Luận án tiến sĩ văn học: Hồi ký Việt Nam giai đoạn 1975- nay từ đặc trưng thể loại
"Khám phá luận án tiến sĩ về hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay. Phân tích xu hướng, tác giả tiêu biểu và giá trị lịch sử."
Số trang
178
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan thể loại hồi ký văn học Việt Nam sau 1975
- Số trang:
- 178 trang
- Chuyên ngành:
- Văn học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan thể loại hồi ký văn học Việt Nam sau 1975
Hồi ký xuất hiện từ phương Tây thời cổ đại. Thể loại này ban đầu mang dáng dấp tiểu sử văn học. Tại Việt Nam, tác phẩm ghi dấu ấn đầu tiên là Ngục Kon Tum năm 1938. Sau năm 1975, thể loại hồi ký văn học có bước chuyển mình mạnh mẽ. Đời sống xã hội tạo điều kiện cho cá nhân bộc lộ trải nghiệm riêng. Nhu cầu tìm hiểu sự thật lịch sử ngày càng gia tăng. Số lượng ấn phẩm tăng vọt qua từng giai đoạn. Giai đoạn 1986 đến 1996 ghi nhận gần ba trăm đầu sách xuất bản. Con số này tăng gấp ba lần trong thập niên kế tiếp. Năm 2005 trở thành mốc son với hàng chục tác phẩm ra mắt. Hồi ký mở rộng đối tượng cầm bút ra toàn xã hội. Các nhà văn, tướng lĩnh, chính trị gia cùng tham gia sáng tác. Bức tranh văn học Việt Nam sau 1975 nhờ đó trở nên đa dạng, phong phú và chân thực.
1.1. Cơ sở lý luận và thi pháp thể loại ký thời hiện đại
Thi pháp thể loại ký xác định hồi ký là thể văn tự sự phi hư cấu. Tác phẩm bắt nguồn từ chuỗi sự kiện có thật trong quá khứ. Người viết ghi lại những điều từng chứng kiến hoặc trải qua. Tính xác thực tạo nên giá trị cốt lõi của tác phẩm. Tuy nhiên, hồi ký không phải biên niên sử khô khan. Văn bản mang đậm dấu ấn cá nhân và cảm xúc chủ quan. Nhà nghiên cứu phân loại hồi ký theo nhiều tiêu chí khác nhau. Có hồi ký nhân vật lịch sử, hồi ký nghề nghiệp và hồi ký văn nghệ. Mỗi loại mang đặc trưng thẩm mỹ riêng biệt. Cấu trúc văn bản vận động linh hoạt theo dòng hồi tưởng. Thể loại này cho phép kết hợp tự sự với trữ tình và bình luận. Thi pháp ký hiện đại mở rộng biên độ biểu đạt của thể loại hồi ký văn học.
1.2. Bối cảnh lịch sử và diện mạo hồi ký sau năm 1975
Giai đoạn sau 1975 mở ra thời kỳ phát triển mới cho văn học nước nhà. Đất nước thống nhất tạo tiền đề cho việc nhìn lại quá khứ. Hồi ký không còn giới hạn trong âm hưởng ngợi ca sử thi. Tác phẩm dần chuyển sang khai thác góc nhìn đời thường và số phận con người. Sự chuyển dịch này đáp ứng nhu cầu nhận thức lại lịch sử. Công chúng khao khát tiếp cận các sự kiện từ nhiều chiều kích. Hàng ngàn cuốn sách lần lượt ra mắt độc giả. Lực lượng sáng tác mở rộng nhanh chóng từ cựu chiến binh đến nhân sĩ trí thức. Hồi ký trở thành kênh lưu trữ ký ức cộng đồng sống động. Sự giao lưu văn hóa quốc tế cũng thúc đẩy thể loại này đổi mới. Các tác phẩm góp phần làm phong phú nền văn học Việt Nam sau 1975.
1.3. Sự bùng nổ hồi ký văn học thời kỳ Đổi Mới từ năm 1986
Công cuộc Đổi Mới năm 1986 thổi luồng sinh khí mới vào đời sống văn nghệ. Không khí dân chủ kích thích nhu cầu bộc bạch tâm tư cá nhân. Hiện tượng xuất bản hồi ký văn học thời kỳ Đổi Mới tăng trưởng chưa từng thấy. Độc giả đón nhận nồng nhiệt các hồi ức của văn nghệ sĩ và chính khách. Thị trường xuất bản ghi nhận nhiều tác phẩm gây tiếng vang lớn. Năm 2005 đánh dấu đỉnh cao với 77 tác phẩm ra mắt trong một năm. Tác giả tự do hơn trong việc lựa chọn góc nhìn trần thuật. Ranh giới đề tài được mở rộng sang những vùng mờ của lịch sử. Tác phẩm thời kỳ này thẳng thắn đối diện với những góc khuất trong quá khứ. Hồi ký khẳng định vị thế độc lập, trở thành thể loại tự sự quan trọng trên văn đàn.
II. Quá trình phục hiện ký ức chiến tranh sau 1975 sâu sắc
Ký ức giữ vai trò khởi nguồn và cung cấp chất liệu cho văn bản hồi ức. Quá trình phục hiện không đơn thuần là ghi chép nguyên vẹn quá khứ. Tâm trí con người tự động sàng lọc và tái cấu trúc các sự kiện. Nhu cầu hoài niệm xuất phát từ sự thôi thúc của hoàn cảnh hiện tại. Người cao tuổi viết để đúc kết bài học đời người. Lớp trẻ cầm bút vì khát vọng chia sẻ bản sắc cá nhân. Ký ức chiến tranh sau 1975 trở thành chủ đề trọng tâm xuyên suốt nhiều trang viết. Tác phẩm phục dựng chân thực nỗi đau, sự mất mát và đức hy sinh. Ký ức và lịch sử trong văn học đan cài chặt chẽ với nhau. Qua lăng kính chủ quan, các sự kiện lịch sử hiện lên vừa chân thực vừa giàu rung cảm.
2.1. Động lực hồi cố và khát vọng giãi bày của các thế hệ
Động lực cầm bút bắt đầu từ những trăn trở của thực tại hôm nay. Lớp người cao tuổi tìm về quá khứ để chiêm nghiệm hành trình đã qua. Họ muốn để lại di sản tinh thần cho các thế hệ tương lai. Ngược lại, thế hệ trẻ xem hồi ký là phương tiện khẳng định cái tôi. Họ khao khát giãi bày cảm xúc và những trải nghiệm cá nhân độc đáo. Sự tương phản giữa hai thế hệ tạo nên tính đa dạng cho mảng sách tự truyện. Ký ức được khơi gợi từ những biến động xã hội đương thời. Dòng hồi tưởng giúp người viết giải tỏa áp lực tâm lý và tìm kiếm sự đồng cảm. Văn bản trở thành cầu nối đối thoại giữa các thời kỳ lịch sử. Ký ức cá nhân hòa nhập vào ký ức cộng đồng một cách tự nhiên.
2.2. Biểu tượng nghệ thuật và ký ức chiến tranh sau 1975
Ký ức chiến tranh sau 1975 thường kết tinh qua những biểu tượng nghệ thuật đặc sắc. Chiến trường khốc liệt, dòng sông tuổi thơ hay mái trường xưa trở thành hình tượng ám ảnh. Những biểu tượng này liên kết chặt chẽ và nâng đỡ dòng cảm xúc hồi cố. Chúng giúp cụ thể hóa những trải nghiệm trừu tượng trong tâm tưởng. Biểu tượng bom đạn gợi nhắc sự khốc liệt và tinh thần quả cảm của người lính. Biểu tượng hậu phương phản ánh đức hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người vợ. Hệ thống biểu tượng tạo nên chiều sâu thẩm mỹ cho tác phẩm tự sự. Ký ức và lịch sử trong văn học nhờ đó không bị rơi vào sự liệt kê khô khan. Người đọc cảm nhận rõ nét không khí hào hùng lẫn bi tráng của một thời đạn bom.
2.3. Vai trò của tưởng tượng trong quá trình phục dựng ký ức
Tưởng tượng đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho hoạt động hoài niệm. Ký ức con người luôn có những khoảng trống do thời gian làm phai mờ. Trí tưởng tượng giúp người viết liên kết các mảnh ghép sự kiện rời rạc. Đây là phương thức lấp đầy khoảng mờ của quá khứ một cách hợp lý. Tuy nhiên, sự tưởng tượng phải dựa trên nền tảng của sự thật lịch sử. Người viết không được bịa đặt hay bóp méo diễn biến thực tế. Trí tưởng tượng tái hiện sinh động không gian, thời gian và tâm trạng nhân vật. Quá trình này làm sống dậy những chi tiết tưởng chừng đã bị quên lãng. Nhờ yếu tố tưởng tượng, tác phẩm hồi ức đạt được độ chân thực nghệ thuật cao và lay động người đọc sâu sắc.
III. Sự thật và hư cấu trong hồi ký văn học thời kỳ Đổi Mới
Lý thuyết diễn ngôn cung cấp góc nhìn toàn diện về bản chất của thể loại hồi ức. Sau năm 1975, hệ tư tưởng xã hội chuyển biến tạo điều kiện cho các diễn ngôn mới xuất hiện. Sự thật và hư cấu trong hồi ký luôn tồn tại trong mối quan hệ biện chứng phức tạp. Tác phẩm tự sự đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa mã sự thật và mã nghệ thuật. Mã sự thật đảm bảo tính trung thực của tư liệu và nhân chứng lịch sử. Mã nghệ thuật tạo nên sức lôi cuốn văn chương và cảm xúc thẩm mỹ. Tùy thuộc vào xuất thân của người viết, hai mã này có sự phân bổ khác biệt. Các nhà văn khéo léo đan cài kỹ thuật hư cấu vi mô để làm nổi bật sự thật bản chất.
3.1. Tiếp cận hồi ký dưới góc nhìn của lý thuyết diễn ngôn
Lý thuyết diễn ngôn xem văn bản hồi ký là một thực hành xã hội mang tính lịch sử. Văn bản phản ánh sự tương tác giữa chủ thể sáng tạo và hoàn cảnh thời đại. Hệ tư tưởng xã hội sau 1975 tạo không gian mở cho việc trình bày quan điểm cá nhân. Hồi ký không còn là tiếng nói đơn thanh theo khuôn mẫu định sẵn. Tác phẩm trở thành diễn ngôn đa thanh về quá khứ và hiện tại. Chủ thể diễn ngôn tự do bộc lộ những suy ngẫm trái chiều về các biến cố lịch sử. Mã sự thật và mã nghệ thuật đối thoại liên tục trên trang viết. Sự kết hợp này giúp văn bản vừa mang giá trị tư liệu vừa đạt chuẩn mực nghệ thuật. Cách tiếp cận diễn ngôn làm sáng tỏ những tầng nghĩa ẩn sâu trong hồi ký văn học thời kỳ Đổi Mới.
3.2. Mã sự thật và mã nghệ thuật trong hồi ký của nhà văn
Hồi ký của giới nhà văn thể hiện sự gắn kết nhuần nhuyễn giữa hai mã diễn ngôn. Tác giả ý thức sâu sắc về nghệ thuật ngôn từ khi ghi chép sự kiện. Họ nhìn nhận bản thân bằng cái nhìn tự biện nghiêm túc và trung thực. Chân dung bạn bè văn nghệ sĩ được tái hiện dưới nhiều góc độ đời thường và sống động. Người viết không ngại ngần phơi bày những va vấp và mâu thuẫn trong giới cầm bút. Sự thật và hư cấu trong hồi ký của nhà văn đạt đến sự cân bằng tinh tế. Hư cấu ở đây được hiểu là kỹ thuật tổ chức chi tiết và tái tạo không khí. Mã nghệ thuật nâng đỡ mã sự thật, biến ký ức cá nhân thành tác phẩm văn chương giàu giá trị thẩm mỹ.
3.3. Mã sự thật trong hồi ký của tướng lĩnh và chính khách
Hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và cựu binh đặt ưu tiên hàng đầu vào mã sự thật. Tính chính xác của sự kiện lịch sử và diễn biến chiến trường luôn được đề cao. Hình tượng người anh hùng được khắc họa chân thực cả trong chiến đấu lẫn đời sống thường nhật. Tác phẩm miêu tả chân dung người lính và đồng đội với tình cảm gắn bó sâu sắc. Các quyết định quân sự và chính trị quan trọng được tái hiện cụ thể qua góc nhìn của nhân chứng. Mã nghệ thuật chỉ đóng vai trò hỗ trợ phụ trợ nhằm liên kết các mốc thời gian. Giá trị tư liệu lịch sử trong những tác phẩm này vô cùng to lớn. Tiếng nói của những người trong cuộc đem lại cái nhìn toàn diện và xác thực về các bước ngoặt của dân tộc.
IV. Nghệ thuật trần thuật trong hồi ký và giao thoa thể loại
Nghệ thuật trần thuật trong hồi ký sau năm 1975 đánh dấu bước tiến vượt bậc về thi pháp. Thể loại này thể hiện xu hướng giao thoa mạnh mẽ với trữ tình và tiểu thuyết. Chất trữ tình xuất hiện đậm nét qua sự trỗi dậy của cái tôi nội cảm sâu lắng. Thiên nhiên và không gian hoài niệm xen kẽ nhịp nhàng giữa dòng chảy sự kiện. Bên cạnh đó, chất tiểu thuyết thâm nhập sâu vào kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhân vật trong hồi ký có chiều sâu tâm lý và độ dư tính cách phong phú. Kỹ thuật tự sự hiện đại tạo nên âm hưởng đa thanh cho toàn bộ văn bản. Sự kết hợp thể loại này tạo ra nhiều biến thể độc đáo như hồi ký tự truyện và hồi ký ẩn danh tiểu thuyết.
4.1. Chủ thể trần thuật hồi ký và sự trỗi dậy của chất trữ tình
Chủ thể trần thuật hồi ký sau 1975 không còn ẩn mình sau các sự kiện lịch sử lớn lao. Cái tôi nội cảm trỗi dậy mạnh mẽ ngay giữa cấu trúc hồi ức. Người viết trực tiếp bộc lộ những rung động, dằn vặt và trăn trở sâu kín của tâm hồn. Những trang văn miêu tả thiên nhiên xuất hiện dày đặc giữa các biến cố đời sống. Cảnh sắc quê hương và không gian ký ức làm chậm lại nhịp độ tự sự. Yếu tố trữ tình tạo khoảng lặng cần thiết cho người đọc suy ngẫm. Văn bản mang giai điệu êm dịu của những dòng tâm sự chân thành. Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình làm mềm hóa tính chất tư liệu khô khan. Cái tôi tác giả trong tự truyện nhờ đó hiện lên sống động, gần gũi và đầy tính nhân văn.
4.2. Chất tiểu thuyết và kỹ thuật tự sự đa thanh hiện đại
Chất tiểu thuyết đem lại cấu trúc tự sự hiện đại cho thể loại hồi ức. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thoát khỏi lối mô tả một chiều đơn giản. Nhân vật được khắc họa với đầy đủ góc cạnh, cá tính và những nét tâm lý phức tạp. Độ dư của tính cách giúp nhân vật vượt lên khỏi khuôn mẫu đạo đức thông thường. Nghệ thuật trần thuật trong hồi ký vận dụng linh hoạt kỹ thuật đảo dòng thời gian. Điểm nhìn trần thuật dịch chuyển liên tục giữa quá khứ và hiện tại. Kỹ thuật đa thanh cho phép nhiều luồng ý kiến và giọng điệu cùng cất lên đồng thời. Văn bản từ bỏ lối áp đặt tư tưởng đơn nhất để tạo không gian đối thoại cởi mở. Tác phẩm đạt tới tầm vóc của một tiểu thuyết tư liệu nghệ thuật đặc sắc.
4.3. Các biến thể độc đáo và cái tôi tác giả trong tự truyện
Sự phát triển của thể loại tạo ra nhiều biến thể phong phú trên văn đàn. Biến thể hồi ký tự truyện tập trung xoáy sâu vào hành trình khám phá bản ngã cá nhân. Biến thể hồi ký ẩn danh tiểu thuyết lại làm mờ ranh giới giữa tư liệu thực và hư cấu văn chương. Trong các biến thể này, cái tôi tác giả trong tự truyện thể hiện quyền tự chủ sáng tạo tối đa. Người viết tự do tái hiện ký ức dưới lớp áo hư cấu nghệ thuật để biểu đạt những sự thật tế nhị. Sự linh hoạt trong hình thức giúp tác phẩm tiếp cận bạn đọc một cách tự nhiên. Các biến thể này khẳng định sức sống dẻo dai và khả năng thích ứng của thể loại ký. Chúng làm thay đổi căn bản diện mạo của văn học Việt Nam sau 1975.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (178 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộMỤC LỤC Lời cam đoan Lời cảm ơn MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp mới của luận án. Cấu trúc luận án .TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Một số vấn đề lí luận về ký.
Nguồn gốc của ký. Đặc trưng của ký. Quan niệm về hồi ký. Khái niệm về hồi ký.
Đặc trưng của hồi ký. Phân loại hồi ký. Lịch sử nghiên cứu hồi ký tại Việt Nam. Tình hình nghiên cứu hồi ký trước năm 1975.
Tình hình nghiên cứu hồi ký sau năm 1975 .QUÁ TRÌNH PHỤC HIỆN KÝ ỨC TRONG HỒI KÝ SAU 1975. Vai trò của ký ức trong hồi ký. Ký ức là khởi nguồn, chất liệu của văn học nói chung. Ký ức sàng lọc và tạo ra những giới hạn của việc tái hiện sự thật.
Sự thôi thúc từ hiện tại - điểm khởi đầu của dòng ký ức. Nhu cầu hồi cố của lớp người cao tuổi. Khát vọng chia sẻ của lớp trẻ qua hồi ký. Sự kết tinh của các biểu tượng nghệ thuật.
Những biểu tượng nổi bật. Sự tương hỗ của các biểu tượng. Sự hỗ trợ của trí tưởng tượng trong quá trình hoài niệm. Vai trò của tưởng tượng và vấn đề hư cấu trong hồi ký.
Một số hình thức của tưởng tượng trong hồi ký. DIỄN NGÔN VỀ SỰ THẬT TRONG HỒI KÝ SAU 1975. Tiếp cận hồi ký từ lý thuyết diễn ngôn. Khái quát về lý thuyết diễn ngôn.
Hồi ký dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng xã hội sau năm 1975. Sự hình thành và quan hệ qua lại giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong ký nói chung và hồi ký nói riêng. 78 kết giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong hồi ký các nhà văn. Chủ thể diễn ngôn và cái nhìn tự biện mới mẻ về bản thân.
Hình tượng bạn bè nghệ sĩ dưới những góc nhìn khác nhau. 92 trội của mã sự thật trong hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và các cựu binh cách mạng. Chân dung người anh hùng trong cuộc chiến và giữa đời thường102 3. Hình tượng người lính- người đồng đội trong chiến tranh.
Sự thể hiện của các chính trị gia. 111 trợ của mã nghệ thuật cho mã sự thật trong hồi ký của các tầng lớp khác…………………………………………………………. Hồi ký của các nhà báo. Hồi ký của những người làm nghệ thuật.
SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI CỦA HỒI KÝ SAU 1975. Chất trữ tình trong hồi ký. Sự trỗi dậy của cái tôi nội cảm giữa cấu trúc hồi ức. Sự xuất hiện của thiên nhiên giữa dòng chảy sự kiện.
Chất tiểu thuyết trong hồi ký. Kết cấu hiện đại. Nghệ thuật xây dựng nhân vật có độ dư. Kỹ thuật tự sự tạo tính đa thanh.
Một số biến thể của hồi ký. Hồi ký-tự truyện. Hồi ký ẩn danh tiểu thuyết. 144 KẾT LUẬN………………………………………………………………148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.
150 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lí do chọn đề tài 1. Hồi ký xuất hiện tại phương Tây từ thời cổ đại Hy Lạp, ban đầu mang dáng dấp tiểu sử văn học, ghi lại những sự kiện đáng nhớ của những nhân vật có sức ảnh hưởng lớn với cộng đồng. Cùng với sự phát triển của lịch sử, sự thay đổi của các giá trị văn hóa, xã hội, hồi ký ngày càng trở thành một thể loại hữu dụng để trình bày ký ức, tâm tư của bản thân, những đánh giá, nhìn nhận của các tầng lớp khác nhau về mọi sự việc, hiện tượng trong đời sống.
Tại Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn 1930- 1945, hồi ký cũng bắt đầu xuất hiện với tác phẩm Ngục Kon Tum (1938) của Lê Văn Hiến nhưng chưa được sáng tác rộng rãi như các thể ký khác. Những năm 1945- 1975, tiếp nối tinh thần của thời đại, hồi ký- đặc biệt là mảng hồi ký cách mạng đã phát triển rực rỡ với những tác phẩm mang âm hưởng sử thi hào hùng. Sau năm 1975, hồi ký trở thành một thể loại được yêu thích không kém truyện ngắn và tiểu thuyết. Là một thể ký tự sự được phát triển từ những hồi ức cá nhân mang đầy tính chủ quan nên hồi ký tương đối “cởi mở”, không bị câu thúc quá nghiêm ngặt bởi những yêu cầu về nội dung và hình thức thể hiện.
Mặt khác, với công chúng hôm nay, nhu cầu tìm đến sự thật, xác minh những bí mật ẩn giấu sau những “vỏ bọc” của lịch sử và con người đã ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết và thôi thúc họ tìm đến với hồi ký. Vì thế, không khó hiểu khi bước vào thời kỳ đổi mới, văn đàn nước ta chứng kiến sự “bùng nổ” chưa từng có của thể loại này với sự xuất hiện của rất nhiều tác giả không chuyên ở đủ mọi nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội… Bên cạnh những cuốn hồi ký được viết ra bởi những nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu nổi tiếng còn có những cuốn hồi ký của các nguyên thủ 1 quốc gia, các tướng lĩnh, nhà chính trị, nhà giáo, các diễn viên điện ảnh, nhạc sĩ, các kiến trúc sư hay những người nông dân. Theo nguồn thống kê từ Thư viện Quốc gia, số lượng hồi ký được xuất bản từ năm 1986 đến năm 1996 ở nước ta là 296 cuốn (trong đó có 36 cuốn hồi ký của tác giả nước ngoài, 260 cuốn của tác giả Việt Nam). Con số này tăng lên gần gấp ba trong khoảng thời gian tiếp theo từ 1997 đến 2007 với tổng 630 cuốn (trong đó có 71 cuốn hồi ký nước ngoài, 559 cuốn hồi ký của Việt Nam).
Đỉnh cao là năm 2005 có đến 77 cuốn hồi ký được xuất bản. Cho đến thời điểm này, tuy chưa có khảo sát đầy đủ cho số lượng hồi ký ra mắt độc giả nhưng chúng tôi có thể khẳng định rằng đã có hàng nghìn đầu sách được công bố trên cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của cả người viết và người đọc (chưa kể các tác phẩm hồi ký được đăng tải trên mạng xã hội và đến với độc giả thế hệ @ theo phương thức đặc thù). Số lượng tác phẩm đồ sộ và có chất lượng xuất hiện trong thời gian qua đủ để hồi ký tạo nên một cuộc tranh đua hấp dẫn với các thể loại tự sự truyền thống như tiểu thuyết hay truyện ngắn. Tuy nhiên, trong khi các thể loại khác nhận được sự quan tâm sâu sắc của đông đảo nhà phê bình hay các nghiên cứu sinh chuyên ngành văn học thì hồi ký chưa xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu lớn mang tính bao quát.
Sự xuất hiện rải rác các bài báo về hồi ký qua các giai đoạn đã cung cấp bức tranh chung về mặt lý luận và thực tiễn sáng tác nhưng chưa giải quyết được thấu đáo mọi vấn đề của thể loại. Sự chú ý của một vài luận văn hay luận án dành cho hồi ký bước đầu mang đến cái nhìn hệ thống, khái quát về sự phát triển của hồi ký nhưng lại chưa làm nổi bật được những yếu tố cốt lõi của hồi ký. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi cho rằng, vẫn còn nhiều khoảng trống cần phải bổ sung để nhận diện một cách xác đáng những đặc trưng cơ bản của thể loại này. Hệ thống thể loại cùng sự vận động và biến đổi của nó là một phương diện quan trọng bộc lộ quan niệm văn học và đặc điểm tư duy 2 nghệ thuật của mỗi thời đại.
“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [10, 28]. Soi vào quan điểm trên, ta nhận thấy việc xác lập những ranh giới cùng những đặc trưng nổi bật cho mỗi thể loại trong tiến trình phát triển của văn học là vô cùng quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, với hồi ký, sự phân định đường biên thể loại giữa nó và những dạng thức tác phẩm khác quả thật không phải là việc dễ dàng, nhất là khi trong khuynh hướng giao thoa và biến thể đã trở thành tất yếu của thời đại mới, hồi ký ngày càng có sự thâm nhập rõ nét hơn của bút ký, tự truyện, tiểu thuyết. Muốn trả lại vị trí cho hồi ký trong hệ thống thể loại, cần nhận diện và khẳng định những giá trị cơ bản có liên đới trực tiếp đến sự hình thành nội dung và nghệ thuật, tạo nên điểm khác biệt của hồi ký so với các thể loại khác.
Tóm lại, sự hấp dẫn và lên ngôi của hồi ký cộng với những khoảng trống trong lịch sử nghiên cứu đã thôi thúc chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu về “Hồi ký trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay nhìn từ đặc trưng thể loại”. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận diện, phân tích những ảnh hưởng của thời đại có liên quan mật thiết đến việc hình thành những đặc trưng cơ bản của hồi ký sau năm 1975, luận án một mặt chỉ ra những yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm hồi ký giai đoạn này, mặt khác phác họa khuynh hướng vận động của hồi ký trong tiến trình giao thoa và biến thể đầy phong phú và phức tạp. Nhiệm vụ nghiên cứu - Thu thập, đối chiếu, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về ký nói chung và hồi ký nói riêng nhằm cung cấp bức tranh tổng quan về hồi ký trên tiến trình thể loại.
- Nhận diện và phân tích các yếu tố làm nên sự khác biệt của một tác phẩm hồi ký được viết sau năm 1975 so với hồi ký trước năm 1975 và một số kiểu loại gần gũi như tự truyện, bút ký hay nhật ký. - Xác lập các đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thể loại hồi ký sau năm 1975 nhằm tìm ra những điểm ưu trội của thể loại đó so với các thể loại khác. - Phân tích một số dạng thức giao thoa thể loại và khuynh hướng biến thể của hồi ký sau năm 1975. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-tien-si-hoi-ky-van-hoc-viet-nam-1975-den-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Khám phá luận án tiến sĩ về hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay. Phân tích xu hướng, tác giả tiêu biểu và giá trị lịch sử."
Luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" thuộc chuyên ngành Văn học. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ: Hồi ký văn học Việt Nam 1975 đến nay" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.