Luận án phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh trong dạy học truyện ngắn lớp 12 THPT
Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 12 qua dạy học truyện ngắn
Lí luận và Phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Luan An
Luận án
Số trang
161
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Năng Lực Tái Hiện, Liên Tưởng, Tưởng Tượng Dạy Học Văn
- Số trang:
- 161 trang
- Chuyên ngành:
- Lí luận và Phương pháp dạy học môn Ngữ văn
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Năng Lực Tái Hiện Liên Tưởng Tưởng Tượng Dạy Học Văn
Đổi mới giáo dục văn học tập trung phát triển năng lực người học. Môn Ngữ văn chú trọng năng lực tiếp nhận. Giáo viên cần phát huy phẩm chất học sinh. Học sinh cần tái hiện chân xác, liên tưởng phong phú, tưởng tượng sáng tạo. Đời sống tâm hồn cần giàu có, quan niệm sống lành mạnh. Ý thức cội nguồn, bản sắc dân tộc là thiết yếu. Năng lực nhận thức sức mạnh cộng cảm cũng quan trọng. Người học cần giác nhận sự yếu yếu của bản thân. Đây là sứ mệnh cao cả của môn Ngữ văn. Để đạt mục tiêu, giáo viên phải phát triển đồng bộ hệ thống năng lực tiếp nhận. Trong đó, năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng là chủ chốt. Mục đích dạy học Ngữ văn giúp người học vượt qua giới hạn bản thân.
1.1. Mục tiêu đổi mới giáo dục Ngữ văn.
Giáo dục đang chuyển mình mạnh mẽ. Nội dung, chương trình, đánh giá đều hướng tới năng lực. Môn Ngữ văn không chỉ tạo lập văn bản. Năng lực tiếp nhận cũng rất quan trọng. Giáo viên chú trọng phát huy phẩm chất học sinh. Học sinh cần tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng. Lòng vị tha và đời sống tâm hồn phong phú được nuôi dưỡng. Quan niệm sống lành mạnh, ứng xử nhân văn là cần thiết. Ý thức về bản sắc dân tộc được hình thành.
1.2. Năng lực tiếp nhận hình tượng trọng tâm.
Giáo viên cần phát triển đồng bộ năng lực tiếp nhận. Đặc biệt là năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng. Điều này diễn ra trong suốt quá trình dạy học. Dạy học Ngữ văn giúp người học nhận ra giới hạn. Từ đó, người học mở rộng, vượt qua giới hạn đó. Đây là bước tiến quan trọng trong giáo dục.
II.Cảm Thụ Văn Học Bí Quyết Nâng Cao Hiệu Quả Tiếp Nhận
Cảm thụ văn học là quá trình chiếm lĩnh, sáng tạo. Việc vận dụng đồng bộ các năng lực rất quan trọng. Năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng là giải pháp tối ưu. Đây là bí quyết giúp giáo viên tổ chức tiếp nhận sáng tạo. Các hoạt động tâm lí này là trung tâm phản ứng tình cảm. Chúng góp phần chuyển hóa văn bản thành tác phẩm. Tác phẩm sống động trong tinh thần người học. Phát triển các năng lực này là phương thức tư duy hiệu quả. Chúng hướng tới giải phóng tiềm năng sáng tạo học sinh.
2.1. Năng lực tái hiện liên tưởng tưởng tượng.
Cảm thụ văn học không chỉ là đọc hiểu. Đó là sự chiếm lĩnh và sáng tạo cá nhân. Vận dụng hiệu quả năng lực tái hiện hình tượng là cần thiết. Liên tưởng phong phú cũng đóng vai trò quan trọng. Tưởng tượng sáng tạo giúp hình thành ý nghĩa mới. Ba năng lực này kết hợp tạo ra bí quyết. Giáo viên có thể tổ chức quá trình tiếp nhận hiệu quả. Học sinh trở thành người đồng sáng tạo.
2.2. Giải phóng tiềm năng sáng tạo học sinh.
Các hoạt động tâm lí có vai trò trung tâm. Chúng tạo ra phản ứng tình cảm mạnh mẽ. Văn bản của nhà văn được chuyển hóa. Nó trở thành tác phẩm trong tâm trí người đọc. Phát triển năng lực tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng là cần thiết. Đây là phương thức tư duy rất hiệu quả. Nó giúp giải phóng tiềm năng sáng tạo học sinh. Học sinh tự kiến tạo những hình tượng độc đáo.
III.Phát Triển Năng Lực Tiếp Nhận Thách Thức Dạy Học Hiện Nay
Những năm gần đây, dạy học Ngữ văn đổi mới nhiều. Mục tiêu, nội dung, phương pháp đều thay đổi. Tuy nhiên, hiệu quả tổng thể chưa đạt mong muốn. Nhiều nguyên nhân giải thích thực trạng này. Một trong số đó là nhận thức chưa rõ ràng. Mối quan hệ giữa phản ứng tình cảm học sinh với tâm lí sáng tạo nhà văn bị bỏ qua. Giáo viên chưa chú trọng điều này. Hoạt động tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng chưa được coi trọng. Chúng chưa được xem là cơ chế vận hành tâm lí. Chúng không phải cửa ngõ của rung động thẩm mỹ.
3.1. Hiệu quả dạy học văn chưa như mong muốn.
Dạy học Ngữ văn đã có nhiều cải cách. Mục tiêu, nội dung chương trình được điều chỉnh. Phương pháp giảng dạy cũng được đổi mới. Dù vậy, hiệu quả tổng thể chưa thực sự cao. Có nhiều lý do cho tình trạng này. Nhận thức chưa đầy đủ là một yếu tố. Mối quan hệ giữa cảm xúc học sinh và tác phẩm chưa được khai thác. Giáo viên chưa thấy rõ tầm quan trọng.
3.2. Nhận diện hạn chế trong thực tiễn.
Năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng bị xem nhẹ. Chúng chưa được coi là cơ chế tâm lí quan trọng. Đây là cửa ngõ cho rung động thẩm mỹ học sinh. Giáo viên chưa nhận diện rõ các vấn đề. Đối tượng, phương thức chiếm lĩnh còn mơ hồ. Sự phối hợp giữa các năng lực chưa rõ ràng. Điều này ảnh hưởng đến sự vận động tâm lí học sinh. Học sinh không tái hiện hình tượng trọn vẹn. Tri giác ngôn ngữ, tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng chưa đồng bộ.
IV.Cơ Chế Tâm Lí Tiếp Nhận Giải Phóng Tiềm Năng Sáng Tạo
Cơ chế tâm lí học sinh đóng vai trò quan trọng. Nó diễn ra trong quá trình tiếp nhận văn học. Sự cộng hưởng giữa các yếu tố tâm lí và tác phẩm là cần thiết. Học sinh có thể tái hiện biểu tượng trong tâm trí. Điều này nhờ vào liên tưởng và tưởng tượng. Từ đó, học sinh kiến tạo hình tượng độc đáo. Quá trình này giúp định lượng tính năng động của chủ thể. Học sinh trở thành người "đồng sáng tạo". Khoảng cách thẩm mỹ giữa bạn đọc, tác phẩm, nhà văn được nghiệm chứng. Đây là vấn đề cấp thiết giáo viên cần quan tâm. Phát triển năng lực tiếp nhận cho người học là mục tiêu chính.
4.1. Vai trò của cơ chế tâm lí học sinh.
Cơ chế tâm lí là yếu tố then chốt. Nó quyết định hiệu quả tiếp nhận văn học. Sự tương tác giữa tâm lí và tác phẩm tạo ra sức mạnh. Học sinh sử dụng liên tưởng, tưởng tượng. Các biểu tượng được tái hiện trong tâm trí. Từ đó, hình tượng độc đáo được kiến tạo. Điều này thể hiện sự năng động của người đọc. Nó cho thấy vai trò chủ động của học sinh.
4.2. Khai thác tiềm năng đồng sáng tạo .
Giáo viên cần bảo tồn mối quan hệ các năng lực tâm lí. Điều này thúc đẩy hứng thú lâu bền của học sinh. Cảm thụ tác phẩm và phản ứng tâm lí cần đồng khớp. Tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng là cửa ngõ. Cảm xúc, ý chí, lí trí, ấn tượng kết nối chặt chẽ. Chúng đồng hiện, đồng tại trong hoạt động tâm lí. Tiềm năng "đồng sáng tạo" của học sinh được phát huy. Năng lực cảm thụ cần được cải thiện.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (161 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài 1. Phát triển năng lực văn học cho học sinh là một nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục Có thể nói, giáo dục đang đổi mới và chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều phương diện từ nội dung, chương trình cho đến đánh giá,…tất cả đều hướng đến phát triển năng lực cho người học. Để góp phần vào quá trình thực hiện mục tiêu đó, ngoài việc quan tâm sâu sắc đến năng lực tạo lập văn bản, môn Ngữ văn còn chú trọng đến hình thành và phát triển năng lực tiếp nhận cho chủ thể học sinh. Đặc biệt trong đó, thông qua những tác phẩm chọn lọc và từng bài học cụ thể, giáo viên tập trung hướng đến phát huy phẩm chất cho người học như: có khả năng tái hiện chân xác, liên tưởng phong phú và tưởng tượng sáng tạo, có lòng vị tha và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống lành mạnh và biết ứng xử nhân văn, có ý thức về cội nguồn bản sắc của dân tộc, có khả năng nhận thức sâu sắc về sức mạnh của sự cộng cảm, biết giác nhận ra sự yếu đuối và cả những bất toàn về sự tồn tại của bản thân mình trong cuộc sống,…đây cũng là một sứ mệnh thiêng liêng của môn Ngữ văn.
Chúng tôi nhận định, để có thể đạt được mục tiêu trên, người giáo viên cần biết quan tâm phát triển đồng bộ hệ thống năng lực tiếp nhận, đặc biệt là năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng,…trong quá trình tổ chức dạy học. Bởi lẽ, xét đến cùng, đích hướng của dạy học Ngữ văn chính là giúp người học nhận ra những giới hạn của con người, biết mở rộng và vượt qua nó theo nhiều cách khác nhau. Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh có thể nâng cao hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn chương Có thể hiểu, cảm thụ văn học chính là quá trình chiếm lĩnh và sáng tạo; trong đó, việc vận dụng đồng bộ các năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng được xác định là giải pháp tối ưu, là bí quyết để người dạy có thể tổ chức tiếp nhận sáng tạo. Bên cạnh đó, các hoạt động tâm lí này còn có vai trò như là trung tâm của những phản ứng tình cảm, để góp phần quan trọng vào việc 2 chuyển hóa văn bản của nhà văn thành tác phẩm trong tinh thần của người học.
Do vậy, phát triển các năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng trong dạy học văn được xem như là những phương thức tư duy hiệu quả để hướng tới giải phóng tiềm năng sáng tạo của chủ thể học sinh. Không chỉ vậy, cơ chế tâm lí của học sinh được xem là yếu tố quan trọng trong quá trình tiếp nhận văn học. Thông qua sự cộng hưởng giữa các nhân tố trong cấu trúc năng lực tâm lí với tác phẩm, bạn đọc học sinh có thể tái hiện trong tâm trí hệ thống các biểu tượng bằng liên tưởng và tưởng tượng để hướng đến kiến tạo cho riêng mình những kiểu mẫu hình tượng độc đáo. Từ quá trình đó, chúng ta có cơ sở để định lượng được tính năng động của chủ thể cảm thụ ở vai trò “đồng sáng tạo” hoặc có thể nghiệm chứng được độ chênh về khoảng cách thẩm mỹ giữa bạn đọc học sinh với tác phẩm và nhà văn.
Tác giả luận án cho rằng, đây là một vấn đề cấp thiết mà giáo viên Ngữ văn cần quan tâm để hướng tới phát triển năng lực tiếp nhận cho người học. Thực tế dạy học văn theo hướng vận dụng và phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong nhà trường THPT hiện nay Những năm gần đây, dạy học Ngữ văn đã có nhiều đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp, tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng quát, hiệu quả dạy học văn vẫn chưa đạt được như mong muốn. Có nhiều nguyên nhân để luận giải cho điều này, nhưng có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ việc nhận thức chưa thực sự sáng rõ về mối quan hệ giữa phản ứng tình cảm học sinh với tâm lí sáng tạo của nhà văn trong quá trình tổ chức dạy học của giáo viên. Đồng thời, trong mối quan hệ ấy, hoạt động tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng chưa được xem như một cơ chế trong vận hành tâm lí, là cửa ngõ của những rung động thẩm mỹ ở học sinh khi tương tác với tác phẩm.
Không chỉ vậy, các vấn đề quan trọng như đối tượng, phương thức chiếm lĩnh, sự phối hợp giữa tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng ở từng giai đoạn tư duy để tạo nên quy luật vận động đầy phức tạp trong tâm lí của học sinh vẫn chưa được giáo viên nhận diện rõ nét. Đặc biệt, giáo viên chưa giúp học sinh 3 tái hiện được hình tượng một cách trọn vẹn bằng việc vận hành đồng bộ hệ thống năng các lực từ tri giác ngôn ngữ, tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng. Do vậy, hầu như tình cảm của học sinh cách biệt với thế giới hình tượng trong tác phẩm, giáo viên không bảo tồn được mối quan hệ giữa các năng lực tâm lí để thúc đẩy, kích hoạt, nuôi dưỡng sự hứng thú lâu bền của học sinh trong tiếp nhận. Xét cho cùng, cảm thụ tác phẩm và phản ứng tâm lí của người học là một quá trình đồng khớp nhau; nơi cửa ngõ này, tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc, ý chí, lí trí, ấn tượng,…có sự kết nối chặt chẽ, chúng đồng hiện và đồng tại với nhau trong một cơ chế của hoạt động tâm lí.
Bên cạnh đó, thực tiễn dạy học cho thấy, năng lực cảm thụ của học sinh thông qua tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng còn nhiều hạn chế; tình trạng tái hiện hình tượng bị sai lệch hoặc thiếu chân xác, liên tưởng nông cạn, tưởng tượng tản mạn và chưa phong phú, sự cảm thụ hời hợt,…còn diễn ra phổ biến. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiệu quả dạy học văn nói chung còn nhiều hạn chế. Do vậy, chúng tôi cho rằng, phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh trong quá tổ chức dạy học tác phẩm văn chương là thực sự cần thiết. Thực tế dạy học truyện ngắn theo hướng vận dụng và phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong nhà trường THPT hiện nay Nhiều năm qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn được giới nghiên cứu phương pháp và các nhà sư phạm quan tâm nhiều hơn.
Tuy nhiên, đối chiếu với thực tiễn dạy học, chúng tôi nhận thấy, chất lượng dạy học truyện ngắn vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Có nhiều cách để lí giải hạn chế trên, tuy vậy, chúng ta nên bắt đầu từ việc nhận thức lại một số vấn đề có tính lí luận để xác lập hệ thống biện pháp đặc trưng cho dạy học thể loại này. Có thể nói, truyện ngắn là một mô hình cỡ nhỏ của văn xuôi tự sự, có tính khu biệt với các thể loại văn học khác, có nghĩa là, chúng ta phải xây dựng hướng tiếp nhận đặc thù khi tổ chức dạy học thể loại này. Lâu nay, dạy học truyện ngắn vẫn chưa đạt kết quả là do người dạy chưa thực sự bám dựa 4 vào đặc trưng thi pháp thể loại (biểu tượng, chi tiết, sự kiện, tình huống, nhân vật, kết cấu, ngôi kể, lời kể, giọng kể, điểm nhìn,…) để huy động tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng, điều này dẫn đến sự đứt gãy và rời biệt trong tương tác tâm lí giữa giáo viên cũng như học sinh với tác phẩm.
Bên cạnh đó, khi dạy học truyện ngắn người dạy chưa định dạng được kiểu loại hình tượng và đặc trưng khu biệt của nó trong tâm lí sáng tạo của nhà văn, đồng thời chưa quan tâm gắn kết được nó trong mối quan hệ với các dấu hiệu thi pháp thể loại để tổ chức dạy học. Không chỉ vậy, người dạy chưa thực sự đánh giá đúng vai trò của mối quan hệ tương tác giữa hoạt động tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, nhận biết, đánh giá, xúc cảm,.với tâm lí học sinh trong từng công đoạn và cả quá trình tiếp nhận tác phẩm truyện ngắn một cách sáng tạo. Điều này dẫn đến hệ quả là, những phản ứng tình cảm của người học không thể tiếp xúc và tương tác với thế giới nghệ thuật của nhà văn để từ đó sáng tạo nên mẫu hình tượng độc đáo mang màu sắc cá nhân. Tác giả luận án cho rằng, tháo gỡ nút thắt này là một yêu cầu bức thiết để hướng đến nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn, nhưng rất tiếc, vấn đề có tính thời sự này lại chưa được giáo viên quan tâm sâu sắc và đúng mức.
Như vậy, những nhận thức tổng quan về lí luận và thực tiễn dạy học trên đây đã gợi mở và định hướng để chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh trong dạy học truyện ngắn ở lớp 12” với mong muốn góp thêm một phần công sức vào việc bổ sung và hiện thực hóa về phương pháp dạy học truyện ngắn ở nhà trường phổ thông. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh ở lớp 12 trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn theo hướng tiếp nhận sáng tạo. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là truyện ngắn ở lớp 12; trong đó, chúng tôi chọn hai tác phẩm là Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Vợ 5 nhặt của Kim Lân để khảo sát và thực nghiệm.
Từ cơ sở đó, luận án đi vào nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học truyện ngắn cho chủ thể học sinh. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu 3. Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng trong quá trình dạy học truyện ngắn.
Đề xuất một số biện pháp để phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh trong quá trình dạy học truyện ngắn ở lớp 12. Qua việc nghiên cứu đặc điểm thi pháp truyện ngắn ở lớp 12, đề tài góp phần làm sáng tỏ bản chất tiếp nhận thể loại này thông qua tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-phat-trien-nang-luc-tai-hien-hinh-tuong-lien-tuong-va-tuong-tuong-cho
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 12 qua dạy học truyện ngắn
Luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học môn Ngữ văn. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" có 161 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học truyện ngắn lớp 12" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.