Luận án: Cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại - Đại học Sư phạm TP.HCM
Luận án nghiên cứu cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại, so sánh đặc trưng nghệ thuật qua thời gian.
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Luan An
Luận văn
Năm xuất bản
Số trang
115
Thời gian đọc
18 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan cấu trúc đề thuyết theo ngữ pháp chức năng
- Số trang:
- 115 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Ngữ văn
- Tác giả:
- Luan An
- Năm:
- 1997
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan cấu trúc đề thuyết theo ngữ pháp chức năng
Ngữ pháp chức năng hệ thống mang lại góc nhìn mới cho ngôn ngữ học hiện đại. Phương pháp này thay thế mô hình chủ ngữ vị ngữ truyền thống vốn bắt nguồn từ các ngôn ngữ châu Âu. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không có biến tố hình thái. Cấu trúc câu tiếng Việt vận hành tự nhiên theo mô hình đề - thuyết. Cách phân chia này tương ứng chặt chẽ với hai phần của một mệnh đề logic. Cấu trúc đề thuyết phản ánh chính xác tư duy giao tiếp bản địa của người Việt. Mô hình này giải thích thỏa đáng hơn tám mươi phần trăm các kiểu câu phức tạp trong đời sống và văn chương. Câu đơn bậc hay đa bậc đều được phân tích mạch lạc và khoa học. Lý thuyết đề ngữ và thuyết ngữ đóng vai trò cốt lõi trong việc miêu tả ngữ pháp tiếng Việt hiện đại.
1.1. Hạn chế của ngữ pháp hình thức phương Tây
Ngữ pháp truyền thống áp đặt khuôn mẫu hình thức châu Âu vào việc phân tích tiếng Việt. Khuôn mẫu chủ vị đòi hỏi sự phù ứng nghiêm ngặt về giống, số và cách giữa các thành phần câu. Tiếng Việt hoàn toàn không tồn tại các đặc trưng hình thái học này trong thực tế sử dụng. Việc gò ép cú pháp dẫn đến nhiều bất cập lớn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy nhà trường. Hàng loạt câu giao tiếp thông dụng bị coi là câu bất quy tắc hoặc câu đảo ngữ một cách khiên cưỡng. Ngôn ngữ học hiện đại cần một hướng tiếp cận linh hoạt và chuẩn xác hơn. Mô hình phân tích chức năng tháo gỡ triệt để sự bế tắc này. Mọi câu văn đều được trả về đúng bản chất cấu trúc thông tin nguyên bản.
1.2. Khái niệm cốt lõi của đề ngữ và thuyết ngữ
Cấu trúc đề thuyết chia câu thành hai thành phần nền tảng là đề ngữ và thuyết ngữ. Đề ngữ nêu chủ đề chính của thông điệp cần truyền tải. Đề ngữ đóng vai trò làm điểm xuất phát vững chắc cho toàn bộ dòng thông báo. Thuyết ngữ cung cấp thông tin mới nhằm giải thích hoặc mở rộng nội dung về đề ngữ. Sự phân định ranh giới giữa đề ngữ và thuyết ngữ dựa trên dòng chảy thông tin thực tế của văn bản. Ngôn ngữ học văn bản coi cấu trúc này là đơn vị cơ bản trong quá trình phân tích diễn ngôn. Mô hình chức năng giúp người học nắm bắt bản chất tiếng Việt nhanh chóng. Việc ứng dụng cấu trúc này nâng cao năng lực viết văn bản chuẩn xác và tự nhiên.
II. Khảo cứu cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển
Thơ lục bát cổ điển thể hiện đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ của văn học dân tộc. Cấu trúc đề thuyết trong thể thơ này mang tính quy phạm và chặt chẽ. Câu thơ sáu chữ và tám chữ phân bố dung lượng thông tin rất cân đối. Đề ngữ thường xuất hiện ở dòng lục để neo giữ không gian, thời gian hoặc nhân vật trữ tình. Thuyết ngữ trải dài ở dòng bát nhằm mở rộng hành động, tính chất và tâm trạng nhân vật. Tổ chức thông tin trong câu thơ tuân thủ nghiêm ngặt thi pháp thơ lục bát truyền thống. Sự hòa phối thanh điệu gắn liền với cấu trúc ngữ nghĩa câu thơ. Cấu trúc câu nhiều tầng bậc tạo nên chiều sâu cảm xúc sâu lắng. Truyện Kiều là minh chứng tiêu biểu nhất cho nghệ thuật này.
2.1. Phân bố đề ngữ và thuyết ngữ trong cặp câu thơ
Dòng lục thường nắm giữ vai trò khởi đầu cho cấu trúc đề thuyết trong bài thơ. Dòng lục xác định khung cảnh nền tảng hoặc đối tượng xuất hiện trong tác phẩm. Dòng bát tiếp nhận và mở rộng nội dung thông tin qua hệ thống thuyết ngữ phong phú. Sự phân bổ này tạo ra thế cân bằng hoàn hảo giữa thông tin cũ đã biết và thông tin mới cần nhấn mạnh. Nhịp thơ chẵn hai hai hoặc bốn bốn hỗ trợ phân định ranh giới giữa các thành phần ngữ nghĩa. Mối liên kết giữa dòng sáu và dòng tám đạt độ khăng khít tuyệt đối. Cấu trúc đề thuyết giúp thơ lục bát cổ điển đạt được độ súc tích cao độ và tính hàm súc sâu sắc.
2.2. Cấu trúc đề thuyết đa bậc trong kiệt tác Truyện Kiều
Truyện Kiều chứa đựng hệ thống câu thơ có cấu trúc đề thuyết đa tầng bậc vô cùng phức tạp. Một cặp câu thơ lục bát có thể lồng ghép từ ba đến bốn tầng bậc đề thuyết kế tiếp nhau. Mỗi tầng bậc đảm nhận một chức năng tinh tế trong việc miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Đề ngữ trung tâm bao quát tư tưởng chủ đạo của toàn bộ đoạn thơ. Các tiểu đề ngữ phân nhánh làm rõ từng chi tiết hành động và biến chuyển của không gian. Thuyết ngữ kết thúc luôn tạo điểm nhấn cảm xúc lắng đọng trong tâm trí. Phân tích diễn ngôn thi ca cho thấy tài năng sử dụng tiếng Việt bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du.
III. Biến đổi cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát hiện đại kế thừa tinh hoa truyền thống đồng thời thực hiện nhiều cách tân táo bạo. Phong trào Thơ mới và các giai đoạn văn học sau này đã phá vỡ tính quy phạm cổ điển. Cấu trúc đề thuyết trở nên linh hoạt và phong phú hơn về mặt cú pháp. Đề ngữ không còn cố định nghiêm ngặt ở dòng lục như trước. Thuyết ngữ có thể xuất hiện đột ngột ở đầu dòng thơ hoặc bị chia cắt thành nhiều mảng nhỏ. Sự biến đổi này phản ánh tư duy nghệ thuật hiện đại đầy phóng khoáng. Thơ lục bát hiện đại thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân đa chiều và phức tạp. Ngôn ngữ thơ chuyển hóa gần gũi với nhịp điệu lời nói tự nhiên.
3.1. Đảo trật tự đề thuyết và sự giải phóng câu thơ
Thơ lục bát hiện đại thường xuyên sử dụng thủ pháp đảo trật tự giữa đề ngữ và thuyết ngữ. Thành phần thuyết ngữ được đẩy lên đầu dòng lục nhằm tạo ấn tượng thị giác và cảm xúc mãnh liệt. Đề ngữ bị lùi lại phía sau để tạo yếu tố bất ngờ cho cấu trúc diễn ngôn. Hiện tượng câu vắt dòng xuất hiện liên tục giữa các cặp lục bát kế tiếp nhau. Ranh giới ngữ pháp cố định giữa câu sáu và câu tám bị xóa nhòa hoàn toàn. Biện pháp nghệ thuật này gia tăng nhạc tính nội tại và sức gợi cảm cho tác phẩm. Cấu trúc câu tự do thể hiện trực tiếp những xung đột nội tâm sâu sắc của con người hiện đại.
3.2. Hiện tượng tỉnh lược đề ngữ trong thơ đương đại
Hiện tượng tỉnh lược đề ngữ diễn ra rất phổ biến trong các sáng tác thơ lục bát hiện đại. Câu thơ lược bỏ đề ngữ và chỉ giữ lại thành phần thuyết ngữ giàu tính biểu cảm. Ngữ cảnh văn bản buộc người tiếp nhận phải chủ động liên tưởng để khôi phục thông điệp ẩn giấu. Thao tác nghệ thuật này tạo ra những khoảng trống thẩm mỹ giàu sức gợi mở. Ngôn từ thơ ca trở nên cô đọng, sắc sảo và mang tiết tấu dồn dập. Tổ chức thông tin trong câu thơ tập trung tối đa vào dòng chảy tâm trạng và biểu tượng nghệ thuật trung tâm. Diễn ngôn thi ca mang đậm dấu ấn cá nhân hóa.
IV. Mô hình tiến triển đề thuyết và thi pháp thơ lục bát
Tiến triển đề thuyết là cơ chế cốt lõi duy trì tính mạch lạc và liên kết của văn bản thi ca. Khái niệm này xuất phát từ lý thuyết ngôn ngữ học văn bản hiện đại. Thi pháp thơ lục bát vận dụng linh hoạt nhiều mô hình tiến triển đề thuyết khác nhau để triển khai tứ thơ. Các mô hình chủ yếu gồm tiến triển tuyến tính, tiến triển đề liên tục và tiến triển từ một đề ngữ phân nhánh. Sự chuyển dịch nhịp nhàng từ đề sang thuyết giúp mạch thơ luôn liền mạch và tự nhiên. Cấu trúc thông tin được sắp xếp chặt chẽ tạo nên tính chỉnh thể nghệ thuật cao cho toàn bộ thi phẩm.
4.1. Dạng thức tiến triển đề thuyết tuyến tính liền mạch
Tiến triển đề thuyết tuyến tính chuyển hóa thuyết ngữ của câu thơ trước thành đề ngữ của câu thơ sau. Mạch thơ phát triển liên tục theo chuỗi sự kiện hoặc chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau không ngừng. Mối quan hệ nhân quả và trình tự thời gian hiển thị rõ ràng qua từng cặp câu lục bát. Dạng thức này xuất hiện dày đặc trong các đoạn thơ tự sự và miêu tả phong cảnh thiên nhiên. Tính liên kết văn bản được củng cố vững chắc qua từng dòng thơ. Mạch thơ dẫn dắt dòng cảm xúc một cách tự nhiên, mạch lạc và thuyết phục. Thơ lục bát phát huy tối đa thế mạnh kể chuyện nhờ mô hình này.
4.2. Dạng thức tiến triển đề liên tục và đề phân nhánh
Dạng thức tiến triển đề liên tục duy trì một đề ngữ cố định xuyên suốt nhiều cặp câu thơ liên tiếp. Mỗi câu thơ tiếp theo bổ sung thêm một thuyết ngữ mới để khắc họa sâu sắc chân dung hoặc tính cách nhân vật. Ngược lại, mô hình đề phân nhánh chia nhỏ một siêu đề ngữ ban đầu thành nhiều tiểu đề ngữ độc lập. Kỹ thuật này giúp bài thơ sở hữu bố cục không gian đa tầng và góc nhìn toàn cảnh rộng lớn. Phân tích diễn ngôn thi ca khẳng định sự đa dạng của các mô hình tổ chức văn bản. Cả hai dạng thức đều nâng cao sức mạnh biểu đạt cho thể thơ lục bát.
V. Phân tích diễn ngôn thi ca qua cấu trúc câu thơ Việt
Phân tích diễn ngôn thi ca qua cấu trúc đề thuyết mang lại giá trị học thuật to lớn và bền vững. Phương pháp này thiết lập cầu nối chặt chẽ giữa ngôn ngữ học văn bản và nghệ thuật thi ca truyền thống. Câu thơ lục bát không còn là tập hợp từ ngữ cảm tính mà là một cấu trúc giao tiếp hoàn chỉnh. Từng dòng thơ vận hành như một đơn vị thông tin mạch lạc và chuẩn xác. Ngữ pháp chức năng hệ thống cung cấp công cụ khoa học sắc bén để giải mã tư duy thẩm mỹ của người Việt. Việc nghiên cứu này tạo tiền đề vững chắc cho công tác đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Việt.
5.1. Tổ chức thông tin trong câu thơ và tư duy người Việt
Tổ chức thông tin trong câu thơ phản ánh sâu sắc nếp tư duy và cảm thức ngôn ngữ của người Việt Nam. Xu hướng tự nhiên của tiếng Việt luôn bắt đầu từ thông tin đã biết trước khi dẫn nhập thông tin mới. Cấu trúc đề thuyết đáp ứng trọn vẹn quy luật nhận thức và giao tiếp tự nhiên này. Trật tự sắp xếp thông tin tạo ra âm hưởng êm ái, nhịp nhàng và rất dễ ghi nhớ. Thơ lục bát trở thành phương tiện lưu giữ văn hóa dân gian hiệu quả nhất của dân tộc. Việc thấu hiểu cơ chế tổ chức câu thơ giúp nâng cao năng lực cảm thụ văn chương một cách bài bản.
5.2. Ứng dụng ngữ pháp chức năng trong giảng dạy văn học
Ứng dụng ngữ pháp chức năng hệ thống vào nhà trường mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người học. Giáo viên có cơ sở khoa học để phân tích vẻ đẹp cấu trúc của thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại. Học sinh tiếp thu bài học dễ dàng mà không bị gò ép bởi những khuôn mẫu cú pháp phương Tây xa lạ. Năng lực tạo lập văn bản và khả năng tư duy ngôn ngữ được cải thiện rõ rệt. Việc phân tích đề ngữ và thuyết ngữ giúp xây dựng câu văn đúng ngữ pháp và giàu nhịp điệu. Đây là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt hiện nay.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (115 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI NÓI ĐẦU Ngữ pháp chức năng với một hệ thống phƣơng pháp tiếp cận các hiện tƣợng ngôn ngữ phù hợp đang đƣợc các nhà ngôn ngữ Việt Nam quan tâm. Hệ phƣơng pháp này đã và đang tạo ra một cách nhìn nhận mới trong việc nghiên cứu, mô tả chính xác hơn bản chất tiếng Việt. Đặc biệt với hệ thống lý thuyết khoa học, chặt chẽ, ngữ pháp chức năng đã giúp các nhà Việt ngữ học miêu tả phân tích câu thành cấu trúc đề thuyết. Đề tài luận văn này của chúng tôi trình bày kết quả kháo sát, miêu tả cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại theo quan điểm ngữ pháp chức năng.
Do vấn đề còn mới mẻ và tài liệu nghiên cứu ít ỏi nên luận văn chỉ thực hiện ở mức độ nhất định. Chúng tôi xin đƣợc bày tỏ nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo sƣ Cao Xuân Hạo - ngƣời thầy đã đành nhiều thời gian và công sức để hƣớng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn. Chúng tôi cũng xin cám ơn sự động viên giúp đỡ của Quí Thầy Cô Khoa Ngữ văn Trƣờng Đại học sƣ phạm, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và của các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài.HCM, ngày 15 tháng 12 năm 1997 1 NHỮNG KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VẪN Đ : Đề CĐ : Chủ đề KĐ : Khung đề T : Thuyết C : Câu : Yếu tố tĩnh lƣợc Tr : Trạng ngữ 2 DẪN NHẬP I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1.
Ngữ pháp chức năng với sự phát triển đầy hứa hẹn của nó trên thế giới ngày nay đã đem lại cho ngữ pháp tiếng Việt nhiều phát hiện lý thú và bổ ích, góp phần giúp cho việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt khắc phục tình trạng khó khăn hiện nay do việc cố gò theo khuôn mẫu ngữ pháp của một ngôn ngữ khác. "Trong nhiều thế kỷ, các sách ngôn ngữ đại cƣơng đều khái quát hóa những đặc trƣng hình thức của ngữ pháp các ngôn ngữ Châu Âu, coi đó là những thuộc tính chung của mọi ngôn ngữ và trong quá trình miêu tả các ngôn ngữ thuộc những loại hình ngôn ngữ khác nhau, ngƣời ta cố gò cấu trúc của ngôn ngữ này vào khuôn mẫu của câu trúc ngôn ngữ Châu Âu. Đặc biệt kết cấu chủ ngữ, vị ngữ mà nội dung thực chất là một mối quan hệ hình thái học không biểu hiện một quan hệ nhất định nào về nghĩa và về logic, giữa một danh từ mang danh cách và một động từ "đã chia" phù ứng với danh từ về ngôi và số, đƣợc xem là tiêu chí để phân loại câu trong mọi ngôn ngữ"1. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không cho thấy một cái gì có thể gọi là chủ ngữ cả, vì tiếng Việt không có cách và không có sự phù ứng về hình thái học.
Trong tiếng Việt câu chia làm hai phần Đề và Thuyết tƣơng ứng với hai phần của một mệnh đề trong logic học. Hơn nữa, nếu phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu chủ - vị thì chỉ phân tích đƣợc những kiểu câu giống nhƣ câu ngôn ngữ Châu Âu còn những kiểu câu không giống thì phải đảo lại cho giống hoặc xem là câu đặc biệt, còn lại khoảng 80% những câu thƣờng dùng trong tiếng Việt hội thoại cũng nhƣ trong văn học cổ điển và dân gian thì hầu nhƣ không đƣợc đề cập đến. Ngay cả trong sách giáo khoa dạy cho học sinh phổ thông, tình hình cũng không khác bao nhiêu. Kết quả của tình hình này là học sinh tốt nghiệp phổ thông không viết đƣợc tiếng Việt một cách chững chạc vì những tri thức đƣợc trình bày trong sách giáo khoa rất xa với thực tế tiếng Việt và không hoàn toàn phù hợp với cảm thức của ngƣời Việt Trong khi đó, mô hình phân tích câu thành hai phần đề - thuyết cho phép phân tích một cách thỏa đáng và đơn giản hầu hết các kiểu câu một bậc hay nhiều bậc, có những câu có đến bốn năm bậc đề - thuyết mà nếu phân tích theo chủ ngữ, vị ngữ thì không sao phân tích một cách ổn thỏa đƣợc.
1 Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tƣơm - Nguyễn Văn Bằng - Câu trong tiếng Việt - 1992 - Trang 4. Việc phân tích câu thành cấu trúc đề - thuyết là một việc làm cần thiết trong nhà trƣờng hiện nay. Vì ngữ pháp truyền thống không phù hợp với yêu cầu dạy tiếng Việt thực hành trong nhà trƣờng. Việc phân tích câu thành câu trúc để thuyết không chỉ giúp học sinh nắm kiến thức khoa học dễ tiếp thu và ứng dụng cho tiếng Việt mà còn giúp các em sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp một cách chủ động và thích đáng.
Chúng tôi vận dụng quan điểm và phƣơng pháp của ngữ pháp chức năng để miêu tả, khảo sát các kiểu câu theo mô hình Đ - T, chủ yếu là trong thơ lục bát cổ điển, hiện đại và dân gian. Chúng tôi quan niệm đây là một dịp thử nghiệm nhằm thử thách thêm hiệu lực của thủ pháp phân tích câu theo mô hình Đề - Thuyết trong tiếng Việt nói chung và thơ lục bát nói riêng, một thể thơ có thể coi là phổ thông nhất của văn học Việt Nam. Trên cơ sở đó chúng tôi muôn đƣa ra một vài nhận xét về sự đồng nhất và khác biệt giữa thơ lục bát cổ điển, dân gian và hiện đại. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: Ngữ pháp chức năng với tên tuổi của các nhà chức năng luận nhƣ L.
đang tạo ra những hƣớng đi mới đầy lạc quan cho sự nghiệp nghiên cứu tiếng Việt. Quan điểm của ngữ pháp chức năng đã có đủ cơ sở để các nhà Việt ngữ học đi sâu vào việc nghiên cứu. tìm hiểu những vấn đề chƣa dƣợc quan tâm thỏa đáng. Đó là vấn đề cấu trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt.
Cấu trúc thông báo và hai thành phần Đề - Thuyết của câu: Kể từ Aristote trở đi (thế kỷ thứ V trƣớc Công nguyên) ngôn ngữ học phƣơng Tây thƣờng phân tích câu nhƣ gồm có hai thành phần "logic": Chủ ngữ và Vị ngữ. Trong một thời gian kéo dài hơn hai mƣơi thế kỷ, các nhà ngôn ngữ học và các nhà lôgic học yên trí rằng sự phân chia này có hiệu lực trên cả hai bình diện tƣ duy và ngôn ngữ - và cách suy nghĩ đó khá hợp lý và tự nhiên, vì việc ngôn ngữ sinh ra là để diễn đạt tƣ duy là một chân lý mà xƣa nay chƣa hề có ai hồ nghi. Nhƣng đến một lúc nào đó (cụ thể là vào cuối thế kỷ XIX), các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nhận thấy rằng Chủ ngữ trong câu không phải bao giờ cũng trùng với Chủ ngữ trong mệnh đề. và từ đấy họ thấy cần phân biệt Chủ ngữ ngữ pháp với Chủ ngữ lôgic.
Năm 1939, một nhà ngôn ngữ học của Trƣờng Prague là V.Mathcsius nhận thấy rằng bên cạnh cách phân đoạn câu thành Chủ ngữ (ngữ pháp) và Vị ngữ, một cách phân đoạn thuần túy hình thức. còn có một cách phân đoạn thực tại hơn nhiều: cách phân đoạn thành Đề và Thuyết (Thema và Rhema) mà nội dung là "cấu trúc thông 4 báo" của câu, phân biệt Cái cho sẵn với Cái mới. Năm 1958, một nhà Hán học Mỹ là C.RHockett, tuy không dẫn Mathesius, đã gần nhƣ lặp lại lý thuyết Phân đoạn thực tại khi ông phân chia câu ra thành hai phẫn Topic và Comment. Từ đấy trở đi, hai khái niệm Đề và thuyết ngày càng trở thành quan thuộc đối với giới ngôn ngữ học, và đến những năm 1970, nhất là sau khi cuốn Subject and Topic do C.Li chủ biên ra đời, ngƣời ta đã nhận ra rằng có những ngôn ngữ khó lòng có thể phân tích theo mô hình Chủ - Vị: câu của các ngôn ngữ này cần đƣợc phân tích theo mô hình khác: mô hình Đề - Thuyết, mà đa số các tác giả đồng nhất với cấu trúc thông báo.
Cấu trúc đề - thuyết trong Việt ngữ học: 2. Trƣớc đây chƣa có công trình nào tập trung nghiên cứu cấu trúc đề -thuyết của câu một cách có hệ thống, cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt đƣợc các nhà Việt ngữ học mô tả theo mô hình "chủ vị" sở dĩ họ làm đƣợc nhƣ vậy là nhờ ở chỗ khái niệm chủ ngữ không bao giờ đƣợc các tác giả Việt ngữ học định nghĩa một cách hiển ngôn. Và đủ chính xác. Chủ ngữ đƣợc họ đồng nhất với tham tố thứ nhất trong lõi vị ngữ hoặc với một số vai nghĩa đƣợc chọn một cách tiên nghiệm.
Tuy vậy từ khá lâu đã có những tác giả cảm thấy có một cái gì không thật ổn trong cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình Chủ - Vị. Theo Giáo sƣ Cao Xuân Hạo thì Nguyễn Kim Thản là ngƣời đầu tiên thấy đƣợc rằng danh ngữ ở đầu những câu nhƣ: (1) Sách để trên bàn. (2) Ghế này ngồi đƣợc ba ngƣời1. cũng cần đƣợc xử lý về ngữ pháp nhƣ các danh ngữ chỉ vật trải qua quá trình (sách roi) hay mang tính chất (sách hay lắm).
Các danh ngữ ở (1) và (2) cũng đƣợc coi là chủ ngữ2. Hơn nữa, trong "cơ sở ngữ pháp tiếng Việt" xuất bản năm 1981 Nguyễn Kim Thản lại viết: "Chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ", "đúng ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo"3. Ông đồng nhất sự phân biệt giữa hai phần này với sự phân biệt giữa topic (phần nêu) và comment (phần báo). Nhƣng vì ông không định nghĩa hai khái niệm này một cách hiểu ngôn nên ông đã tỏ ra thiếu nhất quán khi phân tích các danh ngữ (giới ngữ) ở đầu những câu nhƣ: 1 Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31.
2 Cao Xuân Hạo - Sơ thảo ngữ pháp chức năng - Quyển 1 - Viện KHXH - 1991 - Trang 145. 3 Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31. 5 (3) Trong nhà nóng hơn. (4) Ở nhà có gửi thƣ.
Nguyễn Kim Thản cho các danh ngữ ở (3) và (4) là chủ ngữ còn danh ngữ ở (5) lại là trạng ngữ. Ngoài Nguyễn Kim Thản còn có Trƣơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong "Khảo luận về ngữ pháp Việt nam" Xuất bản 1963 cũng viết về các danh ngữ ở đầu câu. (6) Thƣ gửi cho Ất rồi. (7) Quyển sách này mua ở hiệu mỗ.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại (1997) [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-cau-truc-de-thuyet-trong-tho-luc-bat-co-dien-va-hien-dai
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại, so sánh đặc trưng nghệ thuật qua thời gian.
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 1997.
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" thuộc chuyên ngành Ngữ văn. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" có 115 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.