Luận án: Hệ biểu tượng tự nhiên, con người, văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Khám phá hệ biểu tượng nghệ thuật độc đáo trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, phản ánh tư tưởng và văn hóa dân tộc đương thời.
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
163
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thi pháp biểu tượng tiểu thuyết lịch sử đương đại
- Số trang:
- 163 trang
- Tác giả:
- Đoàn Thanh Liêm
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thi pháp biểu tượng tiểu thuyết lịch sử đương đại
Thi pháp biểu tượng giữ vai trò cốt lõi trong tiểu thuyết lịch sử đương đại. Văn học Việt Nam sau 1986 chứng kiến bước chuyển biến sâu sắc về tư duy nghệ thuật. Thể loại tiểu thuyết lịch sử phát triển mạnh mẽ. Tác phẩm không chỉ tái hiện biến cố quá khứ. Nhà văn sử dụng hệ thống biểu tượng để chuyển tải chiều sâu tư tưởng. Biểu tượng nghệ thuật là công cụ phản ánh nhận thức xã hội. Nó là đơn vị ngôn ngữ thẩm mỹ đặc biệt. Tầng nghĩa siêu niệm vượt lên trên các định danh thông thường. Tác giả kết hợp mĩ học sáng tạo với mĩ học tiếp nhận. Lịch sử trở thành chất liệu để đối thoại với hiện tại. Các tầng trầm tích văn hóa được khơi mở qua ngòi bút đương đại. Tính đa nghĩa của hình tượng tạo sức hút bền vững cho thể loại này.
1.1. Khái niệm và bản chất thi pháp biểu tượng
Biểu tượng là nền tảng cơ bản của văn hóa dân tộc. Trong văn bản văn học, biểu tượng vừa mang tính phổ quát vừa thể hiện cá tính sáng tạo cá nhân. Cổ mẫu và biểu tượng tâm linh kết nối quá khứ với hiện tại. Tín hiệu thẩm mỹ chứa đựng nhiều tầng nghĩa khác nhau. Tầng nghĩa định danh và biểu vật chỉ là lớp vỏ bề ngoài. Ý nghĩa biểu niệm và siêu niệm mới tạo nên giá trị chiều sâu. Nhà văn đương đại tạo lập biểu tượng như một phương tiện giao tiếp nghệ thuật. Cấu trúc biểu tượng liên kết chặt chẽ với hệ thống hình tượng nhân vật. Việc giải mã các tín hiệu này giúp làm sáng tỏ thông điệp triết luận của tác phẩm.
1.2. Mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử luôn vận hành trên trục tương tác giữa hư cấu và sự thật lịch sử. Sự thật lịch sử đóng vai trò là khung xương cốt của tác phẩm. Hư cấu nghệ thuật chính là hồn phách tinh anh giúp tái sinh quá khứ. Văn học Việt Nam sau 1986 từ bỏ lối minh họa lịch sử đơn giản. Nhà văn tập trung khai thác những khoảng trống và góc khuất thời gian. Trí tưởng tượng sáng tạo đem đến cái nhìn đa chiều về các sự kiện xưa. Nhân vật lịch sử hiện lên sống động và chân thực hơn. Hư cấu không bóp méo lịch sử mà làm giàu thêm nhận thức nhân sinh. Đây là đặc trưng thi pháp nổi bật của tiểu thuyết lịch sử đương đại.
II. Biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Hệ biểu tượng tự nhiên chiếm vị trí trọng yếu trong cấu trúc tác phẩm lịch sử. Các yếu tố nguyên sơ gắn liền với vận mệnh quốc gia và đời sống con người. Nhà văn sử dụng biểu tượng tự nhiên để xây dựng không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Tự nhiên vừa là bối cảnh vừa là nhân vật mang linh hồn. Khí trời, sông nước, bão lửa phản ánh biến động triều đại. Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ được biểu đạt sinh động qua lăng kính biểu tượng. Thiên nhiên trở thành tấm gương phản chiếu những thăng trầm lịch sử và tâm thức văn hóa cộng đồng.
2.1. Cổ mẫu Nước Lửa Đất Trời trong tác phẩm
Cổ mẫu và biểu tượng tâm linh thể hiện rõ nét qua bốn yếu tố Nước, Lửa, Đất, Trời. Nước tượng trưng cho sự sống, sự thanh tẩy và dòng chảy thời gian bất tận. Lửa mang sức mạnh hủy diệt và khát vọng tái sinh của dân tộc. Đất biểu trưng cho cội nguồn quê hương, sự sinh sôi và lòng kiên định. Trời đại diện cho mệnh nước, trật tự vũ trụ và quyền năng tối thượng. Sự kết hợp giữa các cổ mẫu này tạo nên chiều sâu triết lý cho câu chuyện lịch sử. Tác giả khéo léo đan cài các biểu tượng để khắc họa quy luật hưng phế của các vương triều phong kiến.
2.2. Tổ chức không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm được tổ chức đa tầng. Không gian lịch sử không dừng lại ở ranh giới địa lý cụ thể. Đó là không gian tâm linh, không gian huyền thoại và không gian nội tâm. Thời gian nghệ thuật kết hợp giữa thời gian biên niên sử và thời gian tâm tưởng. Quá khứ và hiện tại soi chiếu lẫn nhau qua từng biến cố. Nhịp điệu thời gian chậm rãi tạo khoảng lặng suy ngẫm cho người đọc. Việc dịch chuyển linh hoạt giữa các chiều không-thời gian giúp mở rộng biên độ phản ánh hiện thực.
III. Biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Biểu tượng con người thể hiện sự đổi mới tư duy nghệ thuật của văn học đương đại. Nhân vật lịch sử không còn là những tượng đài xơ cứng hay bất biến. Tác giả đi sâu khám phá bản thể cá nhân và đời sống nội tâm phức tạp. Đấng minh quân, kẻ sĩ và liệt nữ được tái hiện trong những xung đột gay gắt giữa bổn phận và dục vọng. Biểu tượng quyền lực gắn liền với trách nhiệm và bi kịch cá nhân. Xu hướng giải thiêng lịch sử giúp đưa các vĩ nhân về gần hơn với đời thực. Cách tiếp cận nhân bản này tạo nên sức thuyết phục lớn.
3.1. Hình tượng đấng minh quân và biểu tượng quyền lực
Hình tượng đấng minh quân gắn liền với ngai vàng và biểu tượng quyền lực tối cao. Quyền lực mang lại danh vọng nhưng cũng tạo ra nỗi cô đơn tột cùng. Nhà văn khắc họa nhà vua dưới cả hai góc độ: người trị quốc và con người phàm trần. Biểu tượng ngai vàng, long bào, thanh kiếm phản chiếu áp lực chính trị nặng nề. Vua chúa phải đối mặt với những toan tính cung đình khốc liệt. Tác phẩm chỉ ra rằng quyền lực luôn đi kèm với sự trả giá về mặt đạo đức và hạnh phúc riêng tư.
3.2. Quá trình giải thiêng lịch sử qua hình tượng kẻ sĩ
Hiện tượng giải thiêng lịch sử diễn ra mạnh mẽ qua số phận của nhân vật kẻ sĩ và liệt nữ. Kẻ sĩ không chỉ đại diện cho khí tiết chính trực mà còn đầy trăn trở trước thế sự. Trí thức phong kiến bị giằng xé giữa danh phận và thực tại tha hóa. Liệt nữ không chỉ hi sinh vì nghĩa lớn mà còn mang nỗi đau thân phận đàn bà. Nhà văn cởi bỏ ánh hào quang thần thánh quanh nhân vật. Tác phẩm miêu tả chân thật sự hoang mang, sợ hãi và mất mát cá nhân. Sự giải thiêng này mang lại cái nhìn tỉnh táo và nhân đạo hơn về lịch sử.
IV. Biểu tượng văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng phản ánh bản sắc và tâm thức dân tộc. Tác phẩm tái hiện thế giới tâm linh qua các nghi lễ, hội làng và tập tục cổ truyền. Văn hóa dân gian hòa quyện chặt chẽ với văn hóa cung đình. Tác giả phục dựng không khí thời đại thông qua các tín hiệu thẩm mỹ giàu tính biểu trưng. Lễ hội và tín ngưỡng đóng vai trò gắn kết cộng đồng trước họa xâm lăng. Tiểu thuyết lịch sử đương đại gìn giữ và làm mới các giá trị văn hóa truyền thống bằng cái nhìn hiện đại.
4.1. Biểu tượng tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội dân gian
Tín ngưỡng và tôn giáo là thành tố then chốt tạo nên không khí linh thiêng của tác phẩm. Biểu tượng chùa chiền, đền miếu và các bài văn tế chứa đựng linh khí nghìn năm. Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đan xen ảnh hưởng vào nếp sống của nhân vật. Lễ hội dân gian tái hiện sức sống mãnh liệt của quần chúng lao động. Tiếng trống hội và hội thề sông núi củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc. Tác giả sử dụng biểu tượng tín ngưỡng để biểu đạt niềm tin và khát vọng hòa bình muôn thuở.
4.2. Phương thức tái huyền thoại hóa văn hóa cộng đồng
Quá trình tái huyền thoại hóa tạo nên sức quyến rũ đặc biệt cho tiểu thuyết lịch sử. Nhà văn hiện đại hóa các huyền tích và truyền thuyết dân gian. Các yếu tố kỳ ảo được lồng ghép tự nhiên vào dòng chảy hiện thực. Tái huyền thoại hóa không phải là quay về mê tín dị đoan. Đây là phương thức nghệ thuật nhằm tôn vinh chiều sâu tâm linh của giống nòi. Tác phẩm kết nối ý thức hiện đại với ký ức cộng đồng nguyên thủy. Nhờ đó, lịch sử vừa giữ được vẻ thâm nghiêm vừa mang hơi thở đương đại.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (163 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đăng Điệp. Các kết quả nêu ra trong luận án là hoàn toàn trung thực; các kết luận được đưa ra chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác. Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2020 Tác giả Đoàn Thanh Liêm MỤC LỤC MỞ ĐẦU.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN. Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử. Cơ sở lí thuyết và hướng tiếp cận của luận án. HỆ BIỂU TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM.
Các biểu tượng Nước, Lửa, Đất, Trời. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. HỆ BIỂU TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM. Các biểu tượng đấng minh quân, kẻ sĩ, liệt nữ.
Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. HỆ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM. Các biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam .143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Tính cấp thiết của đề tài 1. Biểu tượng hiện hữu trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người biết tư duy về tự nhiên và xã hội với những hình ảnh đơn giản nhất. Từ xã hội nguyên thủy cho đến xã hội văn minh, từ con người tiền sử cho đến con người hiện đại, biểu tượng luôn được tạo ra như là một công cụ thực hiện chức năng xã hội, thể hiện nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội. Cùng với trình độ tư duy của con người ngày càng phát triển, thế giới biểu tượng càng ngày được thiết tạo phong phú và sinh động, sử dụng rộng rãi trên các mặt đời sống xã hội.
Biểu tượng “không chỉ là hiện tượng văn hóa thông thường, hệ thống biểu tượng là nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc” [31, tr. Hệ thống biểu tượng ấy không hề tồn tại độc lập mà xuyên thấu vào nhau vừa mang bản sắc văn hóa của thời đại mà nó được sản sinh ra vừa không ngừng được bổ sung các giá trị qua lịch sử phát triển. Biểu tượng không chỉ có trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, trong chính trị, hoạt động quảng cáo sản phẩm… mà biểu tượng cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật rất phong phú, đa dạng. Nó không chỉ là một hiện tượng văn hóa mà còn là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, thực hiện chức năng giao tiếp gắn kết giữa mĩ học sáng tạo và mĩ học tiếp nhận.
Nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm không chỉ có nghĩa định danh, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm mà còn có nghĩa “siêu niệm”. Tầng nghĩa ấy vừa mang tính phổ quát cộng đồng vừa mang cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trước thời đại, vừa lưu giữ nguồn gốc khởi thuỷ của nó vừa phảng phất vốn văn hoá, vốn sống của mỗi nhà văn, sự chi phối của tư duy nghệ thuật mỗi thời đại. Đặc biệt hơn, tầng nghĩa ấy không bao giờ giống nhau qua cách tiếp cận đồng đại và lịch đại. Về mặt nhận thức, có nhiều phương tiện thực hiện chức năng chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học.
Trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, thế giới biểu tượng là một phương tiện nghệ thuật thực hiện chức năng đó. Biểu tượng tự thân nó gắn liền với nội dung (tư tưởng, lịch sử, văn 1 hóa…) nào đó, đến lúc nội dung đó làm bình diện biểu hiện cho một nội dung khác cùng cấp độ hoặc khác cấp độ giá trị trong tác phẩm nghệ thuật. Những biểu tượng nghệ thuật ở đây không thuộc về điển cố, điển tích, không thuộc về ký hiệu chỉ dẫn, nó có thể hình thành từ những cổ mẫu mang tâm thức văn hoá cộng đồng, từ khả năng sáng tạo biểu tượng mới của người nghệ sĩ… Nó là một đơn vị ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp xã hội với việc tái tạo, cô đúc các giá trị văn hóa đi qua các thời đại lịch sử, thiết chế xã hội. Trong thực tiễn sáng tác, cùng với ngôn ngữ, biểu tượng thực hiện chức năng chuyển tải quan điểm của nhà văn về văn hóa, lịch sử dân tộc, tham gia vào quá trình liên kết văn bản, xây dựng tính cách nhân vật.
Đối với nền văn học đương đại Việt Nam (khái niệm đương đại mà chúng tôi sử dụng vừa dùng để chỉ mốc thời gian ấn hành các tác phẩm, đồng thời nói đến với sự đổi mới phương thức phản ánh và nội dung phản ánh trong tác phẩm nghệ thuật…), thể tài tiểu thuyết lịch sử có những đóng góp lớn, để lại dấu ấn sâu sắc. Minh chứng cho điều này là sự “thắng thế” của các tiểu thuyết lịch sử qua các lần trao giải và rất nhiều diễn đàn văn học bàn luận về tác giả và tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc trưng phức hợp. Thể tài văn học này lấy hiện thực lịch sử làm chất liệu “xương cốt” và hư cấu nghệ thuật làm “hồn phách” tinh anh của tác phẩm.
Đối tượng thẩm mĩ thường được các nhà văn hướng đến là những chi tiết, sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử được thời gian và các tầng lớp nhân dân phủ bóng trầm tích văn hóa trong quá trình tiếp nhận. Nhà văn sử dụng đặc trưng hư cấu để làm sáng tỏ thêm những góc khuất lịch sử trên tinh thần của thời đại ngày nay, qua đó nhắn gởi những thông điệp đến đời sống đương đại và mai sau. Trong thời gian qua, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình khoa học chỉ ra tiến trình vận động, phát triển, diện mạo, đặc điểm, các phương thức biểu đạt của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói chung, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam nói riêng từ góc nhìn lí luận loại thể văn học. Cốt lõi của các tác phẩm thuộc thể tài văn học này là thành tố lịch sử và văn hóa thì chưa có công trình nghiên cứu nào bàn luận sâu rộng, chuyên biệt.
Chỉ có một số bài viết bàn đến yếu tố văn hoá, lịch sử, đề cập 2 đến biểu tượng trong một tác phẩm cụ thể nào đó… Trước bối cảnh văn hóa và văn học thế giới đang xóa nhòa những khoảng cách, có khả năng chồng xếp và bị hút lẫn nhau, việc nghiên cứu thế giới biểu tượng nhằm khám phá chiều sâu địa tầng văn hoá, lịch sử nhân loại và dân tộc qua hệ thống tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam là rất cần thiết. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu - Khám phá những giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc Việt qua các hệ biểu tượng. - Trong quá trình khảo sát và phân tích các biểu tượng, chúng tôi sẽ làm rõ một số luận điểm có ý nghĩa định vị giá trị biểu tượng và sự kết nối các giá trị ấy với vấn đề đời sống xã hội, con người đương đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Luận án sẽ giới thuyết lại một số vấn đề lý luận về biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử trên tinh thần kế thừa, phát huy các công trình đã nghiên cứu trước đó. - Luận án tập trung khảo sát, nhận diện và phân tích một số hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản: hệ biểu tượng tự nhiên, hệ biểu tượng con người, hệ biểu tượng văn hoá cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. - Luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của biểu tượng là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng - ngôn ngữ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua tư duy nghệ thuật của nhà văn. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng trực tiếp mà luận án nghiên cứu là biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới. Về bản chất, biểu tượng nghệ thuật cũng là một loại ký hiệu, hàm chứa và biểu đạt vô vàn giá trị lịch sử, tư tưởng, văn hóa, của cá nhân, cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu, giải mã biểu tượng cho phép chúng ta mở rộng nhận thức, khám phá những giá trị ẩn khuất của tác phẩm, hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa nhân loại và dân tộc. Trong văn học, biểu tượng rời xa đời sống nguyên khởi của nó để trở thành một dạng ký hiệu, một đơn vị ngôn ngữ quan trọng để kiến tạo nghĩa.
Phạm vi nghiên cứu 3 Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, ở một chừng mực nào đó, luận án sẽ khảo sát tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước đó, đồng thời, so sánh với tiểu thuyết lịch sử của một số nền văn học khác để thấy rõ hơn thành tựu của tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu của luận án 4. Phương pháp hệ thống Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi tập hợp được các biểu tượng khác nhau, sắp xếp chúng theo hệ biểu tượng tương ứng để phân tích. Phương pháp hệ thống cũng giúp chúng tôi tập hợp được các công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.
Phương pháp so sánh Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ xác định được bản chất của đối tượng nghiên cứu trong tương quan với đối tượng của các công trình nghiên cứu khác; xác định bản chất của từng loại biểu tượng trong mối quan hệ với các biểu tượng khác. Phương pháp loại hình Nói đến loại hình là nói đến “tập hợp những sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc điểm cơ bản nào đó” [19, tr. Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi nhận dạng các biểu tượng khác nhau để xếp chúng về một kiểu loại phù hợp. Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa Biểu tượng là phương diện quan trọng của văn hóa và là phương tiện biểu đạt của văn học qua tư duy nghệ thuật của nhà văn.
Tiếp cận biểu tượng văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp luận án có điều kiện khám phá chiều sâu các giá trị của biểu tượng trong tác phẩm văn học.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đoàn Thanh Liêm (2020). Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-he-bieu-tuong-nghe-thuat-tieu-thuyet-lich-su-viet-nam-dang-dai
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá hệ biểu tượng nghệ thuật độc đáo trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, phản ánh tư tưởng và văn hóa dân tộc đương thời.
Luận án "Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.