Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về di sản kiến trúc truyền thống Việt Nam luôn đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều, tích hợp giữa hình thái học kiến trúc và phân tích mỹ thuật tạo hình. Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc của đình Cẩm Phô, đình Hội An và đình Sơn Phong (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng Tươi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Thanh Bình tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2022), chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật (Mã số: 9210101), đại diện cho một công trình tiên phong giải mã hệ thống biểu đạt tạo hình của không gian tín ngưỡng cộng đồng tại Đô thị cổ Hội An – Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO vinh danh năm 1999.

                  ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                  │    BỐI CẢNH ĐỊA - VĂN HÓA THƯƠNG CẢNG HỘI AN (TK XVI-XX)  │
                  └────────────────────────────┬────────────────────────────┘
                                               │
               ┌───────────────────────────────┴───────────────────────────────┐
               ▼                                                               ▼
┌──────────────────────────────┐                               ┌──────────────────────────────┐
│  MỸ THUẬT CUNG ĐÌNH NGUYỄN   │                               │    TIẾP BIẾN VĂN HÓA NGOẠI   │
│  - Bố cục ô hộc, đăng đối    │                               │    - Yếu tố Hoa (Minh Hương) │
│  - Kỹ thuật khảm sành sứ     │                               │    - Sắc màu tươi sáng       │
│  - Nghệ thuật nề vữa, nề họa │                               │    - Mô típ đầu bông trính   │
└──────────────┬───────────────┘                               └──────────────┬───────────────┘
               │                                                              │
               └───────────────────────────────┬──────────────────────────────┘
                                               │
                                               ▼
                  ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                  │ BẢN LĨNH NỘI SINH & TỰ NHIÊN DÂN GIAN BẢN ĐỊA NGƯỜI VIỆT│
                  │ - Đề tài bát quả, động vật mộc mạc, hoa báo bão         │
                  │ - Bố cục phá thế, xoay chiều linh hoạt                  │
                  └────────────────────────────┬────────────────────────────┘
                                               │
                                               ▼
                  ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                  │     ĐẶC TRƯNG MỸ THUẬT ĐÌNH LÀNG HỘI AN (ĐCP - ĐHA - ĐSP)│
                  │   (Cân bằng hài hòa giữa công năng, biểu tượng & thẩm mỹ) │
                  └─────────────────────────────────────────────────────────┘

Khoảng trống học thuật (research gap) mà luận án tập trung giải quyết xuất phát từ thực tế: mặc dù hệ thống kiến trúc đình làng Bắc Bộ đã được khảo cứu chuyên sâu qua nhiều công trình kinh điển (Trần Lâm Biền, 1998, 2001; Hà Văn Tấn & Nguyễn Văn Kự, 1998; Nguyễn Văn Cương, 2006), và khu phố cổ Hội An cũng được đánh giá phong phú dưới giác độ kiến trúc đô thị hay khảo cổ học (Kikuchi Seiichi, 2010; Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế & Đại học Nữ Chiêu Hòa, 2006; Tạ Thị Hoàng Vân, 2010), song mảng nghệ thuật trang trí trên kiến trúc (NTTTTKT) của hệ thống đình làng miền Trung, đặc biệt là trường hợp chuyên biệt của ba ngôi đình tiêu biểu tại Hội An, vẫn chưa được khảo tả và phân tích tạo hình một cách toàn diện, hệ thống. Trong tổng số hơn 20 ngôi đình làng và đình ấp hiện diện tại Hội An (gồm 14 đình làng chính danh), việc nghiên cứu sâu về cấu trúc mỹ thuật tạo hình của đình Cẩm Phô (ĐCP), đình Hội An (ĐHA) và đình Sơn Phong (ĐSP) giúp khỏa lấp khoảng trống lý thuyết về sự chuyển giao và thích ứng nghệ thuật trang trí từ cội nguồn Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ vào vùng đất Nam Trung Bộ.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác lập chặt chẽ:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Điều kiện văn hóa, địa lý và lịch sử của đô thị thương cảng Hội An tác động như thế nào đến sự hình thành diện mạo NTTTTKT của ĐCP, ĐHA và ĐSP?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Đặc trưng mỹ thuật của ĐCP, ĐHA và ĐSP biểu hiện thông qua hệ thống đề tài, đồ án trang trí, thủ pháp, ngôn ngữ tạo hình và chất liệu xây dựng như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Giá trị nghệ thuật cốt lõi của trang trí đình làng Hội An là gì và vai trò của chúng trong việc định hình thẩm mỹ thiết kế đương đại ra sao?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Không gian địa - văn hóa thương cảng cùng làn sóng di dân lịch sử từ Thanh - Nghệ Tĩnh tạo nên cơ chế dung hợp giữa quy chuẩn mỹ thuật thời Nguyễn với dấu ấn giao lưu tiếp biến văn hóa Trung Hoa, trong đó bản lĩnh nghệ thuật bản địa của người Việt giữ vai trò chủ đạo tái cấu trúc các yếu tố ngoại sinh.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Nghệ thuật tạo hình tại ba ngôi đình mang tính phức hợp cao, kết hợp giữa ngôn ngữ cách điệu kinh viện (bố cục ô hộc, đăng đối) với tư duy tả thực dân gian sinh động (đề tài hoa trái, sinh hoạt mộc mạc), vận dụng linh hoạt kỹ thuật khảm sành sứ, nề vữa, nề họa và chạm khắc gỗ.
  • Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Bản sắc mỹ thuật của hệ thống đình Hội An phản ánh sự cân bằng tối ưu giữa công năng kiến trúc và biểu tượng tín ngưỡng, xác lập nguồn tài nguyên thẩm mỹ giàu giá trị ứng dụng cho các chuyên ngành thiết kế không gian và giáo dục nghệ thuật hiện đại.

Phạm vi khảo sát của luận án bao quát 3 di tích lịch sử - kiến trúc đặc sắc trong diện tích đô thị cổ Hội An: ĐCP (nhắc đến từ năm 1553 trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, xếp hạng di tích quốc gia năm 1991, nằm trong danh mục 260 công trình kiến trúc cổ chuẩn mực được tuyển chọn từ 700 di tích khảo sát của Hội An), ĐHA (khởi lập thế kỷ XVII, đại trùng tu năm 1907 - Thành Thái Đinh Mùi và năm 1953 - Quý Tỵ), và ĐSP (tồn tại trên 300 năm, lưu giữ hoành phi niên hiệu Vĩnh Thịnh 1715 do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng, trùng tu lớn năm Bảo Đại thứ 19 và năm 1974).

Literature Review và Positioning

Khảo cứu lịch sử nghiên cứu cho thấy ngôi đình Việt Nam từng thu hút sự chú ý của giới học giả quốc tế từ thế kỷ XVII. Trong tác phẩm Histoire du Royaume de Tonquin (1636), giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã nhận định đình làng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng và không gian tín ngưỡng phổ quát nhất, nơi mà người dân tin rằng: "Tất cả sự thịnh vượng làm ăn, sự phì nhiêu của ruộng đồng và sức khỏe của dân làng và súc vật đều phụ thuộc vào vị Thành hoàng" [4, tr. 12]. Bước sang thế kỷ XX, các công trình phương Tây bắt đầu tiếp cận mỹ thuật bản địa: Léopold Michel Cadière với chuyên khảo L’Art à Hué (1919) đã xác lập chuẩn mực phân tích mỹ thuật tạo hình thời Nguyễn; Marcel Bernanose trong Les Arts décoratifs au Tonkin (1922) giải mã ý nghĩa biểu tượng của các mô típ hoa văn trang trí; và Louis Bezacier với L’art Vietnamien (1954) định vị đình làng vừa mang tính chất dân dụng công cộng, vừa mang tính chất tôn giáo thiêng liêng.

                               ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                               │                DÒNG CHẢY HỌC THUẬT QUỐC TẾ               │
                               │ - A. de Rhodes (1636): Chức năng trung tâm Thành hoàng  │
                               │ - L. Cadière (1919): Chuẩn mực mỹ thuật Cố đô Huế       │
                               │ - M. Bernanose (1922): Biểu tượng hoa văn trang trí     │
                               │ - L. Bezacier (1954): Hình thái kiến trúc lưỡng hợp     │
                               └────────────────────────────┬────────────────────────────┘
                                                            │
                                                            ▼
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│                                           TIẾP NỐI & TRANH BIỆN HỌC THUẬT TRONG NƯỚC                                   │
├───────────────────────────────────────────────────────────┬────────────────────────────────────────────────────────────┤
│           DÒNG ĐIÊU KHẮC DÂN GIAN BẮC BỘ                  │             DÒNG MỸ THUẬT CUNG ĐÌNH & HUẾ - XỨ QUẢNG       │
│ - Nguyễn Đỗ Cung (1962), Thái Bá Vân (1984)               │ - Nguyễn Phi Hoanh (1970), Phan Thanh Bình (2013, 2018)    │
│ - Trần Lâm Biền (1998, 2001), Hà Văn Tấn (1998)           │ - Nguyễn Hữu Thông (2001, 2019), Chu Quang Trứ (1991)      │
│ *Quan điểm: Coi trọng điêu khắc gỗ tự do, mộc mạc         │ *Quan điểm: Quy chuẩn cung đình, khảm sứ, nề vữa trang trọng│
└───────────────────────────────────────────────────────────┴────────────────────────────────────────────────────────────┘
                                                            │
                                                            ▼
                               ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                               │       KHOẢNG TRỐNG VÀ VỊ TRÍ HỌC THUẬT CỦA LUẬN ÁN      │
                               │  - Phân tích đa diện NTTTTKT Đô thị Cổ Hội An (ĐCP-ĐHA-ĐSP)│
                               │  - Giải mã cơ chế tiếp biến Việt - Hoa và dấu ấn Nguyễn │
                               │  - Tích hợp khung Địa - văn hóa & Hình thái kiến trúc 6S │
                               └─────────────────────────────────────────────────────────┘

Tại Việt Nam, dòng nghiên cứu mỹ thuật đình làng phát triển mạnh mẽ từ cột mốc thành lập Viện Mỹ thuật - Mỹ nghệ (1962) gắn với tên tuổi họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, tiếp nối bởi nhận định của Thái Bá Vân (1984) về "phong cách lãng mạn" khoáng đạt của điêu khắc gỗ dân gian. Các công trình của Trần Lâm Biền (1998, 2001) và Nguyễn Du Chi (2003) phân tích hệ thống hoa văn, họa tiết cổ, trong khi Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự (1998) hệ thống hóa cấu trúc kiến trúc của 62 ngôi đình trên toàn quốc. Đáng chú ý, các nghiên cứu chuyên sâu của Nguyễn Hữu Thông (2001, 2019) và Phan Thanh Bình (2013, 2018) đã phân lập các đặc trưng của mỹ thuật Nguyễn và nghệ thuật khảm sành sứ, nề họa tại miền Trung.

Trong bức tranh học thuật đó, tồn tại một cuộc tranh luận học thuật sâu sắc: một trường phái nhấn mạnh kiến trúc đình làng phải giữ nguyên vẹn cấu trúc điêu khắc gỗ mộc truyền thống như tại đồng bằng Bắc Bộ (châu thổ sông Hồng); trường phái thứ hai chỉ ra rằng đình làng miền Trung, do bối cảnh lịch sử xác lập muộn hơn (thế kỷ XVII - XIX) và chịu sự tương tác mạnh mẽ của văn hóa cung đình Huế cùng điều kiện khí hậu duyên hải, đã chuyển hóa phương thức biểu đạt sang nghệ thuật nề vữa và khảm sành sứ. Luận án của Nguyễn Thị Hồng Tươi định vị chính xác tại điểm giao thoa này: khẳng định ĐCP, ĐHA và ĐSP không phải là sự sao chép thụ động mô hình Bắc Bộ hay kinh thành Huế, mà là một cấu trúc thẩm mỹ độc lập – nơi diễn ra sự tiếp biến chọn lọc giữa văn hóa bản địa của di dân người Việt với cộng đồng cư dân Minh Hương (người Hoa) trong không gian thương cảng phồn vinh.

So sánh với hai nghiên cứu quốc tế tiêu biểu: khảo cứu của Marcel Bernanose (1922) tập trung chủ yếu vào kỹ nghệ chạm khắc gỗ và đồ đồng xứ Bắc Kỳ mang tính đơn văn hóa; ngược lại, nghiên cứu của Hayashi Hideaki & Phạm Đăng Nhật Thái (2018) khảo sát 22 ngôi đình tại Thừa Thiên Huế lại thuần túy nghiêng về kết cấu kỹ thuật gỗ. Luận án đã vượt lên giới hạn mô tả kỹ thuật thuần túy để xây dựng khung phân tích mỹ thuật học so sánh, chỉ ra cách thức các nghệ nhân Hội An tích hợp yếu tố nề họa, gốm sứ thương mại và điêu khắc gỗ để tạo nên ngôn ngữ tạo hình thích ứng đặc thù.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án có những đóng góp then chốt trong việc mở rộng và kiểm chứng các khung lý thuyết kinh điển khi áp dụng vào không gian nghệ thuật truyền thống:

  1. Lý thuyết Giao lưu và Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation): Mở rộng mô hình tiếp biến bốn nếp gấp (four-fold model) của J.W. Berry (1997) và quan điểm tiếp nhận sáng tạo ba mức độ của Trần Quốc Vượng (1996) vào vi mô cấu trúc trang trí kiến trúc. Luận án chứng minh rằng các yếu tố ngoại sinh (đồ án rồng mây Trung Hoa, thủ pháp màu sắc tươi sáng của người Hoa, cấu trúc ô hộc cung đình triều Nguyễn) khi thâm nhập vào không gian đình làng Hội An đã bị "khúc xạ" và tái cấu trúc bởi bản lĩnh nội sinh của người Việt. Các nghệ nhân bản địa tiếp nhận kỹ thuật đắp nổi nề vữa và khảm sành sứ nhưng đưa vào đó những đề tài dân dã, chất phác (bát quả, hoa báo bão, chim muông, đời sống thôn dã), biến các biểu tượng ngoại lai thành biểu tượng mang hồn cốt Việt.
  2. Lý thuyết Địa - văn hóa (Cultural Geography): Kế thừa quan điểm của Ngô Đức Thịnh (2004) về phân vùng văn hóa, luận án khẳng định tính quy định của địa bàn thương cảng ven biển đối với thị hiếu thẩm mỹ. Vị trí địa lý đón gió bão biển miền Trung thúc đẩy sự suy giảm của chạm khắc gỗ lộ thiên ngoại thất và nâng tầm kỹ nghệ nề vữa, khảm sành sứ dày dặn, bền vững trên bờ nóc, bờ dải, bờ hồi.
  3. Phá vỡ ranh giới nhị nguyên giữa "Mỹ thuật cao cấp" và "Nghệ thuật trang trí": Đối thoại với các luận điểm của D. Krohn (2000), Shang Gang (2000) và Natalia Kraevskaia (2000), luận án tái khẳng định trong tư duy thẩm mỹ Á Đông truyền thống, trang trí kiến trúc đình làng không phải là nghệ thuật thứ cấp (low art) phụ thuộc mà chính là phương tiện truyền tải thông điệp vũ trụ quan, triết lý âm dương và đạo lý uống nước nhớ nguồn của cộng đồng làng xã.
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│                       KHUNG PHÂN TÍCH TỔNG HỢP CỦA LUẬN ÁN                                     │
├────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT:                                                                         │
│    - Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (J.W. Berry, Trần Quốc Vượng)                                 │
│    - Lý thuyết Địa - văn hóa (Ngô Đức Thịnh)                                                   │
│    - Lý thuyết Hình thái học công trình 6S (Stewart Brand, 1995)                               │
├────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 2. MA TRẬN KHẢO TẢ VÀ GIẢI MÃ TẠO HÌNH:                                                        │
│    ┌──────────────┐     ┌──────────────┐     ┌──────────────┐     ┌────────────────────────┐   │
│    │   ĐỀ TÀI     │ ──► │    ĐỒ ÁN     │ ──► │  THỦ PHÁP    │ ──► │   NGÔN NGỮ TẠO HÌNH    │   │
│    │  TRANG TRÍ   │     │  TRANG TRÍ   │     │   TẠO HÌNH   │     │      & CHẤT LIỆU       │   │
│    ├──────────────┤     ├──────────────┤     ├──────────────┤     ├────────────────────────┤   │
│    │- Thực vật    │     │- Ngoại thất: │     │- Tả thực     │     │- Đường nét, mảng khối  │   │
│    │  (tứ quý,    │     │  bờ nóc, bờ  │     │- Cách điệu   │     │- Bố cục: đăng đối,     │   │
│    │  bát quả)    │     │  hồi, bờ dải │     │- Kiểu thức   │     │  ô hộc, phá thế,       │   │
│    │- Linh thú,   │     │- Nội thất:   │     │  hóa         │     │  xoay chiều            │   │
│    │  động vật    │     │  bộ vì, trính│     │- Đắp nổi,    │     │- Nề vữa, nề họa,       │   │
│    │  dân gian    │     │  khảm sành   │     │  chạm trổ    │     │  khảm sứ, chạm gỗ      │   │
│    └──────────────┘     └──────────────┘     └──────────────┘     └────────────────────────┘   │
├────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 3. ĐẦU RA KHOA HỌC:                                                                            │
│    - Xác lập diện mạo mỹ thuật đặc trưng của 3 ngôi đình tiêu biểu (ĐCP, ĐHA, ĐSP).            │
│    - Chứng minh sự cân bằng tối ưu giữa bảo lưu bản sắc nội sinh & dung hợp yếu tố ngoại sinh.  │
└────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án kết hợp mô hình 6 lớp cấu trúc công trình (6S framework: Site, Structure, Skin, Space, Service, Stuff) của Stewart Brand (1995) với phương pháp phân tích hình tượng học mỹ thuật:

  • Tầng vỏ công trình (Skin): Tập trung vào bờ nóc, bờ hồi, bờ dải, tam quan, bình phong – nơi ngự trị của các đồ án khảm sành sứ lưỡng long chầu nhật, phụng vũ, tứ linh, mang chức năng xác lập tính thiêng và chống chịu thời tiết.
  • Tầng kết cấu và không gian (Structure & Space): Đi sâu vào hệ thống vì kèo nhà rường (loại một căn hai chái / ba căn hai chái), khảo sát các cấu kiện gỗ nội thất như đầu trính, bông trính, con ke, xà cò, đầu dư.
  • Tầng trang thiết bị và đồ thờ (Stuff): Phân tích hệ thống hoành phi, liễn đối, bài vị thờ thần Thành hoàng và các bậc tiền hiền.

Ma trận phân tích được triển khai xuyên suốt theo 4 trục: Đề tài trang trí $\rightarrow$ Đồ án bố cục $\rightarrow$ Thủ pháp tạo hình $\rightarrow$ Chất liệu biểu đạt.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng lập trường nhận thức luận thực chứng diễn giải (interpretivism) kết hợp với chủ nghĩa hiện thực phản tư văn hóa (cultural realism). Thiết kế nghiên cứu theo hướng liên ngành (interdisciplinary), tổng hòa phương pháp của lịch sử mỹ thuật, hình thái học kiến trúc, nhân học văn hóa và địa - văn hóa học.

Mẫu khảo sát gồm 3 ngôi đình đại diện ưu tú nhất trong tổng số 14 đình làng tại Hội An:

  • Đình Cẩm Phô (ĐCP): Đại diện cho phong cách cổ kính, mẫu mực, sở hữu hệ thống con giống và đồ án trang trí tinh xảo bậc nhất.
  • Đình Hội An (ĐHA): Nằm tại trung tâm thương cảng lịch sử, minh chứng rõ rệt nhất cho sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa qua màu sắc rực rỡ và mô típ bông trính chạm hoa sen cách điệu.
  • Đình Sơn Phong (ĐSP): Tiêu biểu cho dấu ấn mỹ thuật thời Nguyễn với lịch sử trên 300 năm, bảo lưu nhiều mảng chạm khắc gỗ kinh viện và đồ án nề vữa đăng đối.
                               ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                               │               QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH           │
                               └────────────────────────────┬────────────────────────────┘
                                                            │
               ┌────────────────────────────────────────────┼────────────────────────────────────────────┐
               ▼                                            ▼                                            ▼
┌──────────────────────────────┐             ┌──────────────────────────────┐             ┌──────────────────────────────┐
│     KHẢO SÁT ĐIỀN DÃ         │             │      ĐO ĐẠC & ĐẠC HỌA        │             │      PHỎNG VẤN CHUYÊN SÂU    │
│ - Quan sát trực tiếp hiện    │             │ - Vẽ ghi kiến trúc, đạc họa  │             │ - Nghệ nhân phục chế         │
│   trạng tại ĐCP, ĐHA, ĐSP    │             │   chi tiết hoa văn           │             │ - Chuyên gia TTQLBT Hội An   │
│ - Chụp ảnh tư liệu phân giải │             │ - Hệ thống hóa 120 trang bản │             │ - Nhà nghiên cứu văn hóa,    │
│   cao toàn bộ cấu kiện       │             │   vẽ và hồ sơ phụ lục        │             │   giảng viên mỹ thuật        │
└──────────────┬───────────────┘             └──────────────┬───────────────┘             └──────────────┬───────────────┘
               │                                            │                                            │
               └────────────────────────────────────────────┼────────────────────────────────────────────┘
                                                            │
                                                            ▼
                               ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
                               │           TAM GIÁC HÓA DỮ LIỆU & PHÂN TÍCH SO SÁNH      │
                               │ - Đối chiếu văn bản lịch sử (Ô Châu Cận Lục, Lý lịch DT)│
                               │ - So sánh hình thái: Bắc Bộ - Cung đình Huế - Hội An    │
                               │ - Đánh giá độ tin cậy qua kiểm chứng chuyên gia         │
                               └─────────────────────────────────────────────────────────┘

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt qua 4 bước:

  1. Khảo sát điền dã và ghi nhận hình ảnh: Chụp ảnh tư liệu độ phân giải cao toàn bộ các mảng trang trí ngoại thất và nội thất; lập danh mục kiểm kê chi tiết từng cấu kiện chạm khắc gỗ và đắp nổi nề vữa.
  2. Đo đạc và đạc họa kiến trúc: Phối hợp với Trung tâm học tập gắn kết cộng đồng - Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng (CEL - DAU) và Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (TTQLBT) tiến hành vẽ ghi kiến trúc, đạc họa chính xác các cấu kiện: đầu trính, bông trính, con ke, bờ nóc, bờ hồi với 120 trang bản vẽ phụ lục khoa học.
  3. Phỏng vấn sâu chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn định tính bán cấu trúc đối với các nhà nghiên cứu mỹ thuật, cán bộ quản lý di sản tại Hội An, nghệ nhân làng mộc Kim Bồng và nghệ nhân nề ngoã gốm sứ Thanh Hà.
  4. Tam giác hóa dữ liệu (Triangulation): Kết hợp tam giác hóa nguồn dữ liệu (tư liệu thành văn cổ như Ô Châu Cận Lục [1553], Phủ biên tạp lục [1776], hồ sơ lý lịch di tích năm 2020 của TTQLBT với dữ liệu điền dã thực địa), tam giác hóa lý thuyết (kết hợp lý thuyết tiếp biến văn hóa và địa - văn hóa) và tam giác hóa điều tra viên nhằm đảm bảo tính giá trị (construct validity) và độ tin cậy tuyệt đối của các kết luận.

Data và phân tích

Dữ liệu được phân loại theo ma trận định tính và định lượng hình thái:

  • Phân tích thống kê tần suất xuất hiện của các nhóm đề tài: Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Tứ thời (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bát quả (Đào, Lựu, Phật thủ, Na, Nho...), động vật dân dã (Sóc, Vịt, Voi, Gà...).
  • Phân tích so sánh hình thái học (morphological analysis) giữa hoa văn trang trí đình làng Hội An với hoa văn cung đình Huế (qua tư liệu L. Cadière [1919], Phan Thanh Bình [2013]) và đình làng Bắc Bộ (qua tư liệu Trần Lâm Biền [2001], Viện Bảo tồn di tích [2018]).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án xác lập 4 phát hiện đột phá mang tính hệ thống về mỹ thuật trang trí kiến trúc đình làng Hội An:

┌──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│                         BỐN PHÁT HIỆN ĐỘT PHÁ CỦA NGHIÊN CỨU                                             │
├──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1. TỔNG HÒA "KINH VIỆN TRIỀU NGUYỄN" VÀ "TẢ THỰC DÂN GIAN"                                               │
│    Bên cạnh đồ án tứ linh, tứ thời kinh điển là sự xuất hiện dày đặc của hình tượng dân dã: hoa báo bão, │
│    quả na, trái phật thủ, chim muông thôn dã, phản ánh tâm thức mộc mạc của cư dân khai phá Đàng Trong.│
├──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 2. TIẾP BIẾN VIỆT - HOA VỚI TÍNH CHỦ THỂ BẢN ĐỊA                                                         │
│    Sự dung nạp các yếu tố trang trí của người Hoa Minh Hương (mô típ bông trính sen, mắt cửa bảo hộ,    │
│    gam màu tươi sáng tương phản) được sắp đặt hài hòa trong khung kết cấu nhà rường truyền thống Việt.  │
├──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 3. ĐỈNH CAO KỸ NGHỆ NGOẠI THẤT NỀ VỮA & KHẢM SÀNH SỨ                                                     │
│    Chuyển dịch trọng tâm trang trí ngoại thất từ chạm khắc gỗ sang đắp nổi nề vữa và khảm gốm sứ men màu,│
│    vừa tạo hiệu ứng thị giác lung linh, vừa thích ứng hoàn hảo với khí hậu mưa bão ven biển miền Trung. │
├──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 4. THỦ PHÁP "PHÁ THẾ" VÀ "XOAY CHIỀU" TRONG TẠO HÌNH                                                     │
│    Phá vỡ sự đơn điệu của các trục đăng đối kinh điển bằng các đường lượn mềm mại, mảng khối bất đối     │
│    xứng giàu nhịp điệu trên bờ nóc và con ke gỗ.                                                         │
└──────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
  1. Sự kết hợp độc đáo giữa tính quy chuẩn kinh viện thời Nguyễn và tinh thần tả thực dân gian: Luận án phát hiện trang trí tại ĐCP, ĐHA và ĐSP tuân thủ chặt chẽ bố cục ô hộc và tính đăng đối của mỹ thuật thời Nguyễn, nhưng nội dung bên trong lại giải phóng hoàn toàn sự gò bó bằng việc đưa vào các hình tượng đời thường như na, chuối, lựu, phật thủ, sóc ngậm nho, chim vịt bơi lội, và đặc biệt là hoa báo bão – loài hoa gắn liền với tri thức dân gian dự báo thời tiết của cư dân miền biển.
  2. Cơ chế tiếp biến văn hóa Việt - Hoa mang tính chủ động cao: Tại ĐHA và ĐCP, dấu ấn giao lưu với cộng đồng người Hoa Minh Hương thể hiện rõ qua kỹ thuật chạm khắc đầu bông trính hình hoa sen nhiều lớp nở rộ, mắt cửa hình bát quái/hoa cúc, cùng việc sử dụng các mảng màu sơn son thếp vàng tươi sáng tương phản với sắc trầm ấm của gỗ lim, kiền kiền. Tuy nhiên, các yếu tố này không lấn át mà hòa nhập hữu cơ vào cấu trúc khung gỗ nhà rường truyền thống của người Việt.
  3. Sự trỗi dậy của chất liệu nề vữa và khảm sành sứ ngoại thất: Khác biệt với đình làng Bắc Bộ vốn chuộng chạm khắc gỗ trần trên các cấu kiện hiên, đình làng Hội An tập trung năng lượng thẩm mỹ ngoại thất vào nghệ thuật đắp nổi nề vữa và gắn mảnh gốm sứ thương mại trên bờ nóc, bờ hồi, bờ dải. Kỹ thuật này vừa tạo nên độ bền vững trước thời tiết bão gió duyên hải nhiệt đới, vừa phản ánh sự phồn vinh của một thương cảng gốm sứ quốc tế.
  4. Thủ pháp tạo hình "phá thế" và "xoay chiều" linh hoạt: Bên cạnh các bố cục cân đối đăng đối trục giữa, các nghệ nhân xưa đã tài tình sử dụng thủ pháp phá thế – dùng các đường nét mây cuộn uốn lượn, cành lá cách điệu bất đối xứng để triệt tiêu cảm giác nặng nề của khối kiến trúc, tạo nên nhịp điệu thị giác thanh thoát, phóng khoáng.

NNC Trần Lâm Biền từng khẳng định tính phương pháp luận cốt lõi: "Nghiên cứu truyền thống văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói chung, đình làng nói riêng, trên cơ sở quy luật lịch sử và sự tiếp biến văn hóa chúng ta sẽ loại bỏ dần những nhận định chưa khách quan nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [15, tr. 17]. Phát hiện của luận án chứng minh sinh động luận điểm này trên cứ liệu thực tế của ba ngôi đình Hội An.

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật và lý thuyết: Xác lập khung khái niệm hoàn chỉnh về "phong cách trang trí đình làng thương cảng miền Trung", bổ sung mắt xích quan trọng kết nối mỹ thuật dân gian Bắc Bộ với mỹ thuật cung đình Huế và mỹ thuật Nam Bộ.
  • Về phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ khảo tả, đạc họa mỹ thuật chuẩn hóa, có thể chuyển giao ứng dụng để nghiên cứu hệ thống đình làng trên toàn dải đất duyên hải miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định).
  • Về thực tiễn bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy (bản vẽ kỹ thuật, bảng mã màu, danh mục họa tiết) phục vụ công tác trùng tu, phục chế chuẩn xác các di tích thuộc quần thể Di sản Văn hóa Thế giới Đô thị cổ Hội An do Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An chủ trì, ngăn ngừa nguy cơ làm sai lệch yếu tố gốc.
  • Về ứng dụng thiết kế đương đại và giáo dục: Đưa hệ thống hoa văn, đồ án bát quả, tứ thời, con giống nề vữa vào chương trình đào tạo các chuyên ngành Thiết kế đồ họa, Thiết kế nội thất, Kiến trúc cảnh quan và Mỹ thuật ứng dụng tại các trường đại học, thúc đẩy xu hướng thiết kế bản địa hóa (vernacular design) trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Sự biến đổi qua các niên đại trùng tu: Do ĐCP, ĐHA và ĐSP đã trải qua nhiều đợt tu bổ lớn trong lịch sử (như ĐHA tu sửa năm 1907, 1953; ĐSP sửa chữa năm 1974), một số chi tiết nề vữa và mảng màu hiện hữu mang dấu ấn của kỹ thuật và vật liệu thế kỷ XX, gây khó khăn cho việc bóc tách chính xác các lớp trang trí nguyên bản thế kỷ XVII - XVIII.
  2. Quy mô mẫu khảo sát chuyên sâu: Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích sâu 3 ngôi đình làng tiêu biểu nhất. Hệ thống các đình làng ngoại vi và đình ấp còn lại tại Hội An (như đình Cẩm Phô Ấp, đình Sơn Phong Ấp, đình Xuân Mỹ...) chưa được khảo sát tương đương.
  3. Giới hạn phân tích hóa nghiệm vật liệu: Luận án chủ yếu tiếp cận dưới giác độ mỹ thuật học và hình thái học tạo hình; chưa thực hiện các phân tích hóa lý chuyên sâu (như định tuổi carbon C14 mẫu gỗ, quang phổ thành phần chất kết dính vôi hàu - mật mía).

Chương trình nghiên cứu tương lai (5-10 năm tới) đề xuất 4 hướng triển khai:

  • Hướng 1: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh toàn diện 14 ngôi đình làng trên toàn địa bàn thành phố Hội An và vùng phụ cận hạ lưu sông Thu Bồn.
  • Hướng 2: Ứng dụng công nghệ quét 3D Laser Scanning và mô hình hóa thông tin di sản (HBIM - Heritage Building Information Modeling) để số hóa lưu trữ toàn bộ các đồ án chạm khắc và nề vữa.
  • Hướng 3: Khảo cứu liên văn hóa so sánh nghệ thuật trang trí đình làng người Việt tại Hội An với các hội quán người Hoa (Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông) và kiến trúc truyền thống Nhật Bản trong cùng không gian đô thị cổ.
  • Hướng 4: Nghiên cứu vật liệu học di sản nhằm tái lập công thức vữa vôi vỏ sò cổ truyền pha mật mía phục vụ công tác trùng tu đạt chuẩn quốc tế.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra tác động đa tầng đối với khoa học, công nghiệp sáng tạo và chính sách:

  • Tác động học thuật: Dự báo trở thành tài liệu tham khảo cốt lõi cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Kiến trúc cổ và Di sản học; đóng góp đáng kể vào chỉ số trích dẫn của các công trình nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
  • Tác động quản lý di sản và chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho UBND thành phố Hội An và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam trong việc xây dựng hồ sơ quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di tích kiến trúc tín ngưỡng làng xã trong lòng đô thị di sản.
  • Tác động kinh tế và du lịch bền vững: Định vị hệ thống đình làng trở thành các điểm đến văn hóa chiều sâu, giảm tải áp lực du khách cho vùng lõi phố cổ, đa dạng hóa sản phẩm du lịch di sản văn hóa.
  • Tác động công nghiệp văn hóa: Cung cấp nguồn tư liệu hoa văn nguồn mở phong phú cho các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ, gốm sứ Thanh Hà, mộc mỹ nghệ Kim Bồng và các nhà thiết kế thời trang, nội thất đương đại.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Tiếp cận phương pháp luận liên ngành mẫu mực, hệ thống khái niệm chuẩn hóa và khung phân tích hình thái học mỹ thuật truyền thống.
  • Giới học giả và giảng viên mỹ thuật - kiến trúc: Nguồn tư liệu trực quan với 120 trang bản vẽ đạc họa chi tiết, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy lịch sử mỹ thuật Việt Nam và tạo hình truyền thống.
  • Kiến trúc sư và chuyên gia bảo tồn di tích: Bộ cẩm nang quy chuẩn về thức kiến trúc, tỷ lệ đồ án, cấu trúc vì kèo và kỹ thuật đắp nổi nề vữa khảm sành sứ để ứng dụng trực tiếp trong các dự án tu bổ di sản.
  • Nhà thiết kế và doanh nghiệp sáng tạo: Khai thác kho tàng họa tiết bản địa đặc sắc (bát quả, hoa báo bão, rồng phụng thời Nguyễn) để ứng dụng vào bao bì sản phẩm, nhận diện thương hiệu, thời trang và không gian nội thất mang đậm bản sắc Việt.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng và phát triển Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (J.W. Berry, Trần Quốc Vượng) vào không gian trang trí kiến trúc vi mô. Luận án chứng minh thuyết phục rằng quá trình giao lưu văn hóa tại thương cảng Hội An không dẫn đến sự đồng hóa hay lai căng nghệ thuật, mà ngược lại, kích hoạt cơ chế chọn lọc và tái cấu trúc sáng tạo của người Việt: tiếp thu kỹ thuật khảm sành sứ, nề vữa và bảng màu rực rỡ của người Hoa/mỹ thuật Nguyễn nhưng lồng ghép nội dung tâm thức dân gian bản địa thuần khiết.

2. Điểm cách tân về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì? So với nghiên cứu của Marcel Bernanose (1922) thuần túy khảo tả hay Hayashi Hideaki & Phạm Đăng Nhật Thái (2018) thuần túy kiến trúc kỹ thuật, luận án đã cách tân bằng việc tích hợp phương pháp đạc họa mỹ thuật đo đạc chuẩn xác với phân tích biểu tượng học văn hóa và phỏng vấn sâu chuyên gia di sản, kết hợp kiểm chứng đa giác hóa dữ liệu qua hồ sơ lý lịch di tích lưu trữ.

3. Phát hiện nào trong dữ liệu khảo sát mang tính bất ngờ nhất? Phát hiện bất ngờ nhất là sự xuất hiện phổ biến và trang trọng của mô típ hoa báo bão cùng các loài hoa quả dân dã (na, lựu, phật thủ, chuối) trên các mảng trang trí nội thất của ngôi đình – nơi vốn đòi hỏi tính trang nghiêm quy phạm. Điều này phản ánh tư duy mỹ cảm thực tế, gắn bó máu thịt với đời sống tự nhiên của cư dân thương cảng miền Trung.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập (replication protocol) cho các nghiên cứu khác không? Có. Toàn bộ quy trình từ tiêu chí phân loại mẫu khảo sát, ma trận giải mã đồ án 4 bước (Đề tài - Đồ án - Thủ pháp - Chất liệu) cùng 120 trang bản vẽ đạc họa và bảng tra cứu thuật ngữ chuyên ngành được chuẩn hóa chi tiết trong phần phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng nguyên vẹn để khảo sát các hệ thống đình làng khác tại miền Trung và Nam Bộ.

5. Luận án đã phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào? Chương trình 10 năm được định hình rõ nét qua 4 mũi nhọn: mở rộng diện khảo sát liên vùng toàn bộ lưu vực sông Thu Bồn; số hóa di sản bằng công nghệ quét 3D Laser Scanning và HBIM; nghiên cứu so sánh liên văn hóa Việt - Hoa - Nhật trong kiến trúc thương cảng; và phân tích hóa lý vật liệu vôi hàu cổ truyền phục vụ bảo tồn bền vững.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hồng Tươi đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa toàn diện diện mạo mỹ thuật: Khảo tả, đạc họa và phân loại khoa học toàn bộ hệ thống đề tài, đồ án, thủ pháp tạo hình và chất liệu trang trí trên kiến trúc của đình Cẩm Phô, đình Hội An và đình Sơn Phong.
  2. Khẳng định bản sắc thẩm mỹ độc lập: Chứng minh NTTTTKT đình làng Hội An là sự dung hợp đỉnh cao giữa dấu ấn cung đình thời Nguyễn, sự tiếp biến văn hóa Trung Hoa và tinh thần nghệ thuật dân gian bản địa của người Việt di dân.
  3. Làm rõ tính thích ứng của kỹ nghệ trang trí: Luận giải sự chuyển dịch sang nghệ thuật nề vữa và khảm sành sứ ngoại thất như một giải pháp lưỡng dụng hoàn hảo: vừa đạt giá trị thẩm mỹ rực rỡ, vừa thích ứng tối ưu với môi trường khí hậu duyên hải miền Trung.
  4. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới: Đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp nối về địa - mỹ thuật học, nhân học không gian và bảo tồn số hóa di sản kiến trúc gỗ truyền thống.
  5. Đóng góp di sản thực tiễn lâu dài: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác cho công tác trùng tu Di sản Văn hóa Thế giới Hội An và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho ngành thiết kế ứng dụng đương đại mang bản sắc văn hóa dân tộc.

Như NNC mỹ thuật Nguyễn Hữu Thông từng đúc kết: "Trang trí là phương diện chủ yếu để tô điểm các công trình kiến trúc từ ngoại diện đến nội thất…" [88, tr. 36], công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Tươi không chỉ làm rạng rỡ những giá trị tạo hình ẩn sâu nơi mái đình cổ kính của Hội An mà còn xác lập một di sản học thuật chuẩn mực, trường tồn cùng dòng chảy văn hóa nghệ thuật dân tộc.