùng mạnh mẽ. Tình yêu không còn bị đồng hóa hay phụ thuộc hoàn toàn vào tình yêu Tổ quốc. Tình yêu trở về đúng bản chất là nhu cầu tự nhiên và thiêng liêng của con người cá nhân. Thơ tình thời kỳ này thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc chân thực: say đắm, hờn ghen, lo âu và khát vọng hiến dâng. Sự xuất hiện của những nhà thơ nữ tài năng mang đến cái nhìn tinh tế về thế giới tình cảm. Tình yêu được nhìn nhận như một phương thức cứu rỗi tâm hồn con người trước những bão giông của đời sống xã hội.

IV. Thi pháp thơ hiện đại trong thơ Việt Nam giai đoạn mới

Sự đổi mới về nội dung kéo theo sự chuyển hóa sâu sắc về thi pháp thơ hiện đại. Cấu trúc hình tượng thơ không còn đóng khung trong các biểu tượng ước lệ cổ điển hay biểu tượng sử thi kỳ vĩ. Hình tượng thơ trở nên gần gũi, đời thường và giàu tính biểu cảm nội tâm. Các phương thức biểu đạt nghệ thuật được mở rộng tối đa nhằm truyền tải những rung động tinh vi nhất. Luận án phân tích chi tiết sự biến đổi của điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu cũng như không gian và thời gian nghệ thuật. Những cách tân hình thức này đã giải phóng thơ khỏi sự gò bó của quy phạm truyền thống, mở đường cho những cuộc thể nghiệm táo bạo của văn học thời kỳ Đổi mới.

4.1. Chuyển dịch điểm nhìn từ sử thi sang hướng nội đời thường

Điểm nhìn nghệ thuật trong thơ có sự dịch chuyển rõ nét từ hướng ngoại sang hướng nội. Điểm nhìn sử thi đứng từ tầm cao lịch sử dần nhường chỗ cho điểm nhìn đời thường bình dị. Nhà thơ nhìn cuộc sống từ góc nhìn cận cảnh, soi chiếu từng chi tiết nhỏ nhặt của đời sống. Điểm nhìn hướng nội cho phép tác giả thâm nhập vào những ngõ ngách sâu kín của tâm lý con người. Sự thay đổi điểm nhìn kéo theo sự thay đổi của khoảng cách thẩm mỹ. Người đọc cảm thấy gần gũi và dễ dàng đồng cảm với nhân vật trữ tình hơn. Đây là tiền đề quan trọng để hiện đại hóa cấu trúc thơ Việt Nam.

4.2. Giọng điệu triết lý tự vấn và ngôn ngữ thơ tự bạch

Giọng điệu hùng ca và ngợi ca sôi nổi thời chiến nhường chỗ cho giọng điệu trầm lắng, tự vấn và triết lý. Ngôn ngữ thơ chuyển từ ngôn ngữ mang tính nghi lễ sang ngôn ngữ đời thường, tự bạch và đối thoại. Thơ tiếp nhận lời ăn tiếng nói bình dân của đời sống hàng ngày một cách tự nhiên. Những câu hỏi tu từ và những lời tự vấn xuất hiện với tần suất dày đặc. Giọng điệu suy tư tạo nên không gian chiêm nghiệm sâu sắc cho người đọc. Ngôn ngữ thơ trở nên cô đọng, giàu sức gợi và đa tầng ngữ nghĩa, phản ánh tư duy nghệ thuật hiện đại.

4.3. Sự mở rộng của không gian và thời gian nghệ thuật

Không gian trong thơ không còn giới hạn ở chiến trường hay các công trường kỳ vĩ. Không gian nghệ thuật mở rộng ra căn phòng nhỏ, góc phố, con đường và không gian tâm tưởng riêng tư. Thời gian nghệ thuật không chỉ là thời gian lịch sử một chiều mà là thời gian tâm lý đa chiều kích. Hiện tại, quá khứ và tương lai đan cài linh hoạt trong dòng chảy ý thức của nhân vật trữ tình. Ký ức quá khứ dội về soi sáng hiện tại và tạo ra những dự cảm tương lai. Cấu trúc không thời gian mở này mang lại tính hiện đại và chiều sâu thẩm mỹ độc đáo cho thi ca.

V. Giá trị lịch sử của thơ Việt Nam 1975 1985 cho Đổi mới

Giai đoạn 1975-1985 giữ vai trò bản lề quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại. Những tìm tòi và thể nghiệm trong giai đoạn này đã phá vỡ thế độc tôn của mỹ học thời chiến. Thơ Việt Nam 1975 - 1985 chuẩn bị toàn diện cả về tư tưởng nghệ thuật lẫn kỹ thuật biểu đạt cho bước nhảy vọt sau năm 1986. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Công đã hệ thống hóa và khẳng định vị thế xứng đáng của giai đoạn thơ này. Công trình cung cấp cái nhìn khoa học, toàn diện về một chặng đường văn học nhiều biến động. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu và người yêu thơ hiện đại.

5.1. Bước đệm tiền Đổi mới định hình diện mạo thơ hiện đại

Không có sự chuẩn bị âm thầm của thơ tiền Đổi mới, văn học sau 1986 khó có thể chuyển mình ngoạn mục. Giai đoạn 1975-1985 đã dũng cảm khai mở những đề tài mới và giải phóng cái tôi cá nhân. Những cuộc tranh luận học thuật và sự thay đổi trong quan niệm sáng tác thời kỳ này tạo tiền đề dân chủ hóa thi ca. Nhiều tác giả xuất sắc đã khẳng định phong cách độc đáo với các tác phẩm có giá trị vượt thời gian. Sự chuyển đổi hệ hình thi pháp đặt nền móng vững chắc cho sự hòa nhập của thơ Việt Nam với dòng chảy văn học hiện đại thế giới.

5.2. Đóng góp học thuật của luận án tiến sĩ văn học

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Công đã khảo sát công phu hệ thống văn bản thơ thời kỳ 1975-1985. Công trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành hiện đại để phân tích cấu trúc tác phẩm và diễn trình lịch sử. Tác giả chỉ ra quy luật vận động nội tại của tư duy nghệ thuật thơ trong mối quan hệ với đời sống xã hội. Kết quả nghiên cứu giúp khắc phục những đánh giá phiến diện trước đây về một giai đoạn thơ chuyển tiếp. Luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại.

Mục lục chi tiết luận án

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đóng góp của luận án
Cấu trúc luận án
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985
1.1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985
1.1.1. Những nghiên cứu chung
1.1.2. Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm
1.2. Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài
1.2.1. Nhận xét tình hình nghiên cứu
1.2.2. Hướng triển khai đề tài
2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985
2.1. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ
2.1.1. Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật
2.1.2. Tư duy nghệ thuật thơ
2.2. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca
2.2.1. Khái lược về bối cảnh lịch sử
2.2.2. Nhu cầu đổi mới thơ ca
2.3. Diện mạo thơ nhìn từ lực lượng sáng tạo và các bước ngoặt thơ
2.3.1. Nhìn từ lực lượng sáng tạo đồng hành
2.3.2. Nhìn từ các bước ngoặt chuyển mình
3. CHƯƠNG 3: TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ HỆ ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG THẨM MỸ
3.1. Đề tài chiến tranh với cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa
3.1.1. Nhận thức lại cuộc sống và con người thời chiến
3.1.2. Cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa
3.2. Đề tài hậu chiến với cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng
3.2.1. Nhận thức mới cuộc sống và nhân sinh thời bình
3.2.2. Cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng
3.3. Đề tài tình yêu với cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến
3.3.1. Nhận thức đa chiều về tình yêu và lẽ sống
3.3.2. Cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến
4. CHƯƠNG 4: TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
4.1. Điểm nhìn nghệ thuật
4.1.1. Điểm nhìn sử thi - hướng ngoại
4.1.2. Điểm nhìn đời thường - hướng nội
4.2. Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
4.2.1. Ngôn ngữ ngợi ca và ngôn ngữ tự bạch, đời thường
4.2.2. Giọng điệu lạc quan và giọng điệu triết lý, tự vấn
4.3. Không gian và thời gian nghệ thuật
4.3.1. Sự đa dạng thức về không gian nghệ thuật
4.3.2. Sự đa chiều kích về thời gian nghệ thuật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (157 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ NGUYỄN HỮU CÔNG TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Huế - 2023 i ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ NGUYỄN HỮU CÔNG TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 9.21 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ Thế Hà Huế - 2023 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, những nhận định, kết luận trong luận án đều trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Hữu Công i LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận án, bản thân tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình về mọi mặt từ quý thầy cô, cơ quan, gia đình và bạn bè thân thiết. Qua đây, chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến: - Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Huế, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Tổ Văn học Việt Nam.

- Quý thầy, cô giáo trong và ngoài trường đã giảng dạy và hỗ trợ chúng tôi về tri thức trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. - Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hồ Thế Hà - người thầy tận tụy hướng dẫn, trang bị cho tôi những tri thức và kinh nghiệm quý báu để hoàn thành luận án. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn quan tâm, đồng hành và động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành chương trình học tập. Tác giả Nguyễn Hữu Công i MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC MỞ ĐẦU.

Lý do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án.

Cấu trúc luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985. Những nghiên cứu chung.

Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm. Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài. Nhận xét tình hình nghiên cứu. Hướng triển khai đề tài.

VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ. Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật thơ.

Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca. Khái lược về bối cảnh lịch sử. Nhu cầu đổi mới thơ ca. Diện mạo thơ nhìn từ lực lượng sáng tạo và các bước ngoặt thơ.

Nhìn từ lực lượng sáng tạo đồng hành. Nhìn từ các bước ngoặt chuyển mình. TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ HỆ ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG THẨM MỸ. Đề tài chiến tranh với cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa.

Nhận thức lại cuộc sống và con người thời chiến. Cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa. Đề tài hậu chiến với cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng. Nhận thức mới cuộc sống và nhân sinh thời bình.

Cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng. Đề tài tình yêu với cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến. Nhận thức đa chiều về tình yêu và lẽ sống. Cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến.

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN. Điểm nhìn nghệ thuật. Điểm nhìn sử thi - hướng ngoại. Điểm nhìn đời thường - hướng nội.

Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật. Ngôn ngữ ngợi ca và ngôn ngữ tự bạch, đời thường. Giọng điệu lạc quan và giọng điệu triết lý, tự vấn. Không gian và thời gian nghệ thuật.

Sự đa dạng thức về không gian nghệ thuật. Sự đa chiều kích về thời gian nghệ thuật. 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 143 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ i 1 MỞ ĐẦU 1.

Lý do chọn đề tài 1. Thơ Việt Nam hậu chiến 1975-1985 được xem là giai đoạn bản lề từ thời chiến sang thời bình, từ khuynh hướng sử thi - dân tộc sang khuynh hướng đời tư - thế sự; từ giọng cao sang giọng trầm; từ ngợi ca đất nước với cảm hứng chính là lãng mạn, hào hùng sang ngợi ca cuộc sống mới với cảm hứng đạo đức, nhân văn mới. Xuất phát từ tư duy đổi mới văn học nghệ thuật, thơ có sự vận động cân bằng trở lại trong các mối quan hệ của đời sống. Nếu trước đây, thơ thường hướng về con người xã hội, con người chính trị - kết tinh cái tôi trữ tình công dân thì bây giờ, thơ ưu tiên thể hiện con người cá thể mang cảm quan đời tư - thế sự với cái tôi trữ tình đa diện, nhiều bất an, giằng xé, thiên về hướng nội.

Thơ không né tránh những vấn đề cá nhân, những băn khoăn về thân phận con người mà lắng lại với những suy tư mang tính triết lý, chiêm nghiệm của đời thường hậu chiến. Thơ vì thế, mang cái nhìn so sánh với quá khứ và dự cảm cho tương lai trên nền hiện thực và sự vận động mới của xã hội. Thơ giai đoạn này đã kịp để lại những giá trị riêng với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu, có sức sống và hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ theo tư duy nghệ thuật riêng, làm tiền đề cho thơ giai đoạn từ Đổi mới (1986) trở về sau tiếp biến, vận động và phát triển. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chung và riêng đề cập đến nội dung và hình thức thơ giai đoạn này với nhiều hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau.

Chính vì xuất phát từ những điểm nhìn và quan niệm khác nhau nên mỗi công trình đều có những đánh giá riêng, đồng thuận có, đối lập cũng không ít. Thậm chí có công trình cho rằng, thơ giai đoạn này không mấy giá trị, vì nó vẫn trượt theo đà quán tính của thơ trước năm 1975. Nhưng đa phần đều cho rằng, thơ giai đoạn này diễn ra hợp quy luật, cả về thực tiễn lẫn lý luận và xem đây là giai đoạn quá độ cần thiết, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và nhu cầu của chính thơ ca. Xuất phát từ cái nhìn khoa học và biện chứng, chúng tôi tìm hiểu thơ giai đoạn này vừa để khẳng định thành tựu hợp quy luật của nó vừa để khám phá bản chất thi ca.

Bởi mỗi giai đoạn thi ca tuy khác nhau về kiểu tư duy, về i 2 quan niệm nghệ thuật, đặc biệt là quan niệm về cuộc sống và con người nhưng bao giờ cũng có tính kế thừa và cách tân theo một dòng chảy thống nhất. Ngôn ngữ, thể loại, phương pháp và hệ hình tư duy thơ theo dòng chảy đó cũng có những thay đổi theo để phù hợp với tầm đón đợi mới của độc giả. Hơn nữa, vì là giai đoạn bước ngoặt nên thơ Việt Nam hậu chiến 1975-1985 có quy luật riêng của nó. Và nhà thơ, trong ý thức nghệ thuật của mình sẽ có nhu cầu nhìn lại để đánh giá ưu, nhược điểm của thơ giai đoạn trước và dự báo những thay đổi hợp quy luật cho thơ giai đoạn kế tiếp.

Thay đổi ở đây được hiểu theo nghĩa có kế thừa, phát huy và phát triển thơ thời chiến theo yêu cầu và tầm đón nhận của cuộc sống, của công chúng tiếp nhận và của chính thi ca trong cuộc sống thời bình. Nghiên cứu “Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975- 1985”, chúng tôi nhằm khẳng định vị trí và thành tựu của thơ giai đoạn này trong tính kế thừa, phát triển từ thơ giai đoạn 1945-1975, xem đó là tiền đề cho thơ giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay. Chúng tôi sẽ nghiên cứu sự vận động của cảm hứng và tư duy sáng tác, chỉ ra sự tiếp cận đối tượng, các phạm trù thẩm mỹ và phương thức nghệ thuật mới của thơ giai đoạn này. Chúng tôi cũng đồng thời khẳng định, nhận thức lại, nhận thức mới về đề tài chiến tranh và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thơ giai đoạn 1945- 1975, chỉ ra sự vận động và thay đổi ngôn từ, thể loại theo yêu cầu tự thân của cuộc sống và thi ca thời hậu chiến.

Qua đó, luận án góp phần nhận rõ diện mạo và thành tựu hợp quy luật của thơ giai đoạn 1975-1985 thông qua các tác gia, tác phẩm tiêu biểu. Đây chính là lý do chúng tôi chọn “Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985” làm đề tài và đối tượng nghiên cứu cho luận án của mình. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung khảo sát các tác phẩm thơ của những nhà thơ tiêu biểu trong mười năm đầu sau chiến tranh làm đối tượng khảo sát chính, cụ thể là thơ của nhiều thế hệ: Hồn tôi đôi cánh (Xuân Diệu), Đất sau mưa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ (Huy Cận), Hái theo mùa, Hoa trên đá (Chế Lan Viên), Con đường và dòng sông (Tế Hanh), Khoảng cách giữa lời (Bằng i 3 Việt), Âm vang chiến hào (Hữu Thỉnh, in chung), Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Tự hát (Xuân Quỳnh), Đến với dòng sông, Người đàn bà ngồi đan (Ý Nhi), Núi mọc trong gương (các tác giả người dân tộc), Thay cho lời hát ru (Đinh Thị Thu Vân), Trăng phù sa (Võ Văn Trực), Bài thơ không năm tháng (Lâm Thị Mỹ Dạ), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Thành phố tháng Tư (Lê Thị Kim, Nguyễn Nhật Ánh), Khối vuông ru-bích (Thanh Thảo), Gương mặt tôi yêu, Sóng nhà đêm biếc (Nguyễn Trọng Tạo, in chung), Hoa trong cây, Những điều cùng đến (Vũ Quần Phương), Những mùa trăng mong chờ (Lê Thị Mây), Tiếng hát tháng giêng (Y Phương), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (Nguyễn Khoa Điềm) và một số bài thơ của các tác giả khác… Ngoài ra, trong quá trình triển khai, làm rõ sự vận động, kế thừa và tiếp biến của tư duy thơ, chúng tôi sẽ mở rộng liên hệ, khảo sát với thơ Việt Nam trước năm 1975 và sau năm 1986 để so sánh, đối chiếu, từ đó có cái nhìn tổng thể về thơ trong sự tiếp biến và tiệm biến của hai giai đoạn của cùng một dòng chảy thơ ca thống nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nguyễn Hữu Công (2023). Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985 [Luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-tien-si-tu-duy-nghe-thuat-tho-viet-nam-1975-1985

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" nghiên cứu về vấn đề gì?

Phân tích tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985, đặc điểm và xu hướng phát triển trong giai đoạn chuyển đổi lịch sử.

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Đại học Khoa học Huế. Năm bảo vệ: 2023.

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" thuộc chuyên ngành Ngữ văn. Danh mục: Văn Học Việt Nam.

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" có 157 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter