Luận án tiến sĩ: Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam giai đoạn sau 1985
"Khám phá hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985 qua góc nhìn văn hóa và xã hội. Phân tích xu hướng sáng tác độc đáo."
Số trang
171
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Diện mạo hồi ký văn học Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới
- Số trang:
- 171 trang
- Trường:
- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Văn học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Diện mạo hồi ký văn học Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới
Văn học Việt Nam sau năm 1985 bước vào giai đoạn cách tân mạnh mẽ. Thể loại hồi ký văn học Việt Nam có bước chuyển biến sâu sắc về tư duy nghệ thuật. Thể loại này không còn nằm ở vị trí ngoại vi hay cận văn học. Hồi ký vươn lên thành một phương thức biểu đạt nghệ thuật độc lập và bình đẳng. Các tác giả giải phóng ngòi bút khỏi những khuôn mẫu cũ. Tác phẩm tập trung phản ánh hiện thực sinh động qua lăng kính cá nhân. Đời sống văn học thời kỳ Đổi Mới ghi nhận sự nở rộ của nhiều tập hồi ký giá trị. Thể loại này đáp ứng nhu cầu nhận thức lại quá khứ của xã hội. Hồi ký trở thành tấm gương phản chiếu hành trình sáng tạo và số phận con người.
1.1. Bối cảnh chuyển biến của văn học thời kỳ Đổi Mới
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 tạo tiền đề cho sự đổi mới tư duy toàn diện. Văn học thời kỳ Đổi Mới mở rộng biên độ phản ánh hiện thực. Môi trường sáng tác trở nên dân chủ và cởi mở hơn. Ý thức cá nhân được tôn trọng và khuyến khích phát triển. Các nhà văn nhìn nhận lại các sự kiện lịch sử dưới góc nhìn đa chiều. Văn học thoát khỏi cái nhìn đơn tuyến và ước lệ. Sự thay đổi tư duy thẩm mỹ thúc đẩy các thể loại phi hư cấu phát triển. Trong bối cảnh đó, hồi ký văn học Việt Nam nhanh chóng xác lập vị thế vững chắc trên văn đàn.
1.2. Vị thế thể loại hồi ký văn học Việt Nam sau 1985
Hồi ký trước năm 1985 thường thiên về ghi chép sự kiện lịch sử và phục vụ mục tiêu tuyên truyền. Sau năm 1985, thể loại này chuyển hướng khám phá chiều sâu tâm lý và đời sống nội tâm. Hồi ký văn học Việt Nam khẳng định giá trị thẩm mỹ tương đương với tiểu thuyết hay thơ ca. Thể loại ký mở rộng phạm vi tiếp cận từ không gian cộng đồng sang không gian cá nhân. Tác phẩm hồi ký thu hút sự quan tâm lớn từ công chúng và giới nghiên cứu. Hồi ký sau 1985 trở thành nguồn tư liệu quý giá về lịch sử văn hóa và đời sống tinh thần.
II. Sự chuyển dịch hình tượng tác giả trong hồi ký sau 1985
Hình tượng tác giả trong hồi ký trải qua quá trình vận động rõ rệt. Tác giả không còn đóng vai trò người ghi chép đơn thuần. Tác giả xuất hiện như một chủ thể sáng tạo độc lập với quan điểm thẩm mỹ riêng. Sự thay đổi này phản ánh bước tiến của tư duy nghệ thuật hiện đại. Hình tượng cái tôi tác giả được soi chiếu từ nhiều bình diện phức tạp. Tác phẩm thể hiện rõ nét sự chuyển dịch từ ý thức tập thể sang tự ý thức cá nhân. Người cầm bút dũng cảm đối diện với chính mình trong quá khứ. Đây là bước đột phá quan trọng của thể loại hồi ký văn học Việt Nam.
2.1. Sự phát triển từ cái tôi sử thi sang cái tôi thế sự đời tư
Giai đoạn trước năm 1985 đề cao cái tôi sử thi gắn liền với vận mệnh dân tộc. Tác giả thường đóng vai trò đại diện cho tiếng nói cộng đồng. Sau năm 1985, cái tôi thế sự đời tư trở thành trung tâm của trang viết. Nhà văn tập trung khám phá những góc khuất trong cuộc sống thường nhật. Những biến cố cá nhân, nỗi đau riêng tư và sự va đập số phận được thể hiện chân thực. Hình tượng cái tôi tác giả hiện lên bình dị, gần gũi và chân thật. Sự chuyển đổi này giúp hồi ký chạm tới những giá trị nhân bản sâu sắc.
2.2. Nhu cầu tự ý thức cá nhân của tác giả hồi ký
Tự ý thức cá nhân là động lực cốt lõi thôi thúc các nhà văn cầm bút viết hồi ký. Người viết có nhu cầu nhìn nhận lại toàn bộ hành trình sống và sáng tạo. Tác giả tự vấn lương tâm trước những sai lầm hay ngộ nhận trong quá khứ. Hành trình viết hồi ký là hành trình giải mã chính bản thân. Nhu cầu bộc lộ cá tính sáng tạo thể hiện qua từng trang viết. Nhà văn không ngần ngại phơi bày những giới hạn của bản thân. Tinh thần tự phê phán và tự thức tỉnh làm nên chiều sâu nhân văn cho tác phẩm.
III. Hình tượng cái tôi tác giả đa diện trong hồi ký sau 1985
Hình tượng cái tôi tác giả trong hồi ký sau 1985 mang diện mạo phong phú và đa chiều. Tác giả vừa là nhân chứng lịch sử, vừa là người trải nghiệm sâu sắc. Các trang hồi ký ghi lại những thăng trầm của đời sống văn nghệ và xã hội. Tác phẩm thể hiện cái nhìn hiện thực qua những bức tranh đời sống sinh động. Tác giả đóng vai trò chủ thể đối thoại với bạn đọc và với thời đại. Những suy ngẫm về thân phận con người tạo nên sức nặng tư tưởng cho tác phẩm. Hình tượng người cầm bút hiện lên với đầy đủ phẩm chất trí tuệ và sự từng trải.
3.1. Hình tượng cái tôi tác giả qua chân dung tự họa và bạn bè
Hình tượng cái tôi tác giả được khắc họa sinh động qua nghệ thuật chân dung tự họa. Tác giả tự phác thảo diện mạo tinh thần với những ưu điểm và hạn chế chân thực. Đồng thời, hồi ký tái hiện chân dung bè bạn cùng thời với cái nhìn ấm áp và bao dung. Thế hệ văn nghệ sĩ một thời được tái hiện sống động qua từng kỷ niệm. Mối quan hệ giữa tác giả và đồng nghiệp làm nổi bật đời sống văn hóa của một thời kỳ. Bức tranh chân dung tập thể bổ sung và làm phong phú thêm cho chân dung của chính tác giả.
3.2. Chủ thể đối thoại giữa quá khứ và hiện tại đầy chiêm nghiệm
Tác giả hồi ký đóng vai trò chủ thể kết nối dòng chảy thời gian. Những câu chuyện của quá khứ mang đến lời giải đáp cho các vấn đề của hiện tại. Tinh thần đối thoại dân chủ thay thế cho lối áp đặt tư tưởng đơn chiều. Tác giả cởi mở trao đổi với bạn đọc về những bài học lịch sử. Cuộc đối thoại diễn ra với thái độ cầu thị và tinh thần trách nhiệm cao. Sự tương tác giữa quá khứ và hiện tại tạo nên độ sâu lắng cho tác phẩm. Tinh thần đổi mới và tư tưởng dân chủ được khẳng định mạnh mẽ qua đối thoại.
IV. Phương thức trần thuật hình tượng tác giả trong hồi ký
Phương thức trần thuật đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng hình tượng tác giả. Tác giả kết hợp linh hoạt nhiều thủ pháp nghệ thuật hiện đại. Sự phối hợp giữa kể, tả và bộc lộ cảm xúc tạo nên cấu trúc văn bản chặt chẽ. Không gian và thời gian nghệ thuật được tổ chức theo dòng hồi tưởng tâm lý. Điểm nhìn trần thuật biến hóa linh hoạt giữa hiện tại và quá khứ. Ngôn ngữ hồi ký giàu tính tạo hình và biểu cảm. Những yếu tố này góp phần khắc họa rõ nét chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo.
4.1. Vai trò của người trần thuật ngôi thứ nhất và điểm nhìn
Người trần thuật ngôi thứ nhất là phương thức biểu đạt đặc trưng của hồi ký. Hình thức này tạo ra sự kết nối trực tiếp và chân thành với người tiếp nhận. Người trần thuật ngôi thứ nhất vừa đóng vai nhân vật trải nghiệm, vừa là người quan sát và bình luận. Điểm nhìn trần thuật có sự đan xen giữa điểm nhìn của quá khứ và điểm nhìn của hiện tại. Sự dịch chuyển điểm nhìn giúp tái hiện sự kiện với độ chính xác cao. Đồng thời, thủ pháp này cho phép tác giả thể hiện những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời.
4.2. Xử lý sự thật lịch sử và hư cấu cùng khoảng cách trần thuật
Mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu là vấn đề then chốt trong hồi ký văn học. Hồi ký đòi hỏi tính xác thực nghiêm ngặt về sự kiện và con người. Tuy nhiên, yếu tố hư cấu nghệ thuật và liên tưởng tâm lý vẫn được vận dụng khéo léo. Khoảng cách trần thuật giữa thời điểm xảy ra sự kiện và thời điểm viết tạo điều kiện cho sự chiêm nghiệm. Khoảng cách thời gian giúp tác giả nhìn nhận quá khứ một cách khách quan và tỉnh táo. Sự kết hợp hài hòa này nâng tầm giá trị thẩm mỹ cho tác phẩm hồi ký.
4.3. Giọng điệu chiêm nghiệm suy tư trong không gian thời gian ký ức
Giọng điệu chiêm nghiệm suy tư là âm hưởng chủ đạo trong hồi ký sau năm 1985. Tác giả nhìn lại quá khứ bằng thái độ bình thản và thấu hiểu. Giọng điệu trần thuật mang tính đối thoại, giàu chất triết lý và tự vấn. Không gian nghệ thuật dịch chuyển linh hoạt giữa không gian thực tại và không gian ký ức. Thời gian trần thuật đan xen giữa thời gian tuyến tính và thời gian tâm trạng. Sự hòa quyện này tạo nên không khí sâu lắng cho tác phẩm. Giọng điệu chiêm nghiệm thể hiện bản lĩnh văn hóa và độ chín muồi trong tư tưởng của tác giả.
V. Ý nghĩa của hình tượng tác giả trong hồi ký văn học mới
Hình tượng tác giả trong hồi ký sau 1985 đánh dấu bước tiến lớn của nền văn học dân tộc. Thành công này khẳng định năng lực tự nhận thức và đổi mới tư duy của giới cầm bút. Hồi ký không chỉ lưu giữ ký ức cá nhân mà còn phản ánh lịch sử xã hội. Thể loại này làm phong phú thêm hệ thống thể loại của văn học thời kỳ Đổi Mới. Hình tượng tác giả chân thực và đa chiều tạo nên sức cuốn hút bền lâu cho tác phẩm. Nghiên cứu hình tượng tác giả giúp làm sáng tỏ diện mạo văn học Việt Nam đương đại.
5.1. Khẳng định tính chân thực trong hồi ký văn học hiện đại
Tính chân thực trong hồi ký là tiêu chuẩn thẩm mỹ hàng đầu tạo nên sức thuyết phục. Sau năm 1985, tính chân thực không chỉ dừng ở sự kiện bề mặt. Tính chân thực mở rộng sang sự trung thực về cảm xúc và tư tưởng của người viết. Tác giả không né tránh những sai lầm, đau buồn hay dằn vặt nội tâm. Sự dũng cảm đối diện với sự thật giúp tác phẩm khẳng định giá trị nghệ thuật lâu bền. Đồng thời, tính chân thực trong hồi ký khẳng định nhân cách và trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ.
5.2. Đóng góp vào tiến trình dân chủ hóa văn học đương đại
Sự đổi mới hình tượng tác giả thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình dân chủ hóa đời sống văn học. Quyền tự do sáng tạo và bày tỏ quan điểm cá nhân được khẳng định vững chắc. Các tác phẩm hồi ký mở ra không gian đối thoại lành mạnh về các giá trị lịch sử và nghệ thuật. Văn học thời kỳ Đổi Mới ghi nhận sự đa dạng về phong cách và hình thức biểu hiện. Hồi ký văn học Việt Nam sau 1985 đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền văn học hiện đại và nhân văn.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (171 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác, khoa học. Các trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu khoa học của mình.
Tác giả luận án LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đƣợc luận án này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS. Lý Hoài Thu - Ngƣời hƣớng dẫn khoa học tâm huyết đã tận tình chỉ bảo, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hƣớng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Chủ nhiệm cùng tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Văn học đã tạo điều kiện, giúp đỡ, chỉ bảo và chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, tôi xin gửi tấm ân tình tới cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình tôi - những ngƣời đã theo sát và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua.
Đó chính là nguồn động viên, cổ vũ giúp tôi có thêm động lực và sự cố gắng để hoàn thành luận án này. Tác giả luận án MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Đóng góp mới của luận án. Cấu trúc luận án. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.
Những vấn đề lý luận chung về hình tƣợng tác giả và hồi ký. Khái niệm tác giả và hình tƣợng tác giả. Khái niệm hồi ký và hồi ký văn học. Những công trình, bài viết về hồi ký văn học Việt Nam sau 1985.
Những công trình, bài báo nghiên cứu khái quát. Những công trình, bài báo nghiên cứu về từng tác giả, tác phẩm. Hình tƣợng tác giả dƣới điểm nhìn chủ thể. 38 CHƢƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƢỢNG TÁC GIẢ VÀ DIỆN MẠO HỒI KÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1985.
Các kiểu hình tƣợng tác giả trong văn học. Một số loại hình tác giả. Sự vận động của hình tƣợng tác giả. Sự giao thoa giữa hình tƣợng tác giả - ngƣời kể chuyện với ngƣời trần thuật trong hồi ký văn học.
Diện mạo của hồi ký văn học Việt Nam. Hồi ký văn học trƣớc 1985. Hồi ký văn học từ sau 1985 đến nay. 62 CHƢƠNG 3: HÌNH TƢỢNG TÁC GIẢ - NHỮNG CHỦ THỂ GIAO TIẾP.
NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÝ VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1985. Chủ thể qua những chân dung văn học. Chân dung tự họa. Chân dung bè bạn một thời.
Hình tƣợng tác giả nhƣ là những chủ thể giàu trải nghiệm. Cái nhìn hiện thực qua những bức tranh đời sống sinh động. Những suy ngẫm về thân phận con ngƣời. Hình tƣợng tác giả nhƣ là chủ thể đối thoại, kết nối với quá khứ và hiện tại.
Những câu chuyện của quá khứ mang đến lời giải đáp cho hiện tại. Tƣ tƣởng dân chủ và tinh thần đổi mới. 108 CHƢƠNG 4: HÌNH TƢỢNG TÁC GIẢ TRONG HỒI KÝ VĂN HỌC SAU 1985 NHÌN TỪ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THUẬT. Không gian và thời gian nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật. Các phƣơng thức trần thuật. Điểm nhìn trần thuật.
Ngôn ngữ trần thuật. Sự kết hợp giữa kể, tả và bộc lộ cảm xúc. Giọng điệu trần thuật. 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
153 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. Cb Chủ biên 2. ĐHSP Đại học Sƣ phạm 3. ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn 4.
KHXH Khoa học xã hội 5. KLTN Khóa luận tốt nghiệp 6. Nxb Nhà xuất bản 7. LATS Luận án Tiến sĩ 8.
LVThS Luận văn Thạc sĩ 9. Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn học Việt Nam từ 1975 đã có sự cách tân, phát triển ở nhiều bình diện. Một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự đa dạng hóa của đời sống văn học giai đoạn này là sự vận động, đổi mới về mặt thể loại.
Ở những giai đoạn trƣớc, từ quan niệm của từng cộng đồng văn học, có những thể loại đƣợc xem là trụ cột, trung tâm (tiểu thuyết, thơ), cũng có những thể loại chỉ nằm ở ngoại vi/cận văn học (những thể tài phi hƣ cấu nhƣ: nhật ký, thƣ từ, tản văn, nhàn đàm,…). Từ sau đổi mới (tức sau Đại hội VI, năm 1986), trong sự chuyển đổi tƣ duy nghệ thuật, “cái nhìn thể loại” cũng có sự thay đổi. Tự thân sự vận động của từng thể loại, sự bình đẳng thể loại ngày càng đậm rõ trong quan niệm, trong tâm thế tiếp nhận của công chúng độc giả/cộng đồng văn học. Theo Bakhtin: “Không thể có tác phẩm nằm ngoài thể loại.
Tác phẩm chỉ tồn tại trong một hình thức thể loại cụ thể”. Theo ông, “nhân vật chính yếu” của lịch sử văn học là thể loại; lịch sử văn học là lịch sử đấu tranh giữa các thể loại, chứ không phải là lịch sử trào lƣu và trƣờng phái” [8, tr. Cho nên, khi bàn về văn học, M. Bakhtin bao giờ cũng dành cho vấn đề thể loại một vị trí đặc biệt.
Trong đời sống văn học, các thể loại luôn đƣợc đặt trong quan hệ đồng đẳng về giá trị, song mỗi thể loại là sự thể hiện “một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con ngƣời” [8, tr. Hồi ký là một trong những dạng thức đặc biệt trong diễn trình văn học Việt Nam nói chung và giai đoạn sau đổi mới nói riêng. Đây là một tiểu thể loại nằm trong thể loại ký. Một tiểu thể loại “trẻ” nhƣng chủ thể sáng tạo lại “già”.
Họ là những tác giả đã trải qua một hành trình sáng tác lâu dài, có tên tuổi và vị trí trên văn đàn. Họ thậm chí đã thành công ở các thể loại văn học khác, nay lại “bén duyên” với hồi ký. Sự thúc đẩy thể hồi ký phát triển và nhu cầu nhận thức lại quá khứ trở nên bức thiết; nhu cầu giãi bày của chủ thể sáng tạo; “cái tôi” cá nhân của tác giả trở thành đối tƣợng phản ánh. Và chính tinh thần dân chủ hóa của đời sống xã hội, sự 1 giải thể chế độ bao cấp cũng nhƣ tƣ duy bao cấp mở đƣờng cho sự xuất bản một cách rộng rãi của hồi ký đã tạo điều kiện để các nhà văn bộc lộ, giải tỏa những ẩn ức, tái hiện những hiện thực bị bỏ quên hoặc khuất lấp.
Nhu cầu tự thân của thể loại, cùng với sự đa dạng hóa cũng nhƣ sự dung hợp thể loại đã tạo nên diện mạo hồi ký phong phú, làm nên một mảng sinh động, mới mẻ trong đời sống văn học. Hơn 30 năm sau đổi mới, có hàng loạt hồi ký của nhiều tầng lớp ngƣời trong xã hội đƣợc xuất bản, trong số đó, hồi ký của các nhà văn chiếm một số lƣợng lớn. Nhiều tác phẩm hồi ký ra đời gây xôn xao dƣ luận và trở thành hiện tƣợng văn học. Mỗi thiên hồi ký là những bức tranh hiện thực của đất nƣớc trong mỗi giai đoạn.
Nhiều số phận, nhiều cảnh ngộ, nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ đƣợc nhìn nhận lại từ điểm nhìn hiện tại. Từ “cự ly gần”, chân dung tự họa của nhà văn (chủ thể hồi ký/ ngƣời kể chuyện) cũng nhƣ những chân dung đƣợc họa (nhân vật đƣợc khúc xạ qua cái nhìn thẩm mỹ của thể loại) hiện ra cụ thể, rõ nét. Trong lịch sử nghiên cứu về thể ký, đã có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu các tiểu loại nhƣ: tùy bút, bút ký, du ký, tạp văn, phóng sự văn học… thành công. Tuy vậy, hồi ký vẫn chƣa thực sự đƣợc quan tâm đúng với vai trò, vị trí của nó; chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện dƣới nhiều góc độ.
Khoảng trống này, xuất phát từ hai nguyên nhân. Một là, trƣớc giai đoạn đổi mới, thành tựu thể hồi ký không nhiều; số lƣợng tác giả tham gia thể hồi ký còn thƣa thớt, chƣa có nhiều thành tựu về nội dung và hình thức thể loại. Hai là, quan niệm hồi ký là thể loại ngoại biên văn học/ cận văn học vẫn còn chi phối một hƣớng phê bình nghiên cứu. Chính lí do đó đã khiến hồi ký chƣa đƣợc các tác giả và nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức.
Nhìn từ đặc trƣng thể loại, về mặt lý thuyết, hồi ký nhằm thông tin sự thật, đòi hỏi tính chân xác. Tuy vậy, tác phẩm hồi ký không chỉ chú ý đến việc chuyển tải thông tin mà còn đề cao đến chất lƣợng nội dung và nghệ thuật để hấp dẫn ngƣời đọc. Những tác phẩm hồi ký văn học từ sau 1985 ngoài việc cung cấp những lƣợng thông tin phong phú, đa chiều, còn đáp ứng đƣợc những khoái cảm thẩm mỹ trong tầm đón đợi của ngƣời đọc hiện đại. Sức hấp dẫn của những thiên hồi ký: Từ bến 2 sông Thương (1985), Hồi ký Song đôi (1986), Cát bụi chân ai (1990), Một thời để mất (1994), Tiếng chim tu hú (1995), Chiều chiều (1997), Rừng xưa xanh lá (1999), Nhớ lại một thời (2000), Rễ bèo chân sóng (2000), Hồi ký Quách Tấn (2003) , Bên dòng chia cắt (2002), Tầm xuân (2005), Cô bé nhìn mưa (2008), Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2009)… là ở mỹ cảm nghệ thuật, ở nội dung đa dạng, phong phú, hình thức thể hiện mới mẻ, và hơn hết là tấm lòng, trách nhiệm đối với cõi ngƣời, cõi nghề của nhà văn.
Với những cách tân đáng ghi nhận trong nghệ thuật tự sự và thi pháp thể loại, hồi ký văn học sau 1985 là những văn bản đa thanh, với các kết cấu lỏng; sự luân chuyển điểm nhìn trần thuật… Mặt khác, sự xâm nhập, dung hợp các thể loại trong hồi ký tạo nên sự hấp dẫn và hứng khởi với cộng đồng tiếp nhận, khơi gợi những định hƣớng tiếp cận dƣới góc nhìn khách quan, khoa học. Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Hình tƣợng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau năm 1985”, để thông qua chủ thể sáng tạo nhƣ là một kiểu nhân vật đặc trƣng của thể loại, từ đó nhận diện những bƣớc vận động, phát triển và khám phá tất cả những vấn đề liên quan thúc đẩy làm nên thành tựu của một giai đoạn văn học. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985 (n.d.) [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/hinh-tuong-tac-gia-trong-hoi-ky-van-hoc-viet-nam-sau-1985
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Khám phá hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985 qua góc nhìn văn hóa và xã hội. Phân tích xu hướng sáng tác độc đáo."
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" thuộc chuyên ngành Văn học. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" có 171 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam sau 1985" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.